Các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc công ty cổ phần - một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

21/04/2022

PGS.TS. TRẦN THĂNG LONG

Phó Trưởng khoa Ngoại ngữ Pháp lý, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh,

THS. PHAN HUY LÂM

Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Tiền Giang.

Tóm tắt: Trong phạm vibài viết này, các tác giả phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, những thành tố tạo nên khung pháp lý về quản trị công ty cổ phần và chỉ ra một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Từ khóa: Cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Abstract: Within the scope of this article, the authors give out an analysis of the provisions under the Law on Enterprise of 2020 on shareholders, the board of management, the director/general director, which are the elements that make up the legal framework for corporate governance  and also point out a number of inadequacies and recommendations for further improvements.
Keywords: Shareholders; board of management; director/deneral director; Law on Enterprises of 2020.
CEO.jpeg 
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc
Cổ đông là những người trực tiếp góp vốn vào công ty cổ phần (CTCP). Do đó, họ chính là những người chủ thật sự của công ty (CT). Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020, cổ đông là "cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của CTCP"[1], cổ đông có các quyền sau: (i) nhóm các quyền liên quan đến quản lý, điều hành trong CTCP; (ii) nhóm các quyền về kinh tế; (iii) nhóm quyền về kiểm tra, giám sát hoạt động của CTCP; (iv) nhóm quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong nội bộ CTCP[2]. Bên cạnh đó, cổ đông cũng phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại Điều 119 LDN năm 2020.
Theo quy định của LDN năm 2020, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý CT, có toàn quyền nhân danh CT để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của CT, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Khoản 2 Điều 153 LDN năm 2020 quy định, HĐQT có những quyền và nghĩa vụ sau: (i) quyền kiến nghị với ĐHĐCĐ; (ii) quyền quyết định các hoạt động đầu tư, kinh doanh của công ty; (iii) quyền chi phối công tác nhân sự của công ty; (iv) quyền chi phối bộ máy quản trị của CT và (v) các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại LDN năm 2020 và Điều lệ CT. Nhìn chung, quyền và nghĩa vụ của HĐQT được quy định tại LDN năm 2020 về cơ bản đã bao quát hết mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp từ vấn đề vốn, cổ phần, kế hoạch, chiến lược đầu tư, kinh doanh đến hệ thống quản trị, bộ máy quản lý của CT.
Theo quy định của LDN năm 2020, Giám đốc/Tổng giám đốc là người điều hành CT, do HĐQT bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác với nhiệm kỳ không qua 05 năm và có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Giám đốc/Tổng giám đốc chịu sự giám sát của HĐQT, chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao. LDN năm 2020 không quy định tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc/Tổng giám đốc của CTCP, mà chỉ quy định tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc/Tổng giám đốc của CT đại chúng, CTCP do Nhà nước nắm giữa trên 50% tổng số cổ phần biểu quyết và CT con của doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, Giám đốc/Tổng giám đốc phải đáp ứng một số tiêu chuẩn, điều kiện như không thuộc đối tượng quy định bị cấm quản lý doanh nghiệp hay không được là người có quan hệ gia đình của người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên của CT và CT mẹ, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại CT và CT mẹ; có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh của CT"[3].
Như vậy, các quy định của pháp luật về quản trị CTCP đã được quy định khá đầy đủ trong LDN năm 2020.
2. Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
2.1. Các quy định về cổ đông trong công ty cổ phần
Một là, về thời điểm xác lập tư cách cổ đông: Khoản 4 Điều 124 LDN năm 2020 quy định "cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua theo quy định tại khoản 2 Điều 122 LDN năm 2020 được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty". Như vậy, trường hợp nhà đầu tư đã thanh toán đủ tiền góp vốn mua cổ phần nhưng vì một lý do khách quan hay chủ quan nào đó mà chưa được đăng ký thông tin vào sổ đăng ký cổ đông của CT thì nhà đầu tư vẫn chưa có tư cách cổ đông của CT đó.
