Những vấn đề đang đặt ra trong chính sách đầu tư công

01/05/2014

TS. PHẠM TUẤN KHẢI

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Đầu tư công là một công cụ kinh tế của Nhà nước, có thể đem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế, nhất là đối với các nước trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng đầu tư công cũng có thể trở thành một gánh nặng cho quốc gia, nếu nó được sử dụng một cách thái quá, gây nên sự dàn trải, kém hiệu quả, thậm chí là lãng phí, không cần thiết và góp phần tạo ra hiệu ứng nợ công. Thế giới cũng đã từng chứng kiến những phong trào tư nhân hoá một cách sâu rộng mà cội nguồn của nó cũng xuất phát từ chính những hệ quả tiêu cực của chính sách đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Ở Việt Nam, đầu tư công cũng đã trải qua các giai đoạn đỉnh cao, góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Tuy nhiên, đến nay đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục một cách căn bản, định hướng lại từ hoạch định chính sách đến cơ cấu đầu tư và quy trình tổ chức thực hiện.
Untitled_371.png
Ảnh minh họa: nguồn internet
Vai trò của Nhà nước trong đầu tư công
Hiện trạng cơ cấu đầu tư công cho thấy, hoạt động đầu tư công tập trung vào các lĩnh vực về kết cấu hạ tầng như điện, nước, vận tải, thông tin chiếm khoảng 40% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn 10 năm vừa qua. Trong khi đó, đầu tư cho các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến còn thấp, mặc dù là đây là lĩnh vực hoạt động tạo ra việc làm rất lớn cho xã hội, đang là nhu cầu của lực lượng lao động trong phạm vi rất rộng, nhưng chưa được Nhà nước chú trọng đầu tư. Hiện nay, các lĩnh vực này chủ yếu là do các doanh nghiệp, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư với quy mô nhỏ, công nghệ thấp vì thiếu vốn đầu tư, nên chưa phát huy được thế mạnh, tiềm năng sẵn có. Thậm chí do thiếu nguồn lực, các ngành lĩnh vực nông nghịêp và công nghiệp chế biến của nước ta còn chậm phát triển với các nước trong khu vực, sức cạnh tranh của các ngành nghề này còn yếu. Do vậy, Nhà nước cần có các cơ chế đầu tư tập trung, hiệu quả, đột phá, tạo động lực cho các lĩnh vực này phát triển nhanh hơn, có thể “bứt phá” được trong giai đoạn tiếp theo để nâng cao “nội lực” của nền kinh tế tự chủ và phát triển ổn định, vững chắc.
Việc tập trung quá nhiều vào các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế, thường chiếm khoảng ¾ vốn đầu tư của Nhà nước trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, cho thấy đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, liên quan trực tiếp tới phát triển con người (khoa học, giáo dục và đào tạo, y tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng) chưa được coi trọng. Xu thế này là biểu hiện rõ rệt chính sách tập trung đầu tư cho lĩnh vực kinh tế và tiết chế đầu tư cho lĩnh vực xã hội. Gần đây, một số nhu cầu xã hội đã trở nên rất cấp bách như thiếu các cơ sở y tế, giáo dục, công trình công cộng phục vụ nhân dân, phát triển kinh tế nông thôn để xóa đói, giảm nghèo... Trong thời gian tới, cơ cấu này cần được tính toán lại để cân đối cùng với sự nâng cao cơ sở hạ tầng, điều kiện sống của người dân, thì các nhu cầu về phúc lợi xã hội cũng cần phải được bảo đảm ở mức cao hơn. Đây chính là sự thực hiện vai trò của “Nhà nước phúc lợi”, thay vì đầu tư tìm kiếm lợi nhuận, hướng tới đầu tư đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Mặt khác, sự phát triển của khoa học - công nghệ và xu thế phát triển kinh tế tri thức đòi hỏi phải đầu tư ngày càng nhiều hơn cho phát triển công nghệ và nguồn lực con người, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đầu tư của nền kinh tế. Trong giai đoạn vừa qua, việc sử dụng đầu tư công như là một công cụ thúc đẩy các ngành trọng điểm, then chốt trong nền kinh tế đã được thực hiện ở phạm vi và mức độ nhất định, song tác động đối với công cuộc hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu toàn nền kinh tế chưa rõ nét. Kết quả của việc Nhà nước đầu tư cho các ngành công nghiệp tiên tiến, có công nghệ cao và có tác dụng thúc đẩy, lan toả đối với sự phát triển chưa thấy rõ. Trong giai đoạn sắp tới, chúng ta cần chuyển sang đầu tư có chọn lọc, theo định hướng tập trung và bảo đảm chất lượng, vốn nhà nước đầu tư cho công nghệ và con người sẽ có tác động bền vững đến chất lượng đầu tư công, vì đây là những lĩnh vực mà khu vực ngoài nhà nước thường không muốn tham gia đầu tư vì khó thu lợi nhuận. Thực hiện theo xu hướng đầu tư này cũng có nghĩa là phát huy vai trò của “Nhà nước kiến tạo”, tạo sức bật cho nền kinh tế, dựa trên định hướng đầu tư vào các lĩnh vực cơ bản, thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế khác phát triển vững chắc.
