Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở nước ta

04/12/2019

GS.TS.NGUYỄN MINH ĐOAN

Trường Đại học Luật Hà Nội

Tóm tắt: Kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cũng là một cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, thường xuyên và lâu dài: đấu tranh trong chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, trong nội bộ mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị để tự kiểm soát mình; đấu tranh với đồng chí mình, với các bộ phận khác trong cơ quan của mình, với các cơ quan, tổ chức khác để bảo đảm cho quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước được thực hiện hiệu lực và hiệu quả nhất vì lợi ích, quốc gia, dân tộc, vì một đất nước văn minh, hạnh phúc.
Từ khóa: quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, kiểm soát

Abstract: Control of political power, state power is a difficult, complicated, regular and permanent fighting: it happens inside each cadre, party member, inside each organization, agency and unit to control themselves; constructive criticals given to his comrades, to other units in his agency, to other agencies and organizations to ensure that the political power and state power are enforced at the highest efficiency for the sake of the benefits of the nation, of the people and for a civilized and happy country.

 Keywords: political power, state power, controlling

 NMDoan---Ksoat-quyen-luc.jpg
 
(Ảnh minh họa: Nguồn internet)
1. Một số thuận lợi và khó khăn trong kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam
Quyền lực là khả năng của chủ thể này buộc các chủ thể khác phục tùng ý chí của mình, song trong nhiều trường hợp, quyền lực không phải là khả năng vốn có của chủ thể mà là khả năng do các chủ thể khác mang lại (giao cho). Quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay do nhân dân, cộng đồng giao cho Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội khác thực hiện. Để quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước được thực hiện đúng, có hiệu quả, không bị lạm dụng, lợi dụng vào các mục đích không hợp pháp, không chính đáng, thì cần phải có sự kiểm soát thật chặt chẽ.
   Trong xã hội hiện đại, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cần phải hợp pháp và chính đáng, nghĩa là, chúng phải được tổ chức và thực thi hợp pháp, hợp lý vì lợi ích của nhân dân. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho các quyền lực nói trên được nhân dân trong cả nước chấp thuận, ủng hộ, được các nước khác, các tổ chức quốc tế thừa nhận, giúp đỡ... Có thể nói tính hợp pháp, hợp lý là một trong những yêu cầu quan trọng trong tổ chức và hoạt động không chỉ của bộ máy nhà nước mà còn của bộ máy tất cả các tổ chức khác trong trong xã hội hiện nay. Điều đó chỉ có thể đạt được khi việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước được tiến hành thường xuyên, hiệu quả.
Vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đã được đặt ra từ rất sớm với nhiều cơ chế khác nhau. Bên cạnh những vấn đề mang tính phổ biến thì việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam có rất nhiều điểm đặc thù so với ở các quốc gia khác, như ở Việt Nam, chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vừa lãnh đạo, vừa thực hiện việc kiểm soát quyền lực. Hiện nay Việt Nam là một trong những quốc gia thống nhất, hiếm có quốc gia nào trên thế giới đa sắc tộc, nhưng lại tạo nên một dân tộc thống nhất, một đất nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất và một hệ thống chính trị thống nhất vì mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự thống nhất đó xét ở phương diện tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước có rất nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, hạn chế.
Ở Việt Nam, tất cả các tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do vậy, việc lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng CSVN là vô cùng thuận lợi. Bất kỳ vấn đề gì khi mà Đảng đã quyết thì mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức hợp pháp trong xã hội đều hưởng ứng và tổ chức thực hiện, nhằm hiện thực hóa quyết định của Đảng. Với một xã hội đoàn kết, thống nhất, luôn có sự phối hợp hành động, ủng hộ, giúp đỡ tận tình giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức và vì mục tiêu chung của quốc gia, dân tộc là điều kiện vô cùng thuận lợi cho Đảng, Nhà nước và xã hội. Có thể nói, Việt Nam đang có một Quốc hội thống nhất, một Chính phủ thống nhất và cả một hệ thống Tòa án thống nhất, tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất - Đảng CSVN. 