Về vấn đề này, các tác giả cho rằng, việc đăng ký thông tin người mua vào sổ đăng ký cổ đông hoàn toàn chỉ là hình thức xác nhận việc mua cổ phần giúp CT có thể quản lý và liên hệ với các cổ đông, chứ không làm thay đổi bản chất của việc nhà đầu tư đã góp đủ vốn mua cổ phần. Do đó, quy định trên của LDN năm 2020 là chưa hợp lý, không bảo đảm quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, dẫn đến những tranh chấp không đáng có giữa nhà đầu tư và công ty. Để khắc phục bất cập này, cần sửa đổi khoản 4 Điều 124 LDN năm 2020 theo hướng quy định thời điểm xác lập tư cách cổ đông được tính từ khi nhà đầu tư hoàn thành việc thanh toán góp vốn và ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hợp pháp. Theo đó, khoản 4 Điều 124 LDN năm 2020 được sửa lại như sau: "Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và lập thành hợp đồng chuyển nhượng cổ phần hợp pháp; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty".
Hai là, về mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông:Khoản 1 Điều 132 LDN năm 2020 quy định: "Cổ đông đã biểu quyết không thông qua nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình". Trong trường hợp này, CTCP "phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng"[4].
Về vấn đề này, các tác giả cho rằng có hai điểm bất cập sau:
+ Quy định này được áp dụng khi mối quan hệ giữa cổ đông và CTCP đã không thể cứu vãn, cổ đông đã không muốn gắn bó với công ty nữa. Tuy nhiên, điều luật lại xác định thời hạn của việc "ly hôn" này lên đến 90 ngày là chưa hợp lý vì đây là một quãng thời gian khá dài để thực hiện thủ tục chấm dứt mối quan hệ này.
+ Trong trường hợp giữa cổ đông và CTCP không thỏa thuận được về giá mua, bán lại cổ phần, điều luật cho phép các bên có thể sử dụng tổ chức thẩm định giá và quy định CT giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn, nhưng không đề cập đến việc công ty hay cổ đông sẽ phải chịu khoản chi phí cho tổ chức thẩm định giá. Điều này sẽ dẫn đến tranh chấp giữa cổ đông và CTCP.
Để khắc phục bất cập nêu trên, cần sửa đổi quy định của khoản 2 Điều 132 LDN năm 2020 theo hướng rút ngắn thời hạn CTCP phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và đồng thời, quy định rõ vấn đề chịu chi phí thanh toán cho tổ chức thẩm định giá trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được giá bán cổ phần mà phải sử dụng đến dịch vụ thẩm định giá. Theo đó, khoản 2 Điều 132 LDN năm 2020 cần được sửa lại như sau:
"2. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông quy định tại khoản 1 Điều này với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng. Chi phí thanh toán cho tổ chức thẩm định giá do cổ đông và công ty thỏa thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì mỗi bên chịu một nửa".
2.2. Các quy định về Hội đồng quản trị
Một là, về việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, thay thế và bổ sung thành viên Hội đồng quản trị:
Theo quy định của điểm b khoản 1 Điều 160 LDN năm 2020, ĐHĐCĐ miễn nhiệm thành viên HĐQT trong trường hợp thành viên HĐQT có đơn từ chức và được chấp thuận. Tuy nhiên, Luật LDN năm 2020 không quy định ai là người có thẩm quyền chấp thuận và trong trường hợp thành viên HĐQT có đơn xin từ chức mà không được chấp thuận thì sẽ xử lý như thế nào khi bản thân họ đã không còn muốn đảm nhận vai trò này nữa?
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 160 LDN năm 2020 quy định: “Khi xét thấy cần thiết, ĐHĐCĐ quyết định thay thế thành viên HĐQT; miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này”.
Về vấn đề này, các tác giả cho rằng, nếu nhìn theo hướng tích cực, quy định này sẽ làm thành viên HĐQT có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, quy định này mang lại lợi thế rất lớn cho các cổ đông lớn.
Bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP luôn là một vấn đề được pháp luật quan tâm. Một trong những biện pháp bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP là quy định biểu quyết bầu thành viên HĐQT phải được thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu (nếu Điều lệ công ty không có quy định khác). Với phương thức bầu dồn phiếu, trong trường hợp HĐQT có 05 thành viên thì nhóm cổ đông thiểu số sở hữu 20% cổ phần phổ thông có thể gom phiếu bầu để dồn hết cho đại diện của mình để chắc chắn có đại diện trong HĐQT. Tuy nhiên, cổ đông hoặc nhóm cổ đông đa số chỉ cần sở hữu trên 50% cổ phần phổ thông là có thể miễn nhiệm thành viên HĐQT đại diện cho nhóm cổ đông thiểu số, sau đó, cổ đông hoặc nhóm cổ đông đa số này có thể thực hiện bầu bổ sung thành viên HĐQT. Phương thức này sẽ vô hiệu hóa biện pháp bầu dồn phiếu nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số.