Chuyển đổi cơ chế đầu tư
Hiện tượng đầu tư dàn trải, sau nhiều năm bố trí kế hoạch vốn đầu tư trải rộng, trong khi  nguồn vốn luôn luôn không đáp ứng nhu cầu, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước (NSNN) nên số dự án tích tụ lại quá lớn, vượt xa khả năng cân đối vốn của NSNN. Do đó, cần lập kế hoạch các phân bổ vốn đầu tư dài hạn hơn, cân nhắc tính ưu tiên của từng ngành, lĩnh vực, thậm chí cân nhắc từng dự án có bảo đảm tính khả thi, hiệu quả  mới quyết định cấp vốn đầu tư. Việc xem xét, quyết định đầu tư từ khi xây dựng kế hoạch cũng cần dựa trên các tiêu chí thống nhất, công bằng, hợp lý, hiệu quả.
Một trong những định hướng quan trọng nhất là để giảm bớt số các dự án đầu tư công được đề xuất không cần thiết, cần xác định chỉ tập trung đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề mà khu vực kinh tế ngoài nhà nước không muốn đầu tư. Đồng thời, Nhà nước cũng tiếp tục phát huy các cơ chế đầu tư thu hút từ các nguồn vốn khác ngoài NSNN, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư nước ngoài phát huy các ý tưởng đầu tư. Thực tế đã cho thấy, việc áp dụng các cơ chế đầu tư như BT, BOT... trong nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy điện đã đạt mục tiêu và hiệu quả đầu tư. Hiện nay, đang tiếp tục triển khai nhiều cơ chế đầu tư khác để đáp ứng nhu cầu đầu tư như: PPP, BOO, BCC...
Có một thực tế là hiện nay, các nhà đầu tư mới chủ yếu quan tâm đầu tư vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, có khả năng thu hồi vốn nhanh, nên Nhà nước cần có các cơ chế đầu tư, chính sách hợp lý, để thu hút đầu tư, kích thích phát triển kinh tế trong những lĩnh vực còn lại vừa nhằm cân đối hợp lý hơn cơ cấu đầu tư, vừa giảm bớt gánh nặng đầu tư công cho NSNN. Đối với các lĩnh vực phục vụ chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, cơ chế thực hiện đầu tư công hiện hành cũng cần được đổi mới căn bản. Hiện nay, các mục tiêu đầu tư này được xây dựng theo các chương trình mục tiêu theo lĩnh vực. Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình mục tiêu này còn rất hạn chế, hàng nghìn tỷ đồng đã chi cho rất nhiều chương trình mục tiêu khác nhau, thậm chí chồng lấn với nhau, rất lãng phí. Do vậy, cần thay đổi tư duy từ việc xây dựng chương trình đến phân bổ đầu tư và quản lý việc thực hiện. Cần phải coi mỗi chương trình như một dự án đầu tư, xem xét cẩn trọng tính hiệu quả trước khi quyết định đầu tư và phải xác định rõ chủ thể, đối tượng thụ hưởng, kết quả đầu ra. Về cách thức quản lý các chương trình này cũng cần thay đổi theo hướng xã hội hóa, công khai, minh bạch, tăng cường giám sát.
Chiến lược, quy hoạch đầu tư công
Mặc dù trong chiến lược phát triển dài hạn có định hướng phát triển vùng và các vùng kinh tế lớn đều có quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, nhưng trên thực tế, chúng ta chưa sử dụng trực tiếp công cụ đầu tư công để thúc đẩy sự phát triển vùng theo những định hướng đã vạch ra. Thậm chí, ngay cả việc thống kê vốn đầu tư đã thực hiện theo vùng cũng chưa làm được vì các dự án không có số liệu tính theo địa giới vùng. Đi cùng với đó, việc phân cấp, phân quyền đầu tư mạnh cho các địa phương, cơ sở kinh tế mà thiếu sự kiểm soát tổng thể gây ra tình trạng đầu tư dàn trải trầm trọng hơn, đôi khi đầu tư chưa bảo đảm đúng mục đích kinh tế, phá vỡ quy hoạch và cơ cấu của nền kinh tế. Chính vì vậy, mà có sự đầu tư chồng chéo, trùng lặp ở một số vùng vốn có điều kiện phát triển thuận lợi, trong khi ở một số vùng khác có điều kiện khó khăn thì lại chưa được ưu tiên đầu tư.
Việc ban hành các quy hoạch còn chậm, chưa phù hợp với thực tế, tính pháp lý chưa cao (mới ở mức Nghị định của Chính phủ từ năm 2006). Chất lượng lập, thẩm định các quy hoạch phát triển ở các cấp chưa cao, chưa theo sát với thực tế phát triển, chưa có tầm nhìn xa về mặt không gian, thời gian và liên ngành, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các quy hoạch có liên quan, chưa tạo ra được sự đồng bộ hoặc hỗ trợ, thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển giữa cấp quốc gia với cấp vùng và lãnh thổ, giữa các ngành với nhau, giữa giai đoạn phát triển trước với giai đoạn phát triển sau, đôi khi còn gây ra sự cản trở lẫn nhau. Vì vậy, Nhà nước cần có các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính khả thi của các chiến lược, quy hoạch do Nhà nước ban hành để bảo đảm định hướng đầu tư thống nhất trong phạm vi cả nước.
Tình trạng phổ biến là địa phương nào cũng tập trung đầu tư để có khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, khu đô thị, khu kinh tế mở... diễn ra trong những năm gần đây phản ánh một mặt, tính tích cực chủ động của địa phương trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác, lại là biểu hiện của việc thiếu chiến lược và quy hoạch đầu tư hợp lý theo vùng và sự phát triển có tính cục bộ địa phương. Hậu quả của chính sách tập trung đầu tư công trong ngắn hạn, thiếu chiến lược, gắn kết trong quy hoạch giữa các địa phương dẫn đến mất cân đối trong phân bổ vốn ngân sách, thiếu vốn kéo dài, triển khai dự án tràn lan nhưng không quản lý được, sử dụng công nghệ lạc hậu, các dự án không được tiến hành đồng bộ, chậm tiến độ, gây lãng phí rất lớn. Bài học đầu tư dàn trải của Hà Giang trong những năm 1999-2005 đã để lại món nợ hàng nghìn tỷ đồng cho các doanh nghiệp, nhà thầu tham gia đầu tư.
Trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều tác động từ bên ngoài, nội lực của nền kinh tế còn “mỏng”, các chỉ số của nền kinh tế còn chưa vững chắc như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát, cán cân thương mại, giá trị đồng nội tệ,... cho thấy, chúng ta cần có sự phối hợp chính sách đầu tư công với các chính sách kinh tế khác để phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh trong từng ngành, vùng và của nền kinh tế trên trường quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng của Việt Nam thời gian vừa qua cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều có những hạn chế của nó. Phát triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy, hiệu quả vốn đầu tư khó có thể cao, biểu hiện qua chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Hiệu quả đầu tư không cao và dàn trải được tích tụ qua các năm là nguyên nhân chủ yếu làm cho lạm phát tăng cao. Do vậy, trong nhiều năm qua, so với các nước trong khu vực và thế giới, chúng ta luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn họ nhưng lạm phát ở ta cũng luôn cao hơn họ.
Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải trông cậy vào nhiều nguồn khác như phát hành trái phiếu, đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ quốc gia và nợ công nước ngoài tăng nhanh trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn trong ngưỡng an toàn nhưng cũng đến lúc phải thận trọng. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã có chủ trương cắt giảm đầu tư công, xác định đó là một trong những giải pháp tổng thể của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại vốn đầu tư xã hội, góp phần nâng cao sự bền vững của kinh tế đất nước.
