Hoàn thiện các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013

01/06/2015

TS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG

Giảng viên Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

                                                                                                
1. Quyền tiếp cận thông tin theo Hiến pháp năm 2013
Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến năm 1992,quyền tiếp cận thông tin (TCTT) của công dân chưa được pháp luật quy định.Đến khi ban hành Hiến pháp năm 1992, lần đầu tiên quyền TCTT được quy địnhtại Điều 69: “công dân có quyền được thông tin”, nhưng quyền này cũng mới ghi nhận chứ chưa được triển khai thực hiện trong thực tiễn. Sau đó, có nhiều chủ trương, định hướng về quyền TCTT trong các văn kiện của Đảng.Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (2006) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, Đảng ta đã chính thức đề ra chủ trương: “Nghiên cứu ban hành Luật về bảo đảm quyền TCTT của công dân”. Bắt đầu từ chủ trương này, Luật TCTT được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Tới nay, Bộ Tư pháp - cơ quan chủ trì biên soạn luật này - đã thực hiện nhiều lần dự thảo nhưng chưa trình ra Quốc hội. Quốc hội, sau những do dự, gần đây đã quyết định đưa việc xem xét Luật TCTT vào chương trình xây dựng pháp luật năm 2015.
Trong thực tế, quyền TCTT ở Việt Nam đã được “tiếp cận” sớm hơn quá trình xây dựng dự luật này. Phương châm chính trị “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được cụ thể hoá bằng các quy phạm phạm pháp luật và chính sách của Nhà nước trong suốt quá trình thực hiện công cuộc Đổi mới. Nó là tác nhân lôi cuốn đông đảo người dân tham gia vào các công việc của xã hội, của Nhà nước, làm nên hầu hết các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội.  
          Điều 25 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền TCTT…”, việc thay đổi từ “quyền được thông tin” theo Hiến pháp năm 1992 qua “quyền TCTT” trong Hiến pháp năm 2013 không khác biệt về bản chất, chỉ khác về tên gọi bởi nội hàm của hai quyền này đều bao gồm quyền tiếp nhận thông tin và quyền tìm kiếm thông tin.
             Quyền TCTT của công dân là gì?
             Quyền TCTT của công dân là khái niệm được sử dụng để nói đến khả năng của công dân được tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin do Nhà nước đang quản lý, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận[1]; đồng thời quy định nghĩa vụ của Nhà nước phải bảo đảm cho tất cả mọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các cơ quan nhà nước đang nắm giữ hoặc quản lý.
Quyền TCTT của công dân là một thành tựu của văn minh mà loài người đã đạt được trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của con người, cho con người. Đây là một minh chứng cho trình độ phát triển của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự vì trình độ dân trí được nâng cao sau khi tiếp nhận thông tin, đồng thời phản ánh nhu cầu chính đáng của xã hội là chính phủ của các quốc gia có trách nhiệm phục vụ nhân dân không phải bằng sự bưng bít thông tin mà bằng sự cung cấp đầy đủ và trung thực thông tin cho nhân dân. Các cơ quan nhà nước nắm giữ các thông tin không chỉ duy trì sự lãnh đạo nhà nước mà là cho lợi ích của cộng đồng. Hiểu theo cách thông thường thì các thông tin này phải được các thành viên của cộng đồng tiếp cận và nắm rõ nếu họ có mong muốn, trừ khi có một lợi ích công cộng khác quan trọng hơn hay quyền riêng tư buộc chúng phải được giữ bí mật.
       Quyền TCTT của công dân là điều kiện thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân khác. Quyền TCTT có thể được xem là thành trì của các quyền tự do dân chủ, quyền này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các quyền chính trị, dân sự và các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân. Thực hiện tốt quyền TCTT sẽ đảm bảo cá nhân được thông tin về các quy định của các cơ quan nhà nước và vì được biết nên có thể đưa ra các ý kiến về nội dung của các quy định trên, nhằm ngăn ngừa việc cơ quan nhà nước đưa ra những quyết định có thể xâm phạm các quyền công dân khác. Một khi được cung cấp đầy đủ thông tin, cá nhân biết được cơ quan nhà nước đang làm gì và hoạt động nào của các cơ quan này có khả năng xâm phạm các quyền lợi của mình để từ đó đưa ra các khiếu nại, và thủ tục khiếu nại như thế nào... Khi thực hiện đầy đủ quyền TCTT, công dân sẽ ngày càng mở rộng được khả năng bảo vệ các quyền và lợi ích của mình.
         Quyền TCTT của công dân có tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của nền chính trị của các quốc gia. Nếu quyền này được sử dụng đúng thì sẽ phát huy mạnh mẽ tính dân chủ, sự ổn định của các quốc gia, còn ngược lại thì sẽ là mảnh đất màu mỡ cho việc lạm quyền, lạm dụng quyền này và tình hình chính trị sẽ không ổn định.
Quyền TCTT đảm bảo cho hoạt động của Nhà nước công khai, minh bạch và đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cuộc chiến chống tham nhũng đang diễn ra quyết liệt trên toàn cầu, và quyền TCTT của công dân là một biện pháp quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở cho người dân trong việc giám sát sự công khai, minh bạch trong hoạt động của nhà nước. Tôn trọng quyền TCTT, đảm bảo quyền TCTT cho nhân dân phải được tính đến như là một biện pháp hiệu quả để hoàn thiện cơ chế này.
Quyền TCTT thúc đẩy sự phát triển nền dân chủ của các quốc gia. Cốt lõi của nền dân chủ của bất kỳ quốc gia nào là sự tham gia có ý nghĩa và tích cực của người dân vào các quyết định của chính phủ, đó là việc những công dân bình thường phải có khả năng ràng buộc các quan chức chính phủ chịu trách nhiệm về những hành động của mình. Điều này tạo ra cơ chế “kiểm soát và cân bằng” giữa công dân và nhà nước hoặc như chúng ta thường nói, giữa sức mạnh của nhà nước và quyền lợi của công dân. Từ cơ sở này, công chúng có thể nhận diện được các quyền dân chủ cũng như quyền giám sát hoạt động của nhà nước.
2. Các biện pháp pháp lý đảm bảoquyền tiếp cận thông tin của công dân
Quyền TCTT của công dân được hiến pháp của nhiều quốc gia ghi nhận, có nghĩa là thừa nhận giá trị xã hội của các quyền này và tạo tiền đề quan trọng để thực hiện chúng, song những quyền này nếu thiếu các biện pháp bảo đảm thì mới chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng. Trong điều kiện kinh tế đói nghèo và lạc hậu hay trong cuộc sống chính trị thiếu dân chủ, quyền TCTT của công dân khó thành hiện thực. Ngoài ra, công dân thường gặp những cản trở, nguy cơ cản trở quyền TCTT của mình từ các cá nhân khác, cán bộ, công chức nhà nước khiến cho quyền khó thực hiện hoặc không được thực hiện. Để chuyển hóa quyền TCTT thành hiện thực trong cuộc sống, tránh tính hình thức của quyền, cần có những biện pháp pháp lý bảo đảm quyền TCTT. Vì vậy, một nhà nước tiến bộ không chỉ chú ý đến việc ghi nhận quyền trong đạo luật cơ bản mà còn tích cực tạo ra hệ thống phương tiện, điều kiện để chuyển hóa, biến quyền TCTT của công dân đã được thừa nhận thành hiện thực trong cuộc sống. Cho dù ý tưởng về quyền được đánh giá cao thì chỉ khi nhà nước và xã hội có tiềm lực và khả năng thực tế, quyền đó mới thực hiện được.
Quan hệ giữa các quyền cơ bản nói chung và quyền TCTT của công dân nói riêng là những mối quan hệ mà trong đó các chủ thể ở thế bất cân bằng về thế và lực. Dù phạm vi quyền TCTT được quy định ưu việt thế nào đi chăng nữa và thủ tục để thực hiện quyền này có thuận lợi thế nào đi chăng nữa thì khi bên chủ thể là cơ quan nhà nước không đáp ứng quyền TCTT của người dân, người dân ngay lập tức bị đẩy vào tình thế khó thực hiện quyền của mình và sẽ không thể tự mình đấu tranh với cơ quan nhà nước để đòi cơ quan nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho mình được. Chính vì vậy, cần phải có những quy định hình thành nên biện pháp hữu hiệu bảo đảm quyền TCTT được thực thi, ngăn cản không cho các chủ thể khác xâm phạm quyền này như việc từng bước ngăn chặn tình trạng các cá nhân, hoặc nhóm lợi ích can thiệp vào các phương tiện truyền thông để hướng dân chúng tiếp cận những thông tin có lợi cho họ[2].
Các biện pháp pháp lý đảm bảo quyền TCTT của công dân là các cách thức, thủ tụcmà các chủ thể có liên quan phải thực hiện nhằm bảo đảm thực hiện quyền này của công dântrong thực tiễn. Các biện pháp này bảo đảm pháp lý ở tầm cao nhất là ghi nhận quyền TCTT vào trong Hiến pháp và luật và các biện pháppháp lý yêu cầu các cơ quan nhà nước tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo thực hiện đầy đủ[3] quyền TCTT. Nếu như không thực hiện bất kỳ một trong các nghĩa vụ sẽ dẫn đến quyền TCTT bị vi phạm. Các yêu cầu này thể hiện:
Trách nhiệm tôn trọng: yêu cầu nhà nước tránh can thiệp vào việc thụ hưởng quyền TCTT, cụ thể là khi công dân thực hiện quyền tìm kiếm thông tin mà các cơ quan nhà nước đang có thông tin đó nhưng từ chối cung cấp mà không có căn cứ là không tôn trọng.
Trách nhiệm bảo vệ: yêu cầu các cơ quan nhà nước ngăn chặn hành vi vi phạm quyền của các bên thứ ba, như trường hợp các cơ quan nhà nước tiết lộ thông tin mình đang quản lý cho bên thứ ba gây thiệt hại cho các chủ thể liên quan.
Trách nhiệm thực hiện đầy đủ: yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo các thiết chế về lập pháp, hành chính, ngân sách, tư pháp và các biện pháp thích hợp nhằm thực hiện đầy đủ quyền như vậy, cụ thể là: nhà nước phải đảm bảo cơ chế khiếu nại, khiếu kiện khi người dân cho rằng quyền TCTT của mình bị vi phạm.
Các biện pháp pháp lý cụ thể bao gồm:
(1) Ban hành các quy định pháp luật thống nhất để điều chỉnh về quyền TCTT của công dân.
Biện pháp này có ý nghĩa là tạo một cơ sở pháp lý thống nhất để tránh tình trạng xung đột các quy phạm pháp luật về quyền TCTT trong nhiều văn bản. Tính thống nhất của các quy định pháp luật yêu cầu các văn bản điều chỉnh quyền TCTT có thứ bậc rõ ràng, nghiêm ngặt của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Trong xu hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền thì ngoài Hiến pháp, văn bản luật luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền TCTT vì, về nguyên tắc, khi luật được ban hành cũng là lúc công dân thực hiện được quyền, không có sự cản trở hay hạn chế quyền bởi các văn bản dưới luật.
 Yêu cầu chung của hệ thống pháp luật quy định về quyền TCTT của công dân như sau:
- Về phía nhà nước phải quy định quyền TCTT trong Hiến pháp, ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn thống nhất, tạo thành một hệ thống đồng bộ, đầy đủ. Chỉ khi luật nội dung đáp ứng yêu cầu “định lượng” cho quyền TCTT của công dân, quyền mới được bảo đảm vì chỉ khi đó nhà nước - chủ thể bảo đảm quyền - mới bị ràng buộc trách nhiệm.
- Việc quy định các biện pháp thực hiện quyền TCTT của công dân phải có sự kết hợp với quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội. Vì thế, trong các quy định nội dung, những quy định về hạn chế thực hiện quyền phải phù hợp, cân xứng và rõ ràng.
- Pháp luật nội dung phải quy định cụ thể các biện pháp, hình thức xử lý những hành vi vi phạm quyền TCTT của công dân.
- Tuy nhà nước có trách nhiệm để quyền TCTT của công dân không bị xâm hại, song do nhiều lý do mà vi phạm quyền này là hiện tượng không tránh khỏi. Vì thế, quy định rõ ràng về việc bồi thường thiệt hại của nhà nước đối với công dân trong trường hợp vi phạm quyền TCTT của công dân là một trong những hướng hoàn thiện của hệ thống pháp luật nội dung để bảo đảm quyền này.
Đây là biện pháp bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của công dân. Công dân có tiếp cận được thông tin hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc chủ động công khai của cơ quan nhà nước đang quản lý thông tin. Biện pháp này giúp cơ quan nhà nước chủ động và có trách nhiệm hơn trong việc công khai thông tin, về phía công dân, họ có thể tiếp cận những thông tin có sẵn dễ dàng hơn, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân tham gia quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Yêu cầu này được thể hiện:
- Cơ quan quản lý thông tin chủ động công khai thông tin ngay cả khi không có yêu cầu tìm kiếm của người dân. Một đặc điểm chung trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia là đều có quy định các cơ quan chính phủ có nghĩa vụ phải cung cấp một số loại thông tin nhất định một cách tích cực. Các thông tin này thường bao gồm chi tiết về cơ cấu tổ chức và thông tin các cán bộ lãnh đạo của chính phủ, nội dung của các đạo luật và quy định, các đề xuất và chính sách hiện hành, các biểu mẫu và quyết định. Các đạo luật về TCTT mới ban hành có xu hướng quy định rõ danh mục các loại thông tin cần phải công bố. Việc công khai thông tin một cách chủ động và tích cực như trên, ngoài việc bảo đảm cho công dân được chủ động tiếp cận với các thông tin cần thiết, còn mang lại những lợi ích nhất định cho cơ quan nhà nước. Cụ thể, nó có thể làm giảm gánh nặng hành chính khi phải trực tiếp trả lời những câu hỏi và yêu cầu cung cấp thông tin thông dụng và có thể trực tiếp cải thiện tính hiệu quả của các cơ quan nhà nước như nhận định của Hội đồng Liên minh Châu Âu “các tài liệu mà công chúng có thể tiếp cận trực tiếp càng tăng lên thì số lượng các yêu cầu tiếp cận tài liệu sẽ càng giảm đi”[4]. Hoặc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ trong báo cáo năm 2002 đã nêu rõ “nhiều cơ quan chính phủ đã làm giảm đáng kể các yêu cầu cung cấp thông tin thông qua việc đăng công khai các tài liệu mà công chúng quan tâm trên trang tin điện tử của mình”[5].
- Cơ quan quản lý thông tin phải đăng tải thông tin mà được phép công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan. Quy định này cũng được luật TCTT của các quốc gia quy định, các cơ quan chính phủ có nghĩa vụ phải công bố các loại thông tin nhất định trên trang thông tin điện tử của mình theo định kỳ. Chính phủ không nên hạn chế công khai thông tin chỉ vì khi công khai thông tin này, cán bộ, công chức nhà nước sẽ xấu hổ vì dân chúng biết những hành vi vi phạm hay sai sót của mình, hoặc bảo vệ lợi ích cá nhân của họ, vì họ nhận lương từ nhà nước để phục vụ nhân dân[6]. Biện pháp này cho phép việc TCTT được thực hiện nhanh chóng và đỡ tốn kém cả về phía người dân lẫn cơ quan nắm giữ thông tin. Những thông tin này bao gồm ít nhất: thông tin hoạt động của cơ quan đó, ví dụ như mục đích, chức năng, tổ chức, các tiêu chí hoạt động, nội quy, giới thiệu hoạt động, báo cáo tài chính, kiểm toán ... Những thông tin này có thể được công bố dưới dạng các tờ rơi, tờ giới thiệu hoặc bản báo cáo hàng năm; hoặc thông tin liên quan đến các loại vụ việc khiếu nại, tố cáo mà cơ quan nhà nước đó có thể tiếp nhận và giải quyết; hoặc thông tin hướng dẫn cách thức mà công chúng có thể tham gia vào quá trình làm chính sách hoặc pháp luật của cơ quan nhà nước đó cũng như các tài liệu chuẩn bị cho việc ban hành chính sách hoặc pháp luật đó; hoặc thông tin liên quan tới các loại thông tin mà cơ quan nhà nước đó đang nắm giữ và hình thức của các loại thông tin đang nắm giữ; hoặc thông tin về các mối đe dọa tới môi trường hay sức khỏe cộng đồng mà cơ quan nhà nước đó đang nắm giữ.
- Cơ quan quản lý thông tin phải có hệ thống quản lý, lưu giữ hồ sơ tài liệu khoa học để việc thu thập, lập danh mục, lưu trữ và cung cấp thông tin một cách dễ dàng. Quy định này nhằm đảm bảo theo dõi được những thông tin đã công khai và những thông tin hạn chế hoặc không được công khai. Pháp luật nhiều nước quy định rất cụ thể việc xây dựng, củng cố hệ thống lưu trữ hồ sơ, tài liệu, lập danh mục, thống kê, lưu trữ thông tin một cách thích hợp sao cho có thể dễ dàng trích xuất thông tin và đảm bảo rằng, các thông tin giá trị không bị mất mát. Nếu hồ sơ lưu trữ về những vấn đề cụ thể không được tạo ra, hoặc không thể xác định, hoặc không thể trích xuất thông tin một cách dễ dàng, quyền tiếp nhận thông tin sẽ trở thành vô nghĩa.
Quyền TCTT cho dù có được pháp luật cụ thể hóa một cách chi tiết và ưu việt về mặt nội dung đến mấy đi nữa thì người dân vẫn có thể không thực hiện được quyền này trên thực tế nếu như quy trình thủ tục được quy định không hợp lý. Một quy trình thủ tục quá phức tạp sẽ làm cho người dân không thể thực hiện được tại các cơ quan nhà nước và qua đó không đủ kiên nhẫn để chờ cho quyền của mình được thực hiện. Ngược lại, một quy trình thủ tục đơn giản và thuận lợi sẽ khích lệ người dân thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin của mình, qua đó vừa góp phần làm cho cơ quan nhà nước gần dân hơn vừa làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước minh bạch với công chúng hơn.
Quy định thủ tục thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin chính là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện việc ban hành các quy định liên quan đến trình tự yêu cầu cung cấp thông tin từ phía người dân và trình tự cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Biện pháp này yêu cầu phải đảm bảo các nội dung sau:
- Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải ban hành quy trình để công dân TCTT mà mình đang nắm giữ. Quy trình, thủ tục này phải rõ ràng, dễ hiểu với những mẫu, đơn yêu cầu cung cấp thông tin làm sẵn và đầy đủ.