Để khắc phục bất cập nêu trên, cần bỏ điều kiện “được chấp thuận” tại điểm b khoản 1 Điều 160 LDN năm 2020. Theo đó, chỉ cần thành viên HĐQT có đơn từ chức thì ĐHĐCĐ tiến hành miễn nhiệm thành viên HĐQT, vì khi họ đã không muốn tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ của thành viên HĐQT nữa thì việc có được chấp thuận hay không cũng không còn ý nghĩa. Nếu miễn cưỡng giữ họ tiếp tục ở vị trí này thì không những không hiệu quả mà còn có thể gây thiệt hại cho công ty. Đồng thời, để có thể bảo vệ tốt hơn cổ đông thiểu số trong CTCP trong việc đề cử đại diện của mình trong HĐQT, cần sửa đổi khoản 3 Điều 160 theo hướng ĐHĐCĐ có thể quyết định thay thế thành viên HĐQT; miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT chỉ khi có căn cứ cụ thể, rõ ràng. Theo đó, khoản 3 Điều 160 LDN năm 2020 cần được sửa lại như sau: “Trường hợp thành viên HĐQT vi phạm nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho công ty thì ĐHĐCĐ quyết định thay thế thành viên HĐQT; miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT”.
Hai là, về hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị: LDN năm 2020 quy định: “cổ đông của công ty có quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ thực hiện hoặc hủy bỏ nghị quyết, quyết định của HĐQT”[5] khi nghị quyết, quyết định này trái quy định của pháp luật, trái với nghị quyết ĐHĐCĐ hoặc gây thiệt hại cho công ty. Tuy nhiên, khác với việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ, LDN năm 2020 lại không có quy định về thời hạn để cổ đông yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của HĐQT.
Trong khi đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP mang tính liên tục và các vụ việc tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp nhiều khả năng có thể làm đứt quãng quá trình liên tục đó, gây ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp. Mặt khác, do HĐQT là cơ quan quản lý công ty nên các nghị quyết, quyết định của HĐQT cũng được ban hành thường xuyên. Vì vậy, nếu thời hạn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết, quyết định của HĐQT quá dài hoặc không có thời hạn thì khi xảy ra tranh chấp, có thể dẫn đến nhiều vướng mắc trong thực tiễn, gây thiệt hại, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP, cũng như tạo ra sự lúng túng cho các cơ quan xét xử.
Việc không quy định về thời hạn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết, quyết định của HĐQT là một thiếu sót không hề nhỏ của LDN năm 2020. Để đặt ra thời hạn cho việc yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của HĐQT cần phải xem xét, so sánh với thời hạn hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ. Thời hạn để cổ đông hoặc nhóm cổ đông theo quy định có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ là "90 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết hoặc biên bản hợp ĐHĐCĐ hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến ĐHĐCĐ"[6]. Mặt khác, nếu không tính các cuộc họp bất thường, ĐHĐCĐ họp thường niên chỉ mỗi năm một lần[7]; trong khi đó, HĐQT phải họp ít nhất mỗi quý một lần[8]. Điều này có nghĩa, các nghị quyết của HĐQT được ban hành với tần suất cao hơn và gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh hằng ngày của CT hơn rất nhiều so với nghị quyết của ĐHĐCĐ. Do đó, thời hạn hợp lý để cổ đông yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của HĐQT phải được quy định ngắn hơn so với thời hạn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ. Theo đó, khoản 4 Điều 153 LDN năm 2020 cần được sửa lại như sau:
4. Trường hợp nghị quyết, quyết định do HĐQT thông qua trái với quy định của pháp luật, nghị quyết ĐHĐCĐ, Điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên tán thành thông qua nghị quyết, quyết định đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về nghị quyết, quyết định đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối thông qua nghị quyết, quyết định nêu trên được miễn trừ trách nhiệm. Trường hợp này, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nghị quyết, quyết định HĐQT được thông qua, cổ đông của công ty có quyền yêu cầu Tòa án đình chỉ thực hiện hoặc hủy bỏ nghị quyết, quyết định nêu trên”.
2.3. Các quy định về Giám đốc/Tổng giám đốc
LDN năm 2020 vẫn cho phép Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc CT ngoại trừ trường hợp CTCP đại chúng và CTCP do Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết[9]. Do đó, ở nhiều CTCP, nhất là những CT gia đình (hoặc xuất phát từ CT gia đình), có số lượng cổ đông không nhiều thì việc Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc khá phổ biến. Việc Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc tại CTCP sẽ dẫn đến những bất cập sau đây:
Một là, việc Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc CT sẽ dẫn đến quyền lực quyết định các vấn đề ở CTCP đều sẽ tập trung vào một người. Khi đó, việc người này lạm quyền trong giải quyết công việc là rất dễ xảy ra. Ví dụ cụ thể cho vấn đề này là việc tranh chấp giữa vợ chồng ông Vũ và bà Thảo về quyền điều hành CTCP Trung Nguyên.
CTCP Trung Nguyên được thành lập vào ngày 12/4/2006 gồm 03 cổ đông bao gồm: CTCP Đầu tư Trung Nguyên (70%), ông Vũ (20%) và bà Thảo (10%). Trong đó, ông Vũ sở hữu 60% và bà Thảo sở hữu 30% vốn điều lệ trong CTCP Đầu tư Trung Nguyên[10]. Ông Vũ là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc CT, còn bà Thảo giữ chức danh Phó Tổng giám đốc thường trực của CT. Theo đó, bà Thảo có quyền thực hiện các công việc điều hành và quản lý CT theo ủy quyền của Tổng giám đốc CT. Năm 2014, ông Vũ với tư cách Chủ tịch HĐQT của CT ban hành quyết định bãi nhiệm chức danh Phó Tổng giám đốc thường trực của bà Thảo tại công ty dù việc "bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của CT, quyết định mức lương và lợi ích khác của cán bộ quản lý đó" được Điều lệ CT quy định thuộc quyền và nghĩa vụ của HĐQT. Đồng thời, ông Vũ cũng có những hành vi ngăn cấm, cản trở bà Thảo tham gia điều hành, quản lý CT như chỉ đạo nhân viên đập bỏ phòng làm việc của bà Thảo tại CT, ngăn cản không cho bà Thảo vào CT,... Cả hai cấp Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều nhận định việc miễn nhiệm bà Thảo của ông Vũ mà không thông qua HĐQT và hành vi ngắn cấm, cản trở bà Thảo nêu trên là trái với quy định. Vì vậy, cả hai cấp xét xử đều chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thảo, hủy bỏ quyết định bãi nhiệm chức danh Phó tổng giám đốc thường trực của bà Thảo và buộc ông Vũ “không được ngăn cấm, cản trở bà Thảo tham gia điều hành, quản lý công ty với tư cách là một thành viên HĐQT và Phó Tổng giám đốc thường trực”.
Qua vụ việc này, có thể thấy ông Vũ với tư cách Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc CTCP tập đoàn Trung Nguyên đã có những quyết định, hành động vượt ngoài quyền hạn của mình và không đúng theo quy định của pháp luật và Điều lệ CT. Điều này dẫn đến tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp.
Hai là, Chủ tịch HĐQT và Giám đốc/Tổng giám đốc đều là những chức danh quản lý vô cùng quan trọng và có vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong CTCP. Việc một người kiêm nhiệm hai chức danh này sẽ dẫn đến khó hoàn thành tốt được chức năng, nhiệm vụ được phân công. Mặt khác, HĐQT có chức năng lựa chọn, bổ nhiệm, giám sát và thay thế các vị trí quản lý then chốt trong CTCP, trong đó có Giám đốc/Tổng giám đốc. Và việc HĐQT thực tiện tốt được chức năng này là một trong những nội dung cần hướng tới thuộc nguyên tắc thứ VI trong Bộ các nguyên tắc quản trị CT của G20/OECD về quản trị tốt cho doanh nghiệp. Ở những CT có Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc thì chức năng này sẽ không hiệu quả, thậm chí có thể bị vô hiệu hóa bởi quyền lực tập trung quá lớn vào một người giữ cả hai vị trí giám sát lẫn nhau này. Từ đó, ảnh hưởng không tốt đến việc quản trị nội bộ tại CTCP.
Vì vậy, các tác giả cho rằng, cần sửa đổi LDN năm 2020 theo hướng bãi bỏ hoàn toàn quy định Chủ tịch HĐQT có thể được kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc CT để tách bạch hai chức danh Chủ tịch HĐQT với Giám đốc/Tổng giám đốc nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt chức năng của từng vị trí theo quy định, từ đó cân bằng cán cân quyền lực trong doanh nghiệp. Đồng thời, việc quy định không cho phép Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc/Tổng giám đốc CT cũng góp phần bảo đảm sự thống nhất giữa quy định của LDN với các luật chuyên ngành khác./.
 

 


[1] Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
[2] Điều 166 LDN năm 2020.
[3] Khoản 5 Điều 162 LDN năm 2020.
[4] Khoản 2 Điều 132 LDN năm 2020.
[5] Khoản 4 Điều 153 LDN năm 2020.
[6] Điều 151 LDN năm 2020.
[7] Khoản 1 Điều 139 LDN năm 2020.
[8] Khoản 2 Điều 159 LDN năm 2020.
[9] Khoản 2 Điều 156 LDN năm 2020.
[10] Bản án số 43/2018/KDTM-PT ngày 20/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (450+451), tháng 02/2022.)


Thống kê truy cập

33142956

Tổng truy cập