Tổ chức quản lý hoạt động đầu tư công
Bất cập lớn nhất hiện này là quản lý tiến độ đầu tư. Phần lớn các dự án đầu tư đều bị chậm về tiến độ do nhiều nguyên nhân khác nhau, như không cân đối được vốn đầu tư; vướng mắc trong đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư; năng lực tổ chức đấu thầu kém; năng lực quản lý thực hiện dự án kém; vướng mắc trong giải ngân, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư, nghiệm thu, bàn giao công trình… Các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành và thực thi các biện pháp, chế tài đủ hiệu lực để có thể kiểm soát và loại bỏ các nguyên nhân nêu trên.
Về chất lượng công trình,do việc không chấp hành nghiêm quy định trong các khâu lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình, theo dõi, giám sát thi công chất lượng công trình, giám sát nghiệm thu từng công đoạn, giám sát nghiệm thu toàn bộ công trình nên chất lượng công trình của một số dự án không đảm bảo về chất lượng theo quy định, cá biệt có một số công trình đã phải sửa chữa, khắc phục nhiều lần song không đảm bảo yêu cầu về chất lượng theo quy định, lại làm tăng chi phí vốn đầu tư, thực chất đã gây ra lãng phí, thất thoát vốn đầu tư.
Về hiệu quả đầu tư, còn một số dự án đầu tư có hiệu quả thấp hoặc không có hiệu quả, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cá biệt có dự án, nội dung đầu tư trùng lắp, chồng chéo, hoặc gây cản trở, hoặc làm mất hiệu quả của các dự án đã được đầu tư trước đó.
Việc chấp hành quy định của pháp luật về đầu tưở một số cơ quan trong một số dự án cụ thể đã không nghiêm, dẫn đến tình trạng phân bổ vốn đầu tư dàn trải, nợ đọng trong đầu tư, kéo dài tiến độ thực hiện gây lãng phí, thất thoát trong đầu tư, hiệu quả đầu tư thấp hoặc đầu tư không hiệu quả. Các báo cáo kết quả thanh tra các dự án đầu tư vừa qua cho thấy, tất cả các dự án đầu tư được thanh tra đều có vi phạm quy định pháp luật về đầu tư ở các mức độ khác nhau. Việc vi phạm pháp luật về đầu tư xuất hiện ở tất cả các khâu trong quá trình đầu tư dự án, tất cả các dự án đã thanh tra đều bị phát hiện có sự lãng phí, thất thoát về vốn đầu tư và kiến nghị thu hồi nộp vào NSNN ở các mức độ khác nhau.
Vấn đề giám sát, đánh giá đầu tư:còn một số bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác giám sát, đánh giá đầu tư; chưa gửi báo cáo định kỳ theo quy định hoặc nội dung báo cáo chưa đáp ứng yêu cầu theo quy định. Số lượng và chất lượng cán bộ giám sát, đánh giá đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu theo nhiệm vụ; cán bộ giám sát, đánh giá chưa được đào tạo về nghiệp vụ một cách bài bản và có hệ thống; sự phối hợp giữa các cấp chưa tốt; các chủ đầu tư/Ban quản lý dự án chưa thực hiện đầy đủ các quy định về công tác giám sát, đánh giá đầu tư; vấn đề kỷ cương, kỷ luật cần đặc biệt tiếp tục được quan tâm. Một số Bộ, địa phương chưa chú ý đúng mức tới việc đào tạo nghiệp vụ về quản lý dự án đầu tư nói chung và giám sát, đánh giá đầu tư cho cán bộ cơ sở ở các đơn vị trực thuộc, nhất là các quận, huyện.
Tổ chức bộ máy, quy trình và phương pháp quản lý ở một số bộ, ngành, địa phương còn có nhiều điểm bất cập; phương tiện, thiết bị còn thiếu, kinh phí phục vụ công tác giám sát, đánh giá đầu tư mới chưa được quy định cụ thể (Dự kiến sẽ được quy định cụ thể tại Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư).
Việc xử lý các sai phạm trong quản lý đầu tư chưa kịp thời, nghiêm minh. Việc quy định trách nhiệm cho các đối tượng liên quan trong quá trình đầu tư dự án không rõ ràng, cụ thể, không đủ sức răn đe nên chưa có tác động tích cực trong việc hạn chế và đẩy lùi tình trạng lãng phí, tham ô, thất thoát trong đầu tư và xây dựng./.
 Một số nguyên nhân cơ bản và hệ quả
 Một là,hoạt động đầu tư công chưa đem lại hiệu quả như kỳ vọng xuất phát từ hàng loạt các yếu tố nội tại, chủ quan như đầu tư không theo quy hoạch, thiếu kế hoạch chi tiết; đầu tư các dự án chưa cần thiết; đầu tư dàn trải chạy đua giữa các địa phương theo kiểu “trăm hoa đua nở”; đầu tư phân tán, vốn được phân bổ vào quá nhiều dự án nên các dự án thường bị thiếu vốn và kéo dài tiến độ, làm tăng chi phí đầu tư và chậm đưa công trình vào sử dụng; đầu tư dàn trải dẫn đến dư thừa công suất, tỷ suất sử dụng công trình không đạt như dự kiến, chi phí vận hành không giảm, gây lãng phí, tạo kẽ hở cho tình trạng tiêu cực. Đầu tư dàn trải đi đôi với lãng phí xảy ra ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ quyết định đầu tư đến triển khai dự án và sử dụng kết quả đầu tư.
Hệ quả của đầu tư dàn trải là phá vỡ tính ưu tiên và tính đồng bộ của đầu tư, bất cập cả về phía vốn chờ dự án và dự án chờ vốn, làm giảm hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, quản lý và giám sát đầu tư còn yếu kém làm thất thoát vốn đầu tư và chưa bảo đảm chất lượng và hiệu quả công trình như dự kiến. Việc phân cấp quyết định và sử dụng vốn đầu tư chưa đi kèm với giám sát, kiểm soát chất lượng và hiệu quả đầu tư dẫn đến nhiều công trình, dự án cả ở trung ương và ở địa phương đã được đầu tư nhưng không được khai thác, sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, không phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Ví dụ như công trình Bảo tàng Hà Nội với số vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng nhưng hiệu suất sử dụng rất thấp.
Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là “tư duy nhiệm kỳ”, ít có sự kế thừa về chính sách đầu tư trong các giai đoạn khác nhau, cơ chế phân bổ nguồn vốn tuy có tiêu chí nhưng chưa có sự giám sát, đánh giá thực hiện xem có đúng tiêu chí không. Trong bối cảnh nguồn vốn phân bổ hạn chế, nhưng ngành nào, địa phương nào cũng đề xuất rất nhiều dự án, dẫn đến nơi nào “chạy” được thủ tục chấp thuận phân bổ sớm thì giải ngân được, nơi nào chậm thì dự án “treo”. Và, kết quả khảo sát thực tế các địa phương cho thấy, một số dự án dù đã được giải ngân vẫn “treo” không triển khai thực hiện. Lý do là chủ đầu tư cố tình chậm thực hiện dự án để lạm dụng tiền tạm ứng ngân sách đã được giải ngân.
Các tiêu chí phân bổ kế hoạch đầu tư công chưa bảo đảm được tính đồng bộ trong quá trình thực hiện, kể cả giai đoạn thiết lập dự án, triển khai thực hiện, đánh giá kết quả. Ví dụ đầu tư công cho các cơ sở y tế, giáo dục phải tính đến “phần mềm” là chuẩn bị đội ngũ cán bộ y tế, giáo dục, chứ không chỉ xây dựng công trình là hoàn thành đầu tư công. Ngoài ra, khi phân bổ dự án phải tính đến khả năng lan toả của dự án đầu tư công. Ví dụ nếu triển khai dự án đầu tư vào bảo tàng thì tính lan toả rất thấp, nhưng nếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng thì tính lan tỏa sẽ rộng hơn rất nhiều.
Nguyên nhân nội tại của tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo, thiếu đồng bộ, chậm tiến độ chủ yếu là do “phân cấp trắng” về kế hoạch đầu tư cho các địa phương, trung ương khó thể kiểm soát được tình hình.
Hai là, đầu tư của khu vực Nhà nước không đạt hiệu quả kinh tế cao như khu vực tư nhân, bởi vì trong rất nhiều trường hợp, mục đích của đầu tư công không phải nhằm vào lợi nhuận và hiệu quả kinh tế. Ngay cả phần lớn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tuy có mục tiêu chính là sản xuất kinh doanh nhằm đạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt, nhưng vẫn còn phải thực hiện một số mục tiêu "phi lợi nhuận" như tạo điều kiện phát triển cho các vùng nghèo, vùng có điều kiện khó khăn như miền núi, hải đảo, sản xuất và cung ứng các hàng hóa công cộng, các sản phẩm và dịch vụ ít lãi, thậm chí lỗ vốn...
Các DNNN được Nhà nước hỗ trợ nhiềuthông qua các chính sách ưu đãi, được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng, NSNN có một khoản đầu tư hỗ trợ các DNNN với số tiền tăng lên hàng năm, một số khoản đầu tư của các tập đoàn kinh tế được Chính phủ bảo lãnh, DNNN đi vay nợ với lý do để thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng. Với sự hỗ trợ như vậy, một số DNNN lớn đã trở thành lực lượng mạnh, trở thành “đầu tàu”,trong  các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Song hiện nay, các chính sách hiện hành vẫn chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các DNNN, nhất là đối với việc đầu tư vì Luật DNNN đã hết hiệu lực nhưng các văn bản hướng dẫn khu vực DNNN vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, đổi mới, chưa được ban hành đồng bộ. Vốn đầu tư của các DNNN được coi là "tự chủ" của doanh nghiệp, nên quá trình kiểm tra, kiểm soát chưa cao. Các bộ quản lý cũng không thể can thiệp quá sâu vào quá trình sản xuất kinh doanh của các DNNN. Nhiều DNNN huy động vốn vay lớn để mở rộng quy mô, đầu tư dàn trải vào nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành nghề chính nhưng lại quản lý kém, gây thất thoát vốn, kinh doanh thua lỗ. Trong khi đó, quản trị ở các DNNN còn yếu kém, các DNNN về cơ bản đã được chuyển đổi sang các mô hình tổ chức pháp lý mới theo Luật Doanh nghiệp nhưng mô hình quản trị vẫn theo kiểu cũ không còn phù hợp; quyền chủ sở hữu nhà nước chưa tách bạch với quyền quản lý nhà nước về kinh tế và thực tế chưa được thực hiện đầy đủ, kém hiệu lực. Do vậy, tình trạng sử dụng chưa hiệu quả vốn đầu tư ở các DNNN đã trở thành phổ biến và đáng báo động.
Ba là, hệ thống cơ chế chính sách đầu tư công chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ. Hiện nay, vẫn chưa có khung pháp lý thống nhất, đồng bộ điều chỉnh toàn bộ quy trình đầu tư công. Các quy định nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành ở các thời điểm khác nhau. Nhiều vấn đề về quản lý, giám sát đầu tư công còn bỏ ngỏ hoặc chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu hợp lý hoặc không khả thi, khiến cho việc thực thi gặp khó khăn, dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý thấp…
Bốn là, việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô liên quan đến đầu tư công còn chưa hợp lý. Đầu tư công dàn trải có nguyên nhân từ sự không đồng bộ của chính sách kinh tế vĩ mô, thiếu sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tăng trưởng phù hợp với bối cảnh của từng giai đoạn.  Cùng với chính sách tăng trưởng tín dụng, đầu tư của khu vực nhà nước phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng thương mại, nhưng với lượng tiền vốn lớn cộng thêm đầu tư kéo dài, thiếu động bộ nên không tạo ra giá trị gia tăng tương ứng, kéo chậm vòng quay của đồng vốn bỏ ra. Chính vì vậy, việc duy trì quy mô đầu tư công lớn và phạm vi rộng là một trong những nguyên nhân khiến cho hiệu quả đầu tư công thấp và  nền kinh tế chậm phục hồi, vẫn tiềm ẩn nguy cơ trong tương lai.
Năm là, việc thực thi, điều hành chính sách trong thực tế còn nhiều yếu kém.Kết quả một số nghiên cứu thực tiễn cho thấy, việc tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực này còn chưa ổn; nhiều lúc, nhiều nơi buông lỏng quản lý, do thiếu quyết tâm, thiếu nghiêm túc trong tổ chức thi hành pháp luật, do năng lực quản lý kém hoặc bị các lợi ích cục bộ chi phối, dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát tài sản, thậm chí tham nhũng trong các dự án, chương trình đầu tư công của Nhà nước. Như vậy, vấn đề cấp bách đặt ra là cần giải quyết căn bản các nguyên nhân gây ra các bất cập nêu trên trong đầu tư công. Đồng thời, cần nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, pháp luật đầu tư công đạt được những yêu cầu đổi mới cơ bản, đúng với bản chất, mục tiêu của đầu tư công để hướng tới Việt Nam có một hệ thống chính sách, pháp luật đầu tư công minh bạch, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn sắp tới.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 11(267), tháng 6/2014)


Thống kê truy cập

33080800

Tổng truy cập