- Yêu cầu về thủ tục thực hiện việc tìm kiếm thông tin: về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản, kể cả dưới hình thức văn bản điện tử với địa chỉ người nhận đơn, người có trách nhiệm xử lý đơn được xác định rõ ràng (một số đạo luật của các nước chấp nhận cả yêu cầu cung cấp thông tin qua điện thoại hoặc bằng lời nói); quy định công dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong danh mục được tiếp cận với cam kết sử dụng thông tin hợp pháp mà không phải nêu lý do tại sao lại cần thông tin và cần thông tin để làm gì. Người dân chỉ cần bày tỏ sự quan tâm của mình tới thông tin là cơ quan nhà nước được yêu cầu đã phải cung cấp thông tin đó.
- Yêu cầu về thủ tục cung cấp thông tin: về thời gian xử lý đơn yêu cầu, trả lời và cung cấp thông tin phải được quy định cụ thể và rõ ràng, không cần phải giải thích thêm; trong trường hợp đơn yêu cầu TCTT gửi tới người không có thẩm quyền phù hợp thì người đó vẫn phải nhận đơn và có trách nhiệm chuyển đơn tới người đúng thẩm quyền; cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu mà không được quyền hỏi lý do hay mục đích sử dụng thông tin của người yêu cầu.
Đây là biện pháp rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin của công dân. Đối với những thông tin không được nhà nước công khai, không dễ dàng tìm kiếm hoặc thông tin liên quan đến cá nhân cụ thể thì công dân phải trực tiếp liên hệ cơ quan nhà nước và thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin. Việc yêu cầu cung cấp thông tin thực chất cũng là một loại thủ tục hành chính nên nếu không quy định loại thủ tục này thì cả công dân và cơ quan nhà nước đều gặp lúng túng. Về phía công dân, họ không xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, hình thức yêu cầu cung cấp thông tin, thời hạn, lệ phí (nếu có)… dẫn đến tốn kém thời gian, công sức, chi phí hoặc từ bỏ ý định yêu cầu cung cấp thông tin. Về phía cơ quan nhà nước, nếu không quy định trình tự, thủ tục rõ ràng thì không có căn cứ để thực hiện, không biết quyền hạn, nghĩa vụ của mình ở mức độ nào, dẫn đến từ chối hoặc chậm trễ, trì hoãn cung cấp thông tin cho công dân.
Việc vi phạm quyền TCTT là những hiện tượng tiêu cực xã hội. Chỉ nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực công mới có khả năng bảo vệ công dân trước những xâm hại đó. Khoản 3, Điều 2, phần II Công ước quốc tế về các Quyền dân sự - chính trị xác định tầm quan trọng và trách nhiệm của các quốc gia thành viên “tăng cường những khả năng bảo hộ pháp lý và bảo đảm rằng các cơ quan tư pháp, hành chính hay cơ quan lập pháp có thẩm quyền hoặc các nhà chức trách có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định sẽ phán quyết về quyền của bất cứ người nào yêu cầu bảo hộ về mặt pháp lý”. Luật pháp điều chỉnh hành vi của công dân, song cũng phục vụ lợi ích công dân, là phương tiện, công cụ để công dân thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền của mình khi quyền bị xâm hại. Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế khiếu nại, khởi kiện việc thực hiện quyền TCTT nhằm hướng tới các mục tiêu: (i) bảo đảm quyền TCTT của công dân được thực thi trong thực tế, và (ii) tạo ra một cơ chế kiểm tra, theo dõi đối với các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin để buộc các chủ thể đó phải thực thi trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin.
Trên thế giới, thông thường có ba cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về TCTT: cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính nội bộ; trao cho cơ quan độc lập giải quyết khiếu nại về quyền TCTT; và giải quyết khiếu kiện về quyền TCTT ở tòa án, kể cả theo thủ tục tố tụng bảo hiến như ở các nước Nam Mỹ. Hiệu quả của từng cơ chế phụ thuộc vào bối cảnh mỗi nước, nhưng theo ý kiến của các chuyên gia, mô hình cơ quan độc lập có hiệu quả nhất[7]. Trừ một số nước như Đan Mạch (Luật năm 1985), Hà Lan (Luật năm 1991) không quy định trực tiếp về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong luật liên quan, còn lại luật ở đại đa số các nước đều có quy định riêng về cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của công dân liên quan đến quyền TCTT[8]. Dù mức độ, phạm vi quy định khác nhau, nhưng nói chung, cơ chế đó gồm các yếu tố sau: cơ sở khiếu nại, khiếu kiện; cơ quan giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; quy trình, thủ tục khiếu nại, khiếu kiện và giải quyết khiếu nại, khiếu kiện.
Như vậy, biện pháp khiếu nại và khởi kiện đều có ưu điểm và hạn chế riêng, cần quy định cả hai biện pháp này trong luật để công dân lựa chọn hình thức phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Biện pháp này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền TCTT của công dân khi cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm.
(5) Quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm quyền TCTT của công dân và vấn đề bồi thường thiệt hại
Việc quy định biện pháp xử lý vi phạm là một trong những cách thức bảo đảm thực hiện các quy định về quyền TCTT của công dân, mang tính răn đe, trừng phạt đối với người vi phạm. Việc áp dụng biện pháp này góp phần ngăn ngừa, hạn chế tình trạng lợi dụng quyền TCTT để gây cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, gây cản trở quyền TCTT của cá nhân khác hoặc dùng quyền TCTT gây tổn hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, gây mất trật tự, an toàn xã hội ...
Biện pháp xử lý vi phạm gồm: xử lý hành chính, xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Xử lý hành chính được áp dụng đối với hành vi vi phạm ở mức độ thấp, tính nguy hiểm cho xã hội chưa cao. Biện pháp này thường được áp dụng đối với công dân nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng quyền TCTT để vi phạm quyền, lợi ích của người khác hoặc cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước. Hình thức xử lý vi phạm hành chính được áp dụng phổ biến nhất là phạt tiền. Đây là biện pháp nhằm tác động về kinh tế, nhằm mục đích cảnh cáo, nhắc nhở để người vi phạm quyền TCTT không tái phạm. Hầu hết các Luật TCTT đều có quy định áp dụng các chế tài đối với các cơ quan nhà nước và các công chức trong trường hợp từ chối công bố thông tin một cách bất hợp pháp, thường áp dụng cho các cơ quan, công chức từ chối cung cấp thông tin hoặc sửa đổi, phá hủy tài liệu một cách trái phép. Ngoài ra, chế tài cũng áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thông tin theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước hoặc áp dụng các chế tài hình sự hoặc hành chính đối với các công chức cụ thể.
Biện pháp xử lý hình sự được áp dụng cho những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cấu thành tội phạm. Biện pháp xử lý hình sự có thể được áp dụng đối với các hành vi nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng như: phá hoại, làm tổn hại hoặc tiêu hủy hồ sơ; ăn cắp hồ sơ; làm giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ...
Quy định về bồi thường thiệt hại: khi quyền TCTT của công dân bị xâm hại, về nguyên tắc, chủ thể xâm hại quyền phải bồi thường cả về vật chất, sức khỏe và tinh thần cho công dân. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi chủ thể xâm hại quyền công dân là nhà nước. Các sai sót của nhà nước trong xử lý mối quan hệ với công dân, đặc biệt trong lĩnh vực nhạy cảm là quyền TCTT của họ, là thực tế khách quan chấp nhận được ở chừng mực nhất định. Mỗi nhà nước tiến bộ đều lường trước điều này và có cách xử lý đúng mức cần thiết để khắc phục hậu quả, bảo vệ công dân. Mối nguy cơ tiềm tàng lớn nhất mà mỗi cá nhân trong xã hội hiện nay dễ gặp phải trên mỗi bước phát triển là nguy cơ một nhà nước hùng mạnh có thể vi phạm các quyền cá nhân, hoặc tài sản của công dân nước mình và đồng thời lại trốn tránh trách nhiệm về hậu quả đã gây nên[9]. Việc nhà nước bồi thường do xâm hại quyền TCTT cần được chú ý để quyền này được thực thi.
Biện pháp này đưa ra nhằm đảm bảo trường hợp người yêu cầu bị từ chối cung cấp thông tin, hoặc không được tiếp cận theo quy định hoặc được TCTT quá muộn trái với quy định mà gây thiệt hại thì có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức quản lý thông tin có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bất kể thiệt hại đó là do lỗi công vụ hay do lỗi cá nhân của cán bộ, công chức thuộc cơ quan, tổ chức đó. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm bồi thường, mức độ bồi thường thì rất khó khăn.
Khi triển khai thi hành luật về quyền TCTT ở một số quốc gia, các cơ quan đang quản lý thông tin, nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, nơi nắm giữ phần lớn các thông tin mà người dân muốn được tiếp cận - thường có xu hướng lạm dụng quyền hạn của mình để từ chối cung cấp thông tin hoặc trì hoãn việc cung cấp thông tin. Thực tế này dẫn đến tình trạng là những quy định của luật dễ trở thành những tuyên bố mang tính hình thức, từ đó làm giảm sút lòng tin của người dân đối với chính sách của nhà nước. Vì vậy, để tránh tình trạng này, ở hầu hết các quốc gia đã ban hành Luật TCTT đều quy định cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đạo luật này vì bảo đảm cho các quy định của Luật TCTT được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát là hoạt động xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật về quyền TCTT của công dân nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục. Vì vậy, cần thanh tra, kiểm tra, giám sát việc ban hành các văn bản chỉ đạo, triển khai, hướng dẫn thực hiện quy định của pháp luật về quyền TCTT của công dân; việc công khai, minh bạch thông tin trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; việc cung cấp thông tin cho công dân khi có yêu cầu; thường xuyên tổ chức các đoàn thanh tra việc thực hiện quyền TCTT của công dân, đồng thời tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ có thẩm quyền biết về vai trò của hoạt động kiểm tra, giám sát.
          Quyền TCTT của công dân là một trong những quyền công dân khá mới ở Việt Nam nên việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giúp người dân biết được quyền của mình để thực hiện, tự bảo vệ quyền của mình đồng thời tôn trọng quyền của người khác.
Việc tuyên truyền thông tin pháp luật về quyền TCTT không chỉ nhằm cho nhân dân biết các quy định của pháp luật mà qua đó còn cho thấy thái độ của nhà nước và xã hội, từ đó mà công dân chủ động và lường trước được các quy định của pháp luật và hình thành dần thói quen ứng xử theo pháp luật về quyền này. Công dân phải được tuyên truyền, giáo dục để sống theo pháp luật, không ngồi chờ sự ban ơn của nhà nước, biết yêu cầu và biết đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Khi biết các quy định của pháp luật về quyền TCTT, công dân thấy được trách nhiệm của mình, biết sử dụng quyền gắn với thực hiện nghĩa vụ, biết tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong xã hội, giám sát nhà nước, tham gia hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
Thực tiễn thực hiện các biện pháp pháp lý đảm bảo thực hiện quyền TCTT thể hiện những nội dung sau:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước đã đưa các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền TCTT của công dân vào trong các văn bản pháp luật theo nhiều cách khác nhau và ngày càng thể hiện rõ nét hơn, có tính khả thi hơn. Biện pháp pháp lý bảo đảm quyền TCTT đã hoàn thiện hơn quyền tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, sự chậm trễ ban hành Luật TCTT đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện các biện pháp đảm bảo quyền TCTT trong các lĩnh vực ở Việt Nam, vì các cơ quan nhà nước cũng như người dân có tâm lý chờ đợi khi có luật và có các văn bản hướng dẫn mới triển khai thực hiện; điều này dẫn đến tình trạng lúng túng, thiếu thống nhất trong việc hiểu cũng như triển khai thực hiện các quy định đang có hiệu lực.
Thứ hai, các cơ quan nhà nước đã chủ động công khai thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm bảo đảm quyền TCTT của công dân. Tuy nhiên, mức độ công khai thông tin của các cơ quan, đơn vị còn có sự chênh lệch; có đơn vị thực hiện tốt nhưng có đơn vị thực hiện chưa tốt, chưa hiệu quả do nhiều nguyên nhân khác nhau. Như trường hợp những thông tin về bệnh truyền nhiễm, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007quy định: “Bộ Y tế có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp chính xác và kịp thời thông tin về bệnh truyền nhiễm”, nhưng khi triển khai thực hiện thì có nhiều vướng mắc, như việc công bố dịch ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động du lịch, đầu tư, vận tải, thương mại[10]. Vì vậy, nhiều địa phương và cơ quan quản lý không muốn công bố dịch[11]. Lịch sử đã từng chứng kiến những kết quả ngạc nhiên của quyền TCTT trong lĩnh vực y tế, cụ thể như đại dịch HIV-AIDSlà cuộc khủng hoảng y tế lớn nhất trong thời đại của chúng ta. Trong những năm đầu, bệnh này đã lây lan rất nhanh chóng, do các thông tin về vi rút và các biện pháp phòng tránh không được công khai, và Uganda là nước phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Sau đó, nhờ thực hiện hiệu quả quyền TCTT, cũng chính Uganda đã ngăn chặn được tình trạng lây nhiễm HIV trong dân cư[12].
Phương thức tiếp nhận thông tin của công dân hiện nay chủ yếu qua các phương tiện truyền thông nhưng chưa hiệu quả, chưa thực sự thể hiện bản chất của quyền TCTT của công dân và có những hạn chế sau: (1) Những thông tin mà công dân tự thu thập được thường là những thông tin chung chung, khái quát và không được cập nhật mới; (2) Công dân chỉ có thể tiếp nhận những thông tin sẵn có mà các tổ chức khác công bố chứ thực sự không phải những thông tin mà công dân cần. Do vậy đây chỉ là phương thức TCTT bị động; (3) Với phương thức này, công dân chỉ có thể tiếp nhận các thông tin gián tiếp (sau khi đã biên tập) qua các cơ quan thông tấn, báo chí vì vậy tính trọn vẹn, chính xác không cao, mức độ tin cậy không lớn, trừ một số ấn phẩm chính thức và trang tin điện tử của các cơ quan nhà nước.
          Thứ ba, hình thức, thủ tục thực hiện quyền TCTT của công dân được còn chung chung, chưa thống nhất, còn chồng chéo nhau nên rất khó áp dụng vào thực tiễn. Các yêu cầu cung cấp thông tin có nhận được phản hồi từ phía cơ quan nhà nước nhưng người yêu cầu đánh giá thông tin họ nhận được chưa đầy đủ khi phải thực hiện thủ tục phức tạp. Việc có cung cấp thông tin nhưng không đầy đủ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như: người dân yêu cầu không đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền, hoặc các cơ quan nhà nước chưa bố trí người, bộ phận chuyên tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu cung cấp thông tin. Hơn nữa, điều kiện vật chất để đảm bảo thực hiện quyền tìm kiếm thông tin chưa được đảm bảo: chưa xây dựng hệ thống kết nối các trang thông tin dữ liệu, chưa xây dựng trung tâm lưu giữ thông tin. Vì vậy, việc cung cấp thông tin còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cán bộ, công chức còn người dân luôn trong tư thế là người đi xin thông tin chứ không phải là người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin.
Thứ tư, mặc dù một số văn bản có quy định về việc khiếu nại nhưng đến nay cũng chỉ có một vài trường hợp khiếu nại việc không cung cấp thông tin, nhất là các kết luận thanh tra[13], các loại thông tin khác thì chưa có khiếu nại, còn việc khởi kiện thì hoàn toàn chưa có.
Thứ năm, về chế tài đối với việc thực hiện không đúng quyền TCTT - đến nay chưa có vụ việc cụ thể nào bị xử lý do từ chối cung cấp thông tin hoặc trì hoãn cung cấp thông tin hoặc cơ quan có trách nhiệm không công khai thông tin và những chế tài (về hành chính, hình sự, dân sự) cũng chưa được áp dụng trong thực tiễn đối với hành vi này.
Thứ sáu, hiện nay việc giám sát thực hiện quyền TCTT của công dân được thực hiện theo cơ chế giám sát gián tiếp như đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân - là chủ thể có thẩm quyền giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền TCTT của công dân, tổ chức ở địa phương; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên giám sát xã hội việc thực hiện quyền TCTT. Vì vậy, việc giám sát chưa hiệu quả, thậm chí các đại biểu Quốc hội cũng gặp nhiều khó khăn khi tiếp nhận thông tin vì có nhiều thông tin khác nhau về cùng một vấn đề mà không biết thông tin nào chính xác[14].
Thứ bảy, công tác tuyên truyền về quyền TCTT đã có những kết quả tốt trong khu vực đô thị và các cơ quan nhà nước vì trong một thời gian ngắn, hàng loạt các bài báo, bài viết nghiên cứu, các hội thảo, các cuộc thăm dò dư luận đã được thực hiện. Điều này giúp cho người dân có những khái niệm ban đầu về quyền TCTT. Tuy nhiên, việc tuyên truyền chưa phủ sóng đầy đủ, còn nặng tính hình thức và không sát từng đối tượng. Riêng ở khu vực nông thôn, khu vực chưa có nhiều phương tiện truyền thông và vùng sâu, vùng xa, quyền TCTT của công dân còn là khái niệm rất mới, và nhiều người hầu như chưa biết mình có quyền này, không hiểu cụ thể mình được làm gì và không được làm gì, nên nếu được cung cấp thông tin thì cứ tưởng được quan tâm, được ưu tiên cho riêng mình.
          Nhìn chung, các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền TCTT theo pháp luật Việt Nam chỉ mới triển khai trong một số lĩnh vực nhưng các cơ quan nhà nước vẫn chưa coi trọng quyền TCTT của công dân. Việc chưa nhấn mạnh đúng mức đến trách nhiệm công khai và cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, cùng việc thiếu các quy định về các quy trình, thủ tục dẫn tới thực tế là thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước được cung cấp dưới hình thức thụ động, thông qua việc khai thác thông tin của báo chí, chứ chưa mang tính chất chủ động cả từ phía cơ quan nhà nước (chủ động công khai và cung cấp thông tin cho công chúng) và từ phía công dân (chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin).
          Pháp luật về quyền TCTT của công dân cần hoàn thiện những nội dung sau:
Thứ nhất, cần sớm ban hành Luật về quyền TCTT của công dân vì đây là một trong những biện pháp quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền TCTT của công dân. Bởi vì, khi chưa có Luật, các quyền con người, quyền công dân nói chung, quyền TCTT nói riêng không có sức mạnh của việc đảm bảo pháp lý chính thức của Nhà nước nên sẽ không được tôn trọng và đề cao trong mối quan hệ với Nhà nước. Luật này cần có các nội dung sau:
- Xác định định nghĩa quyền TCTT của công dân là một trong những quyền quan trọng của con người và công dân với nội hàm bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và tiếp nhận tất cả các thông tin do Nhà nước quản lý, trừ trường hợp pháp luật cấm. Trong đó, tìm kiếm thông tin là việc công dân yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin, tài liệu; và tiếp nhận thông tin là việc công dân có thể nhận thông tin qua việc các cơ quan nhà nước công khai các thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nhận được trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và đang được các cơ quan này nắm giữ.
- Xác định thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ thuộc quyền sở hữu của nhân dân, các thông tin không được tiếp cận do Quốc hội quyết định chứ không phải do cơ quan hành chính nhà nước quyết định. Đồng thời, cần phân loại các thông tin không được tiếp cận khi thỏa mãn ba điều kiện sau: (i) thuộc một trong các nội dung không được biết (miễn trừ) và phải có cơ sở pháp lý cụ thể; (ii) nếu việc công bố những thông tin này thực tế có thể gây ra những thiệt hại cho an ninh quốc gia; và (iii) cơ quan phân loại có đủ khả năng xác định và miêu tả những thiệt hại cụ thể và phải ước lượng rằng, khi họ cản trở quyền TCTT, thì thiệt hại do thông tin bị tiết lộ ra phải lớn hơn nhiều so với lợi ích mà công chúng được hưởng khi họ có được thông tin.
- Khẳng định nguyên tắc công khai tối đa và tất cả cán bộ, công chức cần luôn tuân thủ nguyên tắc này. Đồng thời, ghi nhận nguyên tắc đối thoại giữa các bên có liên quan[15] bao gồm chủ thể yêu cầu cung cấp thông tin, chủ thể đang nắm giữ thông tin và bên thứ ba có liên quan đến thông tin để tìm ra sự cân bằng hợp lý giữa lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước và lợi ích của cá nhân.
- Cần quy định chi tiết về trình tự công dân yêu cầu cung cấp thông tin theo những nội dung sau:
(1) Quy định người yêu cầu cung cấp thông tin không cần phải nêu lý do, trừ một số trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật. Quy định như vậy nhằm tránh trường hợp cán bộ cung cấp thông tin gây khó khăn cho người yêu cầu thông tin.
(2) Đối với các cơ quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin, không nên dùng phương pháp liệt kê vì không thể tránh khỏi sự bỏ sót và điều luật sẽ rất dài dòng. Có thể quy định như sau: “Cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin bao gồm bất cứ cơ quan mà được thành lập theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; hoặc là bộ phận ở bất cứ cấp nào của bộ máy nhà nước; hoặc đang hoạt động hoặc nhận hỗ trợ tài chính chủ yếu từ ngân sách nhà nước”.
          (3) Nên quy định cụ thể thời hạn các cơ quan nhà nước phải công khai thông tin như buộc phải công khai trong vòng bao nhiêu ngày kể từ ngày có thông tin, nhất là những thông tin vì lợi ích cộng đồng.
          (4) Quy định các cơ quan nhà nước phải tổ chức bộ phận chuyên trách cung cấp thông tin hoặc cử người chuyên trách cung cấp thông tin để tiếp nhận các yêu cầu cung cấp thông tin. Nếu thông tin đơn giản thì bộ phận này sẽ trực tiếp cung cấp, còn đối với thông tin phức tạp, do cơ quan nhà nước khác nắm giữ thì bộ phận này có trách nhiệm chuyển cho người có thẩm quyền giải quyết. Sau khi có thông tin thì bộ phận này sẽ gửi thông báo cho người yêu cầu đến nhận.
(5) Quy định thời hạn để cung cấp thông tin tối đa 15 ngày. Trường hợp yêu cầu với số lượng thông tin lớn thì cần quy định rõ là thời gian gia hạn thêm tối đa 15 ngày kể từ ngày thông báo chấp nhận cung cấp thông tin. Đối với thông tin được yêu cầu quá phức tạp, không thể đáp ứng cũng cần quy định cụ thể, nếu như cơ quan có thể đáp ứng cung cấp thông tin một phần theo yêu cầu thì phải cung cấp theo yêu cầu của người yêu cầu.
(6) Quy định điều kiện cho người yêu cầu có thể nhận thông tin tại cơ quan thuận lợi nhất cho họ, như gần địa chỉ của họ nhất. Điều này là cần thiết, nhất là trong trường hợp có thể có nhiều cơ quan nắm thông tin mà trách nhiệm cung cấp thông tin đều thuộc về các cơ quan đó nên họ đùn đẩy trách nhiệm.
(7) Quy định rõ việc từ chối yêu cầu cần quy định rõ trong văn bản từ chối là người yêu cầu có quyền khiếu nại, khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền, ghi rõ cơ quan giải quyết; lý do từ chối cần viện dẫn quy định của pháp luật cụ thể; trong trường hợp cơ quan không có thông tin theo yêu cầu hoặc thông tin nhận được nhưng không có trách nhiệm phải cung cấp thông tin thì cần quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận yêu cầu phải hướng dẫn người yêu cầu đến nơi mà có thể có thông tin hoặc chuyển yêu cầu đến cơ quan đó nếu có thể thực hiện được.
(8) Quy định cụ thể về nguyên tắc tính phí cung cấp thông tin theo yêu cầu, mức phí bao gồm phí tìm tài liệu và phí in, photo, sao, chụp (mức này không nên quá cao so với giá thị trường); đối với việc cung cấp một số lượng nhỏ thông tin đơn giản nên có quy định miễn phí. Các quy định miễn phí cần quy định một cách cụ thể, tránh trường hợp lợi dụng quy định chưa rõ để yêu cầu nhiều thông tin mà họ không cần.
(9) Quy định chi tiết về thủ tục khiếu nại, khiếu kiện khi công dân, tổ chức không được cung cấp thông tin, bổ sung quyền khiếu nại đối với trường hợp cơ quan nhà nước không tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin. Nên mở rộng quy định về việc bồi thường nếu thông tin cung cấp không theo đúng quy định của pháp luật (có tính chất cố ý), hay yêu cầu của họ không được đáp ứng trái pháp luật, gây thiệt hại cho họ. Đồng thời cũng mở rộng quy định người thứ ba có liên quan có quyền khiếu nại, khiếu kiện ra cơ quan tòa án.
(10) Cần xác định cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác bảo đảm quyền TCTT là Bộ Thông tin và Truyền thông. Tuy nhiên, đây là cơ quan thuộc bộ máy hành pháp nên cơ quan này không giải quyết khiếu nại. Một trong những cơ chế giám sát có tính chất truyền thống là cơ chế giám sát trong nội bộ hệ thống hành chính thông qua việc giải quyết khiếu nại hành chính; quy trình này được cho là ít tốn kém và nhanh chóng. Nhưng thực tiễn ở phần lớn các quốc gia cho thấy, đây là một quy trình kém hiệu quả, vì các cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính thường có xu hướng ủng hộ các quyết định từ chối cung cấp thông tin của cơ quan cấp dưới.
Xu hướng chung của các quốc gia thời gian gần đây là thành lập một Ủy ban thông tin độc lập để chuyên trách thực hiện chức năng giám sát việc thực thi quyền TCTT. Quyết định của Ủy ban này có tính chất cưỡng chế và các cơ quan hành chính phải tuân theo. Nhiều quốc gia đã ban hành luật về quyền TCTT đã xây dựng thiết chế giám sát thực hiện quyền TCTT độc lập (thậm chí ở địa phương), bao gồm cả giải quyết khiếu nại. Việt Nam có thể nghiên cứu nâng cấp Ban Dân nguyện thuộc Quốc hội thành Uỷ ban Dân nguyện, một Ủy ban của Quốc hội để thực hiện giải quyết khiếu nại và giám sát quyền TCTT. Mặc dù có ý kiến cho rằng, phương án này gây tốn kém vì phải thành lập một cơ quan mới, nhưng những lợi thế mà nó đem lại còn nhiều hơn: cơ quan chuyên trách sẽ tập trung được kiến thức, kinh nghiệm, thời gian, nguồn lực; bảo đảm được sự độc lập tương đối mà cơ chế hiện nay còn thiếu; và quan trọng nhất là nó có quyền buộc cơ quan hành chính công bố thông tin. Hơn nữa, kinh nghiệm thế giới cũng cho thấy, mô hình cơ quan độc lập đạt hiệu quả nhất so với các mô hình khác[16].
Thứ hai, cần ban hành Luật Bí mật nhà nước thay thế Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước để khẳng định rằng các thông tin trong danh mục bí mật phải do Quốc hội quyết định. Nội dung luật này cần phân biệt chi tiết các loại thông tin thuộc mật, tuyệt mật, tối mật; quy định rõ những nội dung thuộc bí mật của các cơ quan, các bộ ngành; quy định những chế tài nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng con dấu mật của các cơ quan nhà nước; quy định các thông tin không được phép tiếp cận phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và Hiến pháp và không quá mức hạn chế quyền TCTT[17]; đồng thời xác định thời hạn giải mật các thông tin phù hợp với Luật Lưu trữ.
Thứ ba, cần ban hành Luật Bảo vệ quyền riêng tư nhằm cân bằng giữa quyền TCTT và quyền riêng tư, đồng thời có cơ sở pháp lý rõ ràng để xác định ranh giới thông tin cá nhân mà cơ quan đang lưu giữ không được công khai cũng như cung cấp khi có yêu cầu. Điều này cũng phù hợp với quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 “Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Hiện nay có rất nhiều thông tin của cá nhân đang được các cơ quan nhà nước lưu trữ một cách rất hợp pháp và được lưu trong cơ sở dữ kiện do chính quyền kiểm soát. Vì vậy, nếu không có các quy định về quyền riêng tư thì các cơ quan nhà nước sẽ có thể công khai các thông tin này vì cứ nghĩ rằng mình đang công khai tất cả thông tin, như trường hợp công khai các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo trên các trang thông tin điện tử của các cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ tư, cần ban hành một Nghị định quy định về việc xử lý vi phạm hành chính trong việc thực hiện quyền TCTT, nhất là xử lý các cơ quan không công khai, trì hoãn hoặc không cung cấp thông tin. Đồng thời, cần bổ sung vào các văn bản về xử lý kỷ luật cán bộ với nội dung: quy định cơ quan giám sát quyền TCTT có quyền kiến nghị áp dụng chế tài xử lý đối với cán bộ, công chức. Cán bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền TCTT của công dân như: chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng, không công khai thông tin theo quy định, cản trở quyền TCTT của công dân./.
 

 


*TS. Giảng viên Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
 
[1] Kỷ yếu đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin” (2010), đề tài khoa học cấp Bộ của trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 34.
[2] A Eide (1989), Realization of social and economic rights and the minimum threshold approach, Human Rights Law Journal, tr. 35, 37.
[3] Masstricht Guidelines on Violations of Economic, Social and Cultural Rights, Maastricht, January 22-26, 1997. http://www1.umn.edu/humanrts/instree/Maastrichtguidelines_.html truy cập ngày 20/01/2013.
 
[4] Xem Báo cáo thường niên của Hội đồng về Thi hành Quy chế EC số 1049/2001 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 30/5/2001 về Tiếp cận của công chúng đối với các tài liệu của Nghị viện, Hội đồng và Uỷ ban Châu Âu ngày 7/3/2003.
[5] Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, Tóm tắt các báo cáo thường niên về Luật Tự do thông tin cho năm tài chính 2002.
[6] Barack Obama (2009), Freedom of information Memorandum for the Heads of executive Departments and agencies. http://www.whitehouse.gov/the_press_office/FreedomofInformationAct , truy cập ngày 17/4/2012.
[7] David Banisar (2006), Freedom of Information Around the World 2006 - A Global Survey of Access to Government Information Laws, Privacy International, tr. 23.
[8] David Banisar (2006), Freedom of Information Around the World 2006- A Global Survey of Access to Government Information Laws, Privacy International. Và Tuyển tập các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về TCTT, Nxb. Công an nhân dân. Hà Nội, 2007.
[9] Phạm Khiêm Ích - Hoàng Văn Hảo, Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 384.
[12] Freedom of information Training manual for public officials, trang 17, Artical 19, ISBN 1-902598-64-4
[14]http://dantri.com.vn/kinh-doanh/nguoi-dan-co-quyen-duoc-biet-chuyen-gi-xay-ra-voi-nen-kinh-te-736683.htm
[15] Peter Carey và Marcus Turle (Chủ biên) (2006), Freedom of information Handbook, Nxb. Law Society, ISBN 10: 1-85328-968-X, tr. 10.
[16] David Banisar (2006), Freedom of Information Around the World 2006 - A Global Survey of Access to Government Information Laws Privacy International, tr. 23.
[17] Có thể tham khảo nội dung giải pháp trong cuốn sách Global trends on the right to information: a survey of South Asia (2001), Nxb. Article 19, ISBN: 1 902598 44 X, tr. 155.
 

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(291), tháng 6/2015)


Ý kiến bạn đọc