Ở Việt Nam không tồn tại các đảng đối lập, lực lượng đối lập có thể gây khó khăn cho Đảng, cũng như cho Nhà nước trong việc quyết định và thực hiện những đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của mình. Nhưng do không có sự cạnh tranh từ các đảng đối lập, các lực lượng đối lập nên động lực, sức ép, áp lực cho sự luôn vươn lên, phấn đấu không ngừng của Đảng cầm quyền, của Nhà nước không cao, dẫn đến sự bằng lòng, thỏa mãn với những gì đang có. Không có sự phản biện từ các đảng đối lập, lực lượng đối lập dễ làm cho sự thận trọng khi ra quyết định không nhiều, dễ xuôi chiều.
  Một số tổ chức đảng, cá nhân đảng viên ngại đấu tranh phê và tự phê, duy tình, cả nể trong công việc, sức chiến đấu với kẻ thù thì rất cao, nhưng chiến đấu với cái sai của đồng chí mình thì không cao, thường “dĩ hòa vi quý”, “thông cảm cho nhau”, thậm chi có trường hợp còn bảo vệ cái sai của nhau. Điều này dẫn đến một số cán bộ, đảng viên, kể cả những đảng viên giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng và Nhà nước, sĩ quan các lực lượng vũ trang phạm tội đã bị xét xử thời gian qua. Điều đó chứng tỏ vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở nước ta chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến nhiều vi phạm diễn ra trong những thời gian khá dài mới bị phát hiện. Do vậy, để có hiệu quả cao trong kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý.
2. Một số giải pháp tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý về kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
   Có thể khẳng định rằng, đổi mới tư duy pháp lý việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam đang là một trong những vấn đề bức thiết đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Để việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiệu lực, hiệu quả hơn, theo chúng tôi, cần chú trọng những giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải thấm nhuần quan điểm tất cả các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đều phải bị kiểm soát
Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi thực hiện quyền lực cũng có thể có những hạn chế, thiếu sót nhất định, thậm chí có thể lạm quyền. Việc lạm dụng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thường dẫn đến những hậu quả vô cùng nặng nề cho xã hội, cho các tổ chức và cá nhân. Do vậy, tất cả các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước đều phải bị kiểm soát, kể cả tổ chức Đảng CSVN. Không phải ngẫu nhiên mà Hiến pháp năm 2013 quy định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng CSVN hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, “Đảng CSVN gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Đường lối, chính sách của Đảng cần phải được phản biện, phải được xem xét, đánh giá từ nhiều phương diện, lực lượng khác nhau. Nếu đường lối, chính sách của Đảng chưa hoàn thiện thì phải có sự hoàn thiện trước khi triển khai thực hiện, nếu có những cách tiếp cận khác hay hơn, hiệu quả, phù hợp hơn thì phải điều chỉnh lại cho phù hợp, hiệu quả nhất. Việc phản biện, góp ý với Đảng phải được tiến hành bởi Nhà nước, Nhân dân, các tổ chức xã hội khác thông qua cơ chế đơn giản, thuận lợi, thiết thực và hiệu quả.
Để khắc phục những hạn chế của chế độ một đảng trong kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, chúng tôi cho rằng, cần tập trung củng cố, nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị hiện có trong giám sát, phản biện, tham gia góp ý xây dựng Đảng và Nhà nước. Nếu chỉ có Mặt trận giám sát, phản biện xã hội đối với chính sách của Đảng thì hiệu quả không cao, vì trong Mặt trận có tổ chức thành viên là Đảng CSVN (gần như Đảng lại giám sát, phản biện lại chính mình). Do vậy, ngoài Mặt trận, mỗi tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức khác trong xã hội đều có thể độc lập giám sát, phản biện, tham gia góp ý, xây dựng Đảng và Nhà nước. Bác Hồ đã từng nói rằng, dân chủ là phải làm sao cho dân dám mở miệng. Trong điều kiện hiện nay Đảng, Nhà nước phải làm sao cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội quan tâm nhiều hơn nữa và dám mạnh dạn phản biện, dám đưa ra những ý kiến, quan điểm của mình. Về phía các tổ chức, cơ quan của Đảng, của Nhà nước phải tạo điều kiện để Mặt trận, các tổ khác trong xã hội giám sát, phản biện, đóng góp ý kiến, lắng nghe, tranh luận với các ý kiến phản biện đó, đồng thời cũng kiểm tra lại tính đúng đắn, phù hợp trong các quyết định của mình.
