Quyền con người và việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người theo Hiến pháp năm 2013

01/06/2015

GS,TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Đại học Quốc gia Hà Nội

 
1. Nội dung các quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013  
So với các Hiến pháp trước đây, nhất là với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp năm 2013 cô đọng hơn, chỉ gồm 120 điều, 11 chương và Lời nói đầu. Mặc dù ngắn gọn như vậy, nhưng Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới căn bản, nhất là những quy định về quyền con người và quyền công dân.
Từ vị trí thứ năm, Chương Quyền công dân của Hiến pháp năm 1992 được chuyển lên vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện sự quan tâm vượt bậc, cũng như nhận thức của các nhà lập hiến Việt Nam về tầm quan trọng của quyền con người và quyền công dân.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về Quyền con người và quyền công dân đã được tham khảo, đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn của các quy định nhân quyền của các Công ước quốc tế, mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
  Đi sâu hơn vào nội dung Chương II, có thể thấy Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi cụ thể như sau:
            - Không còn đồng nhất “quyền con người” với “quyền công dân” như ở Điều 50 Hiến pháp năm 1992, mà sử dụng khá hợp lý hai thuật ngữ này cho từng lĩnh vực cụ thể khi Hiến pháp quy định các quyền/tự do của cá nhân có quốc tịch Việt Nam - công dân và cá nhân không có quốc tịch Việt Nam - quyền con người. Bên cạnh đó, trong Hiến pháp năm 2013, nhiều khi vẫn cần thiết quy định có sự phân biệt giữa quyền con người và quyền công và ngược lại, nhiều khi lại không phân biệt giữa chúng.
   - Đã thay đổi, tuy chưa triệt để về cách thức hiến định về các quyền con người, từ công thức Nhà nước “quyết định”, “trao” quyền cho người dân sang công thức các quyền của con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải ghi nhận, phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện cho tất cả mọi người, mọi công dân, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính ...  
            - Ghi nhận cả ba nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.
            - Ghi nhận một số quyền mới bao gồm: quyền sống; các quyền về văn hóa; quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác.
            - Đã củng cố hầu hết các quyền hiện có (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật; Cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục; Bảo vệ đời tư; Tiếp cận thông tin; Tham gia quản lý nhà nước và xã hội; Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân; Xét xử công bằng; Tư hữu tài sản; An sinh xã hội; Nơi ở hợp pháp ...
            - Bổ sung một nguyên tắc hiến định, đó là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa các cơ quan nhà nước tùy tiện giải thích và hạn chế các quyền hiến định, bởi nó nêu rõ những lý do có thể được sử dụng để hạn chế quyền, cùng với việc giới hạn chủ thể duy nhất là Quốc hội mới có thể quyết định việc này (bằng luật), chứ không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào (bằng pháp luật).   
 Những thay đổi trên khiến cho chế định này của Hiến pháp phù hợp hơn với nội dung của các Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên, cũng như với chế định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp các nước dân chủ. Phần lớn những thay đổi trên nhằm khắc phục những hạn chế của Chương V Hiến pháp năm 1992, và các Hiến pháp trước đây đã khiến các quy định về quyền con người, quyền công dân trở thành hình thức.
Với cách tiếp cận này, các quy định về quyền con người và quyền công dân ở Chương 2 Hiến pháp năm 2013 hứa hẹn các quyền hiến định sẽ được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm đúng đắn, hiệu quả hơn trong thực tế. Quyền lực nhà nước có cơ sở hiến định cho việc hạn chế, để bảo vệ quyền con người của người dân.
Mặc dù có những điểm tích cực như đã nêu, nhưng so với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, Hiến pháp năm 2013 vẫn còn một số nội dung mà trong quá trình triển khai thực hiện cần phải có những biện pháp để đảm bảo tính hiệu quả. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định về việc hạn chế quyền con người:“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”.
Hiến định nguyên tắc này đã thể hiện một bước tiến gần đến chuẩn mực của các bộ luật quốc tế về quyền con người và các hiến pháp tiến bộ trên thế giới. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu[1], đã quy định nguyên tắc này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”. Nhưng trong khi đề cập đến vấn đề hạn chế thực hiện quyền, quy định của Hiến pháp năm 2013 nêu trên đã không kèm theo những ngoại trừ với các quyền tuyệt đối (non-derogable rights) mà theo luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia không được phép giới hạn hay đình chỉ thực hiện trong bất kỳ bối cảnh nào. Đó là các quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay nhục hình; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch; quyền được suy đoán vô tội; quyền được thừa nhận tư cách thể nhân trước pháp luật và quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo[2]. Thiếu sót này vô hình trung có thể sẽ tạo cơ sở cho việc lợi dụng quy định về tình trạng khẩn cấp để vi phạm các quyền tuyệt đối.  
  Thứ hai, khoản 2 Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”thực sự không cần thiết, vì khái niệm “lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, lợi ích hợp pháp của người khác” quá rộng và mơ hồ, tiềm ẩn nguy cơ quy định này bị lạm dụng, lợi dụng để vi phạm các quyền hiến định. Hơn nữa, việc xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, cũng như quyền, lợi ích của người khác đều đã được quy định rõ ràng và cụ thể trong các chương, điều luật của Bộ luật Hình sự như: Chương XI Các tội xâm phạm An ninh quốc gia, Chương XII, Chương XIII, Chương IV về các tội xâm phạm các quyền tự do, dân chủ, tính mạng sức khỏe của người dân…, mà không cần thiết quy định ở một điều chung trong Hiến pháp.
Thứ ba, một trong những tiến bộ nổi bật của Hiến pháp mới là chuyển đổi đại từ nhân xưng chỉ chủ thể quyền từ “công dân” sang “mọi người” (hoặc “không ai”) trong nhiều điều khoản của Chương II. Điều này phù hợp với bản chất của các quyền liên quan và tạo điều kiện để thực thi các quyền đó trên thực tế. Mặc dù vậy, vẫn còn một số quyền và tự do cần được áp dụng với tất cả mọi người nhưng hiện vẫn chỉ được quy định dành cho công dân, bao gồm: Tự do đi lại, cư trú (Điều 23); Tự do biểu đạt, lập hội, hội họp, biểu tình (Điều 25); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền được quyết định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ (Điều 42) … Việc giới hạn chủ thể quyền chỉ là công dân với những quyền và tự do này là chưa phù hợp với luật nhân quyền quốc tế và có thể bị coi là sự phân biệt đối xử với người nước ngoài sinh sống hợp pháp ở Việt Nam. Ví dụ, xét về quyền tự do đi lại, cư trú, Điều 12(1) ICCPR quy định rằng: “Bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó”.  Như vậy, việc chỉ quy định “công dân có quyền tự do đi lại, tự do cư trú” rõ ràng không phù hợp với Điều 12 ICCPR. Tương tự, khi quy định về các tự do biểu đạt, lập hội, hội họp, biểu tình, quyền của các nhóm thiểu số được giữ gìn bản sắc của mình (các Điều 19, 21, 22, 27 ICCPR), quyền có mức sống thích đáng (bao gồm nơi ở); quyền được giáo dục (các Điều 11, 13 ICESCR[3]), các Công ước này đều sử dụng đại từ nhân xưng “mọi người” để chỉ chủ thể quyền, hoặc sử dụng cách diễn đạt để hàm ý rằng những quyền này không chỉ áp dụng với công dân ở một quốc gia.
   Thứ , quy định thiếu một số quyền và tự do quan trọng.Là thành viên của cả hai công ước ICCPR và ICESCR từ đầu thập kỷ 1980, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ “những chuẩn mực nhân quyền quốc tế tối thiểu” được ghi nhận trong hai công ước này, mà đầu tiên là phải “nội luật hóa” vào hiến pháp. Mặc dù vậy, cho đến nay, Hiến pháp vẫn thiếu vắng một số quyền và tự do quan trọng được nhấn mạnh trong hai công ước đã nêu, bao gồm: Quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (ICCPR: Điều 8); Quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (ICCPR: Điều 11); Quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (ICCPR: Điều 16); Quyền đình công (ICECSR: Điều 8.1); Quyền thành lập, gia nhập công đoàn (ICCPR: Điều 22, ICESCR: Điều 8.1); Tự do tư tưởng (ICCPR: Điều 18.1); Quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (ICCPR: Điều 19.1).
2. Bảo đảm các quyền hiến định
Theo nhận thức chung, để bảo đảm nhân quyền, các nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (obligation to respect): Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp hoặc gián tiếp, vào việc hưởng thụ các quyền con người đã được ghi nhận trong pháp luật. Đây được coi là một nghĩa vụ thụ động(negative obligation) bởi lẽ không đòi hỏi các nhà nước phải chủ động đưa ra những sáng kiến, biện pháp hay chương trình nhằm hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ các quyền.
Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect): Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền của các bên thứ ba. Đây được coi là một nghĩa vụ chủ động (positive obligation) bởi để ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền của các bên thứ ba, các nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng các cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm.  
Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện (obligation to fulfil [4]): Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người. Đây cũng được coi là nghĩa vụ chủ động, bởi nó yêu cầu các nhà nước phải có những kế hoạch, chương trình cụ thể để bảo đảm cho mọi công dân được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người.
Ngoài ra, liên quan đến bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, người ta còn đề cập đến các khái niệm nghĩa vụ tổ chức (obligation of conduct)nghĩa vụ đạt được kết quả (obligation of result). Nghĩa vụ tổ chức được hiểu là việc các quốc gia phải thực hiện trên thực tế các biện pháp cụ thể để bảo đảm thực thi các quyền, ví dụ như để cấm lao động cưỡng bức, đưa ra các chương trình chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hay bảo đảm giáo dục tiểu học miễn phí cho mọi trẻ em ... Nghĩa vụ đạt được kết quả đề cập tới yêu cầu với các quốc gia phải bảo đảm rằng những biện pháp và hoạt động đề ra phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải chúng được xây dựng một cách hình thức.
Bất kể quyền nào của người dân được quy định trong Hiến pháp, nhà nước, thông qua các cơ quan của mình, đều có ba nghĩa vụ tương ứng như phân tích trên. Ví dụ, Hiến pháp quy định quyền bất khả xâm phạm nơi cư trú, nhà ở như sau: “1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp. 2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. 3. Việc khám xét chỗ ở do luật định”.
Nhà nước, với nghĩa vụ thứ nhất thông qua các cơ quan, các cá nhân thi hành công vụ của nhà nước phải tôn trọng nhà ở của người dân; Nhà nước có nghĩa vụ thứ hai phải bảo vệ khỏi sự xâm phạm bất hợp pháp của người khác vào nhà ở của người dân. Nghĩa vụ thứ ba của nhà nước là có trách nhiệm tạo cơ hội để người dân có thể nâng cấp, cải thiện chỗ ở của người dân, như cải thiện những khu nhà ở chật hẹp, không đảm bảo đời sống của người dân.
 Hiến pháp có hai đối tượng cần phải điều chỉnh có vẻ rất khác nhau: nhân quyền và phân quyền, mà chúng gọi là quyền con người và phân công, phân nhiệm. Đây cũng là nguyên nhân gây lên sự chia rẽ giữa những “55 người con thánh thần” tại Hội nghị Lập hiến nước Mỹ - theo cách gọi có tính ngợi ca và thán phục của Th. Jerfferson - thành hai phe: những người liên bang và những người chống đối liên bang. Một phe cho rằng, chỉ cần có phân quyền là vừa đủ cho một bản Hiến pháp, phe kia thì nhất quyết không tin vào cái ảo thuật phân quyền, theo cách dùng ngôn từ như trò xiếc leo dây, mà phải có nhân quyền. Cuối cùng, với sự cố gắng của J. Madison, người mà sau này được mệnh danh là “Cha đẻ của Hiến pháp Hoa Kỳ” - đã có 7 điều nói về sự phân quyền của Hiến pháp và có tới 10 tu chính án được gọi là nhân quyền của người Mỹ. Nhưng xét cho cùng, giữa phân quyền và nhân quyền vẫn có sự quan hệ mật thiết với nhau. Phân quyền và nhân quyền như hai mặt cần phải có của một tấm huy chương. Nhà nước thực hiện tốt sự phân quyền/phân công phân nhiệm, kiểm soát sự lạm dụng quyền lực nhà nước cũng là một trong những nhiệm vụ cần làm để bảo vệ nhân quyền.
Nhưng cũng cần phải chú ý ở đây là: khi chúng ta dựa vào những cơ quan của nhà nước chuyên trách để bảo vệ quyền của chúng ta, điều nguy hiểm là khi chúng ta cho phép người nào đó sử dụng bạo lực đơn thuần để bảo vệ quyền của chúng ta, chúng ta có thể trở thành nạn nhân của những người được chính chúng ta ủy quyền[5].
Trước hết, Quốc hội có chức năng làm luật. Nhưng làm luật không ngoài mục đích để bảo vệ nhân quyền. Hay nói một cách khác, Quốc hội lập pháp dưới góc độ nhân quyền. Bắt đầu bằng việc soạn thảo, việc thẩm định, thẩm tra, tranh luận và biểu quyết thông qua đều phải dưới góc độ nhân quyền. Nhà triết học mở đầu cho thời kỳ Khai sáng của Anh quốc J. Lokce đã nhắn nhủ các nhà lập pháp phải cẩn trọng vấn đề này, nếu không sẽ có thể đặt mình cũng như nhà nước của mình vào tình trạng của chiến tranh với nhân dân. Ông viết: “Lý do mà con người gia nhập vào xã hội là sự bảo toàn sở hữu của họ, và mục đích họ chọn và trao thẩm quyền cho cơ quan lập pháp là làm ra các luật bảo vệ sở hữu. Khi nào các nhà lập pháp cố gắng lấy đi hoặc triệt phá sở hữu của người dân, hoặc khiến họ suy yếu và bước vào trạng thái nô lệ thì khi đó chính các nhà lập pháp này tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với nhân dân. Khi cơ quan lập pháp cố gắng nắm giữ cho chính mình hoặc đặt vào tay người khác một quyền lực tuyệt đối, đặt nó trên cuộc sống, tự do và điền sản của nhân dân thì họ đã đánh mất quyền lực mà nhân dân giao cho, quyền lực đó phải chuyển giao về cho nhân dân, là những người có quyền khôi phục quyền tự do nguyên thuỷ của mình, bằng việc thiết lập một cơ quan lập pháp mới”[6]. Vì vậy, khi lập pháp, Quốc hội phải hết sức tránh việc làm luật dành riêng cho một tầng lớp, một hạng người, một cá nhân nào đó mà không nhằm vào mục đích phục vụ mọi người dân. Luật phải quy định cho tất cả mọi người, không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo, màu da, dân tộc, tài sản...
Sự áp dụng giới hạn quyền con người trên thực tế không đơn giản vì tính trừu tượng của quyền con người. Một loạt khái niệm trong lời văn của Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người năm 1948 cần được giải thích rõ, như: “hạn chế do luật định”, “chính đáng”, “cần thiết”, “đạo đức”, “trật tự công cộng”, “nền an sinh chung”, “xã hội dân chủ”… Các mệnh đề chung giới hạn quyền, mặc dù được diễn đạt khác nhau trong các điều ước quốc tế và các hiến pháp, nhưng về cơ bản thể hiện ba triết lý: thứ nhất, sự hạn chế là đòi hỏi giải quyết sự xung đột giữa quyền của người này với quyền của người khác, cũng như với lợi ích chung của toàn xã hội; thứ hai, việc giới hạn quyền được thực hiện thông các quy phạm pháp luật dưới hiến pháp; thứ ba, sự hạn chế đòi hỏi đảm bảo tính cân xứng giữa quyền bị hạn chế với bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung. Tính cân xứng được đảm bảo cũng có nghĩa là biện pháp giới hạn quyền mang tính hợp hiến[7].
            Việc tước quyền nào đó của người dân phải theo thủ tục pháp lý chặt chẽ, chỉ cơ quan tư pháp - tòa án mới có quyền tước bỏ. Bảo vệ quyền con người và vấn đề tòa án bảo vệ công lý có sự liên quan mật thiết với nhau, không thể tách rời. Nếu không nâng cấp tòa án trở thành nơi thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý, thì những quy định về nhân quyền của hiến pháp có nguy cơ trở thành những tuyên bố chung chung một cách hình thức, mà không có hiệu lực thực thi. Và ngược lại, nếu không quy định một cách rõ ràng quyền con người trong hiến pháp, thì tòa án cũng không có phương hướng rõ rệt cho việc bảo vệ. Vì vậy, sẽ là không đầy đủ nếu chỉ phân tích quyền con người cùng những giá trị của nó mà lại không có sự phân tích tòa án có nghĩa vụ bảo vệ công lý.
Người ta vẫn thường nói: tư pháp là thành trì bảo vệ tự do, tức là bảo vệ con người với những quyền của họ, chính xác hơn “tư pháp - tòa án chính là thành trì của bảo vệ công lý”. Con người khác động vật ở chỗ phải sống thành xã hội, bên cạnh những thành công của việc con người sống với con người và việc luôn xảy ra những mâu thuẫn, cần phải có sự phân giải đúng sai, để gìn giữ cuộc sống bình an giữa họ. Quyền của tôi phải được bảo vệ, quyền của người nào đó phải bị tước bỏ, nếu anh ta vi phạm quyền của người khác. Đó là lẽ công bằng, công bằng tức là công lý. Xét xử vì công lý khác với xét xử không vì công lý.  
Vì vậy, một khi quyền con người đã được ghi nhận, thì quyền đó phải được bảo vệ. Thiết chế bảo vệ quyền con người là nhà nước, với một bộ phận chuyên biệt được gọi là tòa án đảm nhiệm việc phân xử các vụ việc.  
Thể chế toà án là một thể chế rất đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Không những nó được hưởng quy chế phân quyền như các cơ quan lập pháp và hành pháp, mà còn phải độc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này. Mặc dù nhiều nhà nước dân chủ tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng trên thực tế, hành pháp và lập pháp vẫn có sự phối kết hợp với nhau ở một mức độ nhất định, còn tư pháp - do nhu cầu, chức năng xét xử - bao giờ cũng được độc lập. Sức mạnh của nhà nước pháp quyền tuỳ thuộc nhiều vào niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.
Thể chế toà án đã cung cấp cho xã hội một phương pháp xác định sự thật và sự công bằng trong các hoạt động của tư nhân và nhà nước bằng ba lĩnh vực cơ bản: thứ nhất, trách nhiệm chính của hệ thống thể chế này là đảm bảo sự bình ổn cho xã hội, góp phần tránh các cuộc trả thù một cách dã man trong quan hệ giữa con người với con người[8]; thứ hai, sự phát triển kinh tế với mục đích làm cho xã hội trở nên phồn thịnh cũng cần có những thể chế để giải quyết những tranh chấp giữa các doanh nghiệp, các công dân và các cơ quan của chính phủ, để làm sáng tỏ những điều còn mơ hồ của luật pháp và những quy định buộc phải phục tùng (các xã hội khác nhau đã nghĩ ra cả một loạt những cơ chế chính thức và không chính thức, nhưng chẳng có cơ chế nào quan trọng hơn hệ thống tư pháp - tòa án); thứ ba, chỉ có riêng ngành này mới có quyền chính thức phán quyết sự hợp pháp của những hoạt động của các nhánh quyền hành pháp và lập pháp. Việc quyết định cho tư pháp có quyền xét xử lại các hành vi, quyết định của chính các cơ quan nhà nước là một bước tiến vượt bậc của dân chủ và văn minh nhân loại, làm cho nhà nước bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác với trước đây, khi toà án chỉ được quyền xét xử các hành vi của công dân. Hoạt động xét xử từ hình sự và dân sự mở sang các tranh chấp khác: lập pháp và hành pháp.  
 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102).
   Đây là lần đầu tiên, Hiến pháp quy định về Tòa án với những sắc thái vị nhân quyền rất rõ nét. Có thể nhận xét rằng, đây là một trong những thành công lớn của Hiến pháp năm 2013, so với các quy định của các Hiến pháp trước đây - kể cả Hiến pháp năm 1946, mà nhiều người trong giới học thuật của chúng ta thường ca ngợi, cũng không thể có được một chỉ dẫn rõ ràng như vậy.
*
   Mặc dù vẫn còn khiếm khuyết, nhưng những điểm sáng về nhân quyền trong Hiến pháp năm 2013 là rất lớn. Thực hiện được những quy định và tinh thần nhân quyền của bản Hiến pháp không phải dễ, thậm chí còn là rất khó với nhiều lý do khác nhau. Cái khó đầu tiên nằm ở chỗ các cách làm và các cách nghĩ của chúng ta nhiều chỗ còn không phù hợp với những tiêu chí của quyền con người, mà vẫn còn quen theo cách của tư duy cũ của nền kinh tế tập trung bao cấp, duy ý chí./.

 


*GS,TS. Đại học Quốc gia Hà nội
[1] Xem: Jack Donnelly, Universal Human Rights in Theory and Practice (2nd edn, Manas Publications 2005) 22.
[2] Xem Điều 4(2) Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR). Các quyền liệt kê ở trên thuộc về các Điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), 11, 15, 16 và 18 ICCPR. Riêng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tuyệt đối không bao gồm khía cạnh thực hành tôn giáo, tín ngưỡng. Cụ thể, trong bối cảnh khẩn cấp của quốc gia, nhà nước không có quyền cấm người dân tin hay không tin theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, song có thể tạm đình chỉ việc tổ chức các hoạt động tôn giáo có tính chất tập thể để bảo đảm an ninh, trật tự công cộng.
[3] Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights - ICESCR)
[4] Còn gọi là nghĩa vụ hỗ trợ (obligation to facilitate).
[5] Xem, Nguyên lý nền tảng cho một thế giới thịnh vượng và hòa bình, Cuộc sống, lựa chọn và tương lai của bạn, Tom G. Palmer Chủ biên, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2014, tr. 76
[6] Xem, J. Lokce Chuyên luận thứ hai Bàn về Chính quyền Dân sự, Nxb. Tri thức, H., 2008, tr. 205
[7] Xem Bùi Tiến Đạt: Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2015 tr. 6.
[8] Xem, Ngân hàng Thế giới. Xây dựng Thể chế hỗ trợ thị trường. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2002, tr. 153. 

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(291), tháng 6/2015)


Ý kiến bạn đọc