Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 48 – NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

01/02/2010

TS. Dương Thị Thanh Mai, ThS. Nguyễn Văn Hiển

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Song hành với những cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính, cải cách tư pháp, những cải cách trong lĩnh vực xây dựng và thi hành pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần không nhỏ vào kết quả thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc biệt, với việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết số 48-NQ/TW), lần đầu tiên Việt Nam có một chiến lược dài hạn với những bước đi và giải pháp tương đối cơ bản cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Mặc dù chưa có những tổng kết chính thức về kết quả triển khai Nghị quyết số 48-NQ/TW, nhưng sau bốn năm đi vào cuộc sống, Nghị quyết này đã khẳng định được vị trí, tầm quan trọng cũng như sự tác động tích cực mang tính cải cách và chiến lược của mình, tạo nên những chuyển biến thực sự mạnh mẽ đối với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.    
 news-s6769.jpg

(Ảnh minh họa: Nguồn internet)
    

 

Trước tiên, phải nói đến sự đổi mới trong tư duy và cách làm chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật của Quốc hội và Chính phủ

 

   Trong bốn năm qua (từ tháng 5/2005 đến tháng 6/2009), Quốc hội Việt Nam đã ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII nhiệm kỳ (2007-2011), 04 Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ cũng ban hành các Kế hoạch hàng năm về công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, gần một trăm văn bản luật, pháp lệnh, hàng trăm Nghị định hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên đã được ban hành[1]. Nếu so với tổng số 7 Bộ luật, 133 luật, 151 Pháp lệnh được ban hành trong 20 năm đổi mới trước đó (1986-2005) thì đây là một con số rất ấn tượng về số lượng và tốc độ làm luật. Nhưng điều quan trọng hơn là sự đổi mới khá căn bản cách thức lựa chọn các văn bản cần soạn thảo để đưa vào chương trình xây dựng pháp luật 5 năm và hàng năm của Quốc hội và Chính phủ. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) 2008 đã tạo cơ sở cho bước đổi mới có tính đột phá  nhằm khắc phục tính hành chính, hình thức của hoạt động đề xuất, “ghi danh” vào chương trình làm luật, biến quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy trở thành một quá trình mang tính khoa học - thực tiễn cao. Các đề xuất xây dựng pháp luật phải được luận giải, thuyết minh rõ ràng về mặt chính sách, các nhu cầu và giải pháp về pháp luật phải được xem xét trên cơ sở dự báo sơ bộ tác động kinh tế - xã hội để đảm bảo tính khả thi của đề xuất nếu được chấp nhận đưa vào chưong trình, kế hoạch. Mặt khác, Luật cũng tạo cơ chế cho việc điều chỉnh chương trình một cách hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả thực chất của hoạt động lập pháp, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Chính vì vậy, mặc dù vẫn còn những bất cập, hạn chế trong các đề xuất xây dựng pháp luật nhưng tỉ lệ hoàn thành chương trình cả nhiệm kỳ và chương trình hàng năm tiếp tục được nâng cao.
Việc đơn giản hoá hình thức và đổi mới quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một kết quả quan trọng tiếp theo của việc đổi mới tư duy lập pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW. Theo Luật BHVBQPPL 2008, thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật đã được cải cách theo hướng đơn giản hoá, mỗi cơ quan thuộc hệ thống hành pháp và tư pháp ở trung ương chỉ có thẩm quyền ban hành một (thay vì trước đây là từ 2 đến 3) hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có những cải cách khá cơ bản như: việc đánh giá dự báo tác động kinh tế - xã hội của văn bản được thực hiện ở cả giai đoạn đề nghị xây dựng văn bản (luật, pháp lệnh, nghị định) và giai đoạn soạn thảo văn bản; tăng cường tính dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động lập pháp bằng việc thu hút sự tham gia của nhân dân vào các giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến đóng góp, phản biện của của cơ quan, tổ chức, cá nhân; áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” để nâng cao tính hiệu quả, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật... Trên thực tế, công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được chuẩn hoá về quy trình, thủ tục; việc thành lập Ban soạn thảo, quy trình soạn thảo đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu dân chủ, huy động được trí tuệ của các chuyên gia, doanh nghiệp và nhân dân trong công tác xây dựng và ban hành văn bản, thủ tục xem xét và thông qua được cải tiến và rút gọn khá nhiều, chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên rõ rệt.
Tuy nhiên, quy trình xây dựng pháp luật hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, việc triển khai Luật BHVBQPPL 2008 đòi hỏi sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của cả đội ngũ đông đảo - kể cả những người không chuyên - đang tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ở các ngành, các cấp, do vậy, không thể là việc của một sớm, một chiều. Chính vì vậy, trên cơ sở sơ kết thực tiễn thực hiện các luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương, chúng ta cần khẩn trương nghiên cứu để thực hiện một định hướng đã được nêu trong Nghị quyết số 48/NQ-TW cho giai đoạn sau 2010, đó là việc hợp nhất Luật BHVBQPPL 2008 và Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2005 thành một luật duy nhất nhằm tạo ra những chuẩn mực chung trong quy trình xây dựng văn bản, bảo đảm tính hiệu quả trong công tác xây dựng pháp luật và sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quốc gia. Untitled1.-Hien_1.png 
Về nội dung, các văn bản pháp luật đã tập trung vào sáu định hướng được xác định trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thể hiện tư duy lập pháp mới nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua và quá trình thực thi pháp luật đã tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội đất nước, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể đơn cử một vài lĩnh vực chính:
+ Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Trong năm 2006, Việt Nam đã được kết nạp là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO và gần đây đã được các nước ASEAN công nhận là nền kinh tế thị trường. Có được những thành quả trên, thời gian qua Việt Nam đã phải nỗ lực rất lớn trong việc ban hành mới một loại các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý an toàn cho phát triển kinh tế thị trường phù hợp với yêu cầu quốc tế. Cùng với các văn bản pháp luật đã được ban hành trong giai đoạn trước (như Luật Hợp tác xã 2003, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, Luật Xây dựng 2003, Luật Đất đai 2003, Luật Phá sản 2004, Luật Cạnh tranh 2004, Pháp lệnh về chống bán phá giá năm 2004, Pháp lệnh chống trợ cấp 2004...) trong 4 năm qua, Quốc hội đã ban hành một loạt các văn bản quan trọng như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, Luật Chất lượng sản phẩn, hàng hoá 2007, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) 2008, Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) 2008, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi) 2008... và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra khung khổ pháp lý quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường: từng bước xác định rõ chế độ và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh, cơ chế cạnh tranh lành mạnh chống độc quyền, cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, giảm mạnh sự can thiệp của Nhà nước bằng các biện pháp hành chính và các quan hệ kinh tế, thương mại dân sự, góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, lao động...
Có thể nói, sự nỗ lực của Việt Nam trong việc tạo dựng hành lang pháp lý linh hoạt, an toàn trong lĩnh vực kinh tế đã góp phần không nhỏ trong quá trình điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, “nền kinh tế, tài chính của Mỹ và toàn cầu có nhiều biến động khiến nhiều quốc gia bị tác động bởi lạm phát gia tăng. Tuy nhiên, Việt Nam đã vượt qua khó khăn nhờ thành công trong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng và bình đẳng cho các nhà đầu tư”. Đó là nhận định của các Bộ trưởng Tài chính ASEAN trong cuộc họp không chính thức được tổ chức tại Dubai và Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ năm với chủ đề “Một ASEAN năng động – những đối tác cho tăng trưởng bền vững” nhân dịp Hội nghị thường niên IMF/WB năm 2008. Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của một số tổ chức và cá nhân chuyên gia kinh tế - tài chính, thì những vướng mắc về thủ tục hành chính - cả trong thể chế lẫn trong thực tiễn thi hành, đang còn là rào cản lớn đối với quá trình gia nhập thị trường, vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh và sự hấp dẫn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam.
Để tiếp tục tạo dựng sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, trong thời gian tới Việt Nam sẽ dành sự ưu tiên đặc biệt cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt là việc tạo cơ chế pháp lý thực sự bình đẳng cho sự phát triển của các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, xây dựng và thực thi chuẩn mực trong cạnh tranh thương mại, yêu cầu phát triển bền vững... Untitled2.Hien_1.png
.+ Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, xây dựng nhà nước pháp quyền, Việt Nam đặc biệt chú ý đến các chuẩn mực chung của Nhà nước pháp quyền và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Sau khi Luật Báo chí 1999, Luật Xuất bản 2004 được ban hành, các cơ quan báo chí, xuất bản đã có những phát triển vượt bậc cả về số lượng ấn phẩm lẫn số lượng các cơ quan báo chí, xuất bản, những thông tin hai chiều từ phía người dân đến với cơ quan công quyền và từ phía Nhà nước đến với người dân đã được cải thiện, nhiều vấn đề bức xúc của xã hội đã được phản ánh kịp thời và được xử lý, giải quyết nhanh chóng hơn. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử Quốc hội 2001, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân 2003, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn 2007... đã quy định rõ hơn quyền chính trị của công dân, bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân trong bầu cử, ứng cử và tham gia vào các công việc của Nhà nước, của xã hội theo hướng xác định rõ vai trò của Nhà nước, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, vai trò của cộng đồng dân cư cơ sở, việc gì các hiệp hội xã hội, cộng đồng dân cư làm tốt hơn thì để cho xã hội, hiệp hội làm, Nhà nước chỉ đứng ra tổ chức, hỗ trợ kinh phí, nhân lực, kinh nghiệm... Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo 2004, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2007... đã thể hiện rất rõ chính sách xã hội, tôn giáo, gia đình của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; thúc đẩy phong trào toàn xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức; chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa, các gia đình chính sách, các nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang; tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡi, tôn giáo của người dân, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc...
Việt Nam cũng đã dành những ưu tiên cụ thể trong xây dựng thể chế pháp lý hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, từng bước xác lập một cơ chế quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả hơn, tôn trọng quyền con người, cải cách mạnh mẽ nền hành chính, thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, với tư duy quản lý của một Nhà nước phục vụ dân, Nhà nước của dân, do dân, vì dân nhằm thay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm của một bộ phận quan chức, công chức theo tư duy hành dân, nhũng nhiễu, ban phát lợi ích cho dân. Việc ban hành và thực thi các Luật tổ chức Quốc hội 2002 (sửa đổi năm 2007) và các Luật tổ chức Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, Luật tổ chức HDND và UBND 2003, Luật Cán bộ công chức 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007... và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần hoàn thiện đáng kể bộ máy nhà nước theo tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN được đề cập trong Chương trình cải cách hành chính, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp.
Mục tiêu của giai đoạn tiếp theo là phải ban hành cho được các đạo luật tạo dựng một hình ảnh mới của một Nhà nước pháp quyền, nền hành chính và tư pháp hiện đại, như: nghiên cứu sửa đổi, bổ sung đồng bộ các luật về tổ chức bộ máy nhà nước (từ các quy định về bộ máy nhà nước trong Hiến pháp đến các luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Luật về Chính quyền địa phương (trên cơ sở tổng kết Đề án thí điểm mô hình không thành lập Hội đồng nhân dân ở một số cấp chính quyền), Luật Xử lý vi phạm hành chính, các luật về chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, các luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Luật về Hội, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Biểu tình, Luật về Thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở...) theo đúng các định hướng của Nghị quyết số 48/NQ-TW. Untitled3.Hien_1.png
 + Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thực hiện công bằng xã hội... Việt Nam cũng đã ban hành được nhiều đạo luật quan trọng. Thông qua việc ban hành Luật Giáo dục 2005, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động 2007, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006, Luật Dạy nghề 2006... đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; thực hiện xã hội hoá giáo dục; huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề... Việc ban hành Luật Công nghệ cao 2008, Luật Đa dạng sinh học 2008, Luật Chuyển giao công nghệ 2006, Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật Sở hữu trí tuệ 2005... nhằm thực hiện tốt chủ trương phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ, tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh, đồng thời tạo chính sách hấp dẫn để các công ty xuyên quốc gia đầu tư và chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp Việt Nam; chú trọng nhập khẩu công nghệ hiện đại; từng bước phát triển mạnh công nghệ trong nước, phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ. Nhà nước khuyến khích các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ mới, thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Ngoài ra, các chính sách về tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân... cũng từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Bảo hiểm xã hội 2006...
+ Trong các lĩnh vực quốc phòng an ninh, đối ngoại... Việt Nam cũng đã ban hành nhiều đạo luật thể hiện rõ độc lập chủ quyền và quyết tâm hội nhập quốc tế sâu rộng. Các Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004... đã quy chuẩn hoá các yêu cầu về bảo vệ biên giới lãnh thổ, an ninh quốc gia. Các Luật Tương trợ tư pháp 2007, Luật Ký kết gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế 2005... đang góp phần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
  Những chuyển biến tích cực bước đầu trong tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW cũng là kết quả cần được ghi nhận. Theo Kế hoạch số 900/2007/UBTVQH11 thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW, Quốc hội, Chính phủ đã đề ra các nhiệm vụ và lộ trình thực hiện cụ thể cho từng cơ quan hữu quan trong việc tăng cường năng lực của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật.
Năng lực hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và bộ máy giúp việc cho Quốc hội ngày càng được chủ trọng. Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử phối hợp với các cơ quan chức năng của Quốc hội xây dựng và thực hiện nhiều chương trình bồi dưỡng thiết thực theo chuyên đề về các kỹ năng và nội dung chính sách, pháp luật cho đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Viện Nghiên cứu lập pháp trực thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được thành lập năm 2008 là một thiết chế có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện các định hướng chiến lược về phát triển hệ thống pháp luật và tạo môi trường dân chủ nhằm huy động hiệu quả trí tuệ và sự quan tâm của xã hội vào hoạt động lập pháp của Quốc hội.
Nội dung và lộ trình tăng cường năng lực của các thiết chế  tổ chức thi hành pháp luật thuộc nhánh hành pháp và tư pháp, được thực hiện theo yêu cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2 (2006-2010) và Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn đến 2020. Sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 do Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp tổ chức, đã khẳng định sự chuyển biến tích cực, rõ rệt trong nhận thức của xã hội và của chính các cấp uỷ Đảng, các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng chống vi phạm pháp luật, tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý. Để thực hiện tốt hơn chức năng tổ chức thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước, Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi hành pháp luật với nhiệm vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật và đôn đốc các bộ, ngành, địa phương theo dõi việc thi hành pháp luật để định kỳ báo cáo Chính phủ về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của mình, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề án về theo dõi thi hành pháp luật làm cơ sở cho việc triển khai một cách hiệu quả công tác này trong năm 2010 và những năm tiếp theo.
Phát triển hệ thống thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật được coi là nhiệm vụ thường xuyên và liên tục của Chính phủ. Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp cùng với các bộ, ngành, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội tích cực triển khai nhiều hoạt động thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn theo các Chương trình 5 năm và Kế hoạch hàng năm của Chính phủ phù hợp với nội dung, kế hoạch và lộ trình triển khai Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW. Công tác này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân. Đội ngũ luật sư đã có những bước phát triển mạnh mẽ với hơn 5.000 luật sư sinh hoạt tại 62 Đoàn luật sư trong toàn quốc. Đại hội đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức thành công với sự ra đời của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong năm 2009 là dấu mốc lịch sử trên bước đường phát triển và hội nhập quốc tế của luật sư Việt Nam. Cùng với việc Quy hoạch hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý đã được Chính phủ phê duyệt, các luật sư và trợ giúp viên pháp lý là chỗ dựa tin cậy của Nhà nước và nhân dân trong việc tăng cường khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và Nhà nước.
 Phát triển hệ thống đào tạo nguồn nhân lực làm công tác pháp luật, là một trong những công tác trọng tâm của các chiến lược trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp. Các đề án về xây dựng Trường đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật và Đề án xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp đã được hoàn thiện và trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Ngoài đào tạo chuyên môn, các cơ sở đào tạo trên phải chú ý đặc biệt đến việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho các sinh viên và học viên đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của công tác pháp luật và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Bộ Tư pháp cũng đã trình Chính phủ xem xét phê duyệt Đề án về tổ chức hệ thống các trường trung cấp luật trong toàn quốc nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn cán bộ pháp luật ở cấp cơ sở theo hướng ngày càng chuyên nghiệp, chuyên trách hơn.
 Như trên đã trình bày, Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ hơn vào sân chơi quốc tế như WTO, APEC, ASEAN... theo đó, các yêu cầu về hội nhập không cho phép Việt Nam chậm trễ và trì hoãn trong việc xây dựng ban hành các thể chế pháp lý hài hoà với luật chơi quốc tế. Chính vì vậy, nhiệm vụ khẩn trương nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác ký kết, thẩm định và thực hiện các điều ước quốc tế, tư vấn pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế là mối quan tâm không chỉ của Nhà nước mà còn của chính cộng đồng các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, luật sư... Chính phủ đã và đang huy động có hiệu quả mọi nguồn lực hỗ trợ về tài chính, kinh nghiệm, kỹ năng của các tổ chức nghề nghiệp trong nước và quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp để mở rộng hợp tác trong lĩnh vực đào tạo luật và các chức danh tư pháp. Chương trình đào tạo luật sư hội nhập quốc tế cho Việt Nam tại một số nước có nền kinh tế thị trường và truyền thống pháp luật phát triển đã bắt đầu được triển khai. Việc nghiên cứu các chính sách phù hợp để thu hút các chuyên gia pháp luật và tư pháp ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo luật và các chức danh tư pháp cũng đã được dặt ra.
 *     *
*
Bên cạnh những kết quả kể trên, qua hơn bốn năm triển khai Nghị quyết số 48-NQ/TW, thực tiễn cũng đã cho thấy hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật còn rất nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước. Mặt khác, các định hướng và giải pháp của Nghị quyết số 48-NQ/TW chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2005-2010, còn thiếu những định hướng “có tầm nhìn” và các giải pháp cụ thể cho giai đoạn 2011-2020, nhất là khi Việt Nam bước vào triển khai các nhiệm vụ kinh tế, xã hội sẽ được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020. Chính vì vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Ban chỉ đạo sơ kết Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW nhằm đánh giá toàn diện, khách quan, đúng đắn về việc thực hiện Nghị quyết trong 5 năm qua, đồng thời đánh giá nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thập kỷ tới. Trên cơ sở đó, đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm xác định và cụ thể hoá các định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong Nghị quyết số 48/NQ-TW, đảm bảo lồng ghép các mục tiêu, nội dung chiến lược về hoàn thiện pháp luật và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vào Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2020, đồng thời phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ trước mắt là xây dựng Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII (2011-2016)./.
    
 
[1] Thống kê từ Website Luatvietnam.vn.

(Nguồn tin: Bài đăng trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3+4 (164+165), tháng 2/2010)