Hai là, không ngừng hoàn thiện và đề cao Hiến pháp, pháp luật trong kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước
Việc kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước theo tinh thần pháp quyền, trong điều kiện nhà nước pháp quyền thì phải coi trọng tính pháp lý, nghĩa là, đề cao công cụ kiểm soát là Hiến pháp và pháp luật theo tinh thần: Hiến pháp và pháp luật có tính tối thượng, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng, thực hiện nghiêm Hiến pháp, pháp luật. Có thể khẳng định, truyền thống duy tình, cả nể trong các mối quan hệ xã hội không còn phù hợp trong xã hội văn minh, pháp quyền - một xã hội đòi hỏi phải sống, làm việc theo pháp luật, lấy pháp luật làm chuẩn mực trong các mối quan hệ xã hội quan trọng. Do vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luôn nhắc nhở “phải nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, quyền lực phải bị ràng buộc bằng thể chế, mà quan trọng nhất là Hiến pháp, pháp luật. Tất cả mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Điều này thể hiện chuyển biến rất rõ trong quan điểm của Đảng liên quan đến nội dung của Điều 4 Hiến pháp: Nếu Hiến pháp năm 1980 chỉ quy định “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”, thì Hiến pháp năm 1992 tiến thêm một bước đã quy định không chỉ trong khuôn khổ Hiến pháp mà cả pháp luật, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định không chỉ tổ chức của Đảng mà cả đảng viên Đảng CSVN cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Theo chúng tôi, đã đến lúc cần cụ thể Điều 4 của Hiến pháp bằng một Luật về Đảng CSVN để có điều kiện làm rõ hơn mối quan hệ giữa các tổ chức của Đảng, đảng viên với các cơ quan, tổ chức, nhân viên nhà nước. Việc xây dựng Luật về Đảng CSVN sẽ là căn cứ pháp lý không chỉ xác định phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức của Đảng mà còn là căn cứ để Nhân dân, các tổ chức, cá nhân kiểm tra, giám sát các tổ chức của Đảng, các cá nhân đảng viên thực hiện quyền lực của mình, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Nhà nước cần nhanh chóng xây dựng và ban hành Luật về Hội để các tổ chức hội đều có căn cứ pháp lý hoạt động, trong đó có hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước theo tinh thần quy định của Hiến pháp: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Tiến hành hoàn thiện các luật về tổ chức bộ máy nhà nước; các luật liên quan đến giám sát, thanh tra, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật; các luật liên quan đến khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí; Luật về Bảo vệ Hiến pháp... để “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Có các biện pháp để bảo đảm “pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để Nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước”[1]. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải nâng cao tinh thần, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tổ chức thi hành và thi hành Hiến pháp, pháp luật để Hiến pháp, pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để bởi tất cả các tổ chức và cá nhân trong xã hội, không có ngoại lệ.
  Ba là, xác định và quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan tham gia thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước làm căn cứ cho việc kiểm soát quyền lực
- Xác định và quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động của mỗi tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước
Có thể nói, hiện nay hầu hết các hoạt động lớn, quan trọng ở Việt Nam đều theo tinh thần “cả hệ thống chính trị vào cuộc” do vậy kiểm soát quyền lực nhà nước nói riêng, quyền lực nói chung phải được nhìn nhận trong tổng thể. Không thể kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan nhà nước nếu không kiểm soát việc lãnh đạo, việc tham gia thực hiện các quyền đó của các tổ chức của Đảng, của các tổ chức xã hội khác. Do vậy, cần phân công, phối hợp một cách cụ thể hơn, hợp lý hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan tham gia thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.
Hiện nay, sự phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở Việt Nam còn chung chung, chưa thật sự cụ thể, rõ ràng, dẫn đến hiện tượng cùng một việc nhưng nhiều tổ chức cùng tham gia, lấn sân lẫn nhau, đặc biệt là quan hệ giữa bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Một số cơ quan, lãnh đạo của Đảng đôi khi trực tiếp chỉ đạo, can thiệp quá sâu, quá mức cần thiết vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Một số cơ quan nhà nước đôi khi chưa chủ động, có biểu hiện ỷ lại, trong chờ vào các cơ quan của Đảng. Tất cả những điều đó dẫn đến sự vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay khá chậm, thậm chí có những sự việc rất chậm làm cho cả nước nói chung, từng cơ quan, tổ chức vẫn đang tiến lên, nhưng tốc độ rất chậm, chưa xứng với tiềm năng, khả năng của đất nước.
Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng cũng có giới hạn, Đảng không can thiệp vào những hoạt động có tính chất nghiệp vụ, kỹ thuật của Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội đã được Hiến pháp, pháp luật quy định. Việc xác định rõ phạm vi lãnh đạo của Đảng gồm các lĩnh vực, các vấn đề, mức độ lãnh đạo đối với Nhà nước và các tổ chức xã hội khác có ý nghĩa vô cùng lớn, nó tránh được hoặc là buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng hoặc sự can thiệp quá mức cần thiết (quá mức quy định) của các tổ chức đảng hoặc các cá nhân đảng viên có chức vụ vào công việc của Nhà nước và các tổ chức khác. Đồng thời, cần xác định đối với mỗi tổ chức việc gì họ phải chủ động thực hiện theo nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, việc gì phải có ý kiến chỉ đạo của tổ chức đảng tương ứng. Việc xác định phạm vi hoạt động của mỗi tổ chức cụ thể, rõ ràng cũng là cơ sở để quy trách nhiệm cho mỗi tổ chức đối với những công việc không được triển khai, triển khai không hiệu quả hoặc triển khai không đúng so với thể chế.
- Xác định và quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động của mỗi cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước.
Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ: cần “Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền”[2]. Do vậy, trong các văn bản luật cần quy định cụ thể hơn mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Cụ thể là:
+ Xác định rõ hơn quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ trong thực hiện quyền lập pháp
Trong điều kiện nhân sự của cả Quốc hội, Chính phủ, Tòa án đều là người của Đảng CSVN thì mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, đặc biệt là giữa Quốc hội và Chính phủ cần phải được quy định rõ ràng, cụ thể hơn. Lâu nay ở nước ta mọi người vẫn tranh luận về việc Quốc hội “làm lại” những dự thảo văn bản luật mà Chính phủ trình, trong khi các đại biểu Quốc hội chuyên trách không nhiều, hầu hết là đại biểu kiêm nhiệm, Quốc hội lại không hoạt động thường xuyên. Chúng tôi cho rằng, nếu không đồng ý với dự thảo luật mà Chính phủ trình thì Quốc hội cũng không nên tự sửa vào dự thảo luật, mà Quốc hội sẽ cho ý kiến về dự thảo (ý kiến chính thức của Quốc hội, chứ không phải của một hay một vài đại biểu), trả lại dự thảo yêu cầu Chính phủ (cơ quan trình) chỉnh sửa và trình lại. Bởi trong hoạt động lập pháp, Chính phủ và các cơ quan khác chịu trách nhiệm đề xuất sáng kiến lập pháp, thực hiện việc soạn thảo và trình dự thảo luật, Quốc hội là cơ quan quyết định cuối cùng. Cần hạn chế hoặc tiến tới quy định trừ Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không đồng thời là đại biểu Quốc hội để việc kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước của hai cơ quan này thực chất, hiệu lực và hiệu quả hơn.
+ Nâng cao vai trò của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong mối quan hệ với Quốc hội, với Chính phủ và trong việc giải thích Hiến pháp, pháp luật.
Điều 119 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”, do vậy, Quốc hội cần nhanh chóng xây dựng Luật về Bảo vệ Hiến pháp, cách thức, trình tự bảo vệ Hiến pháp của các cơ quan và Nhân dân. Theo chúng tôi, để bảo vệ Hiến pháp có hiệu quả thì ngoài quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và Nhân dân thì cần phải thiết lập một thiết chế chuyên trách bảo vệ Hiến pháp. Việc thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp không chỉ để bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, được thực hiện nghiêm minh, mà còn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ lợi ích của các tổ chức, cá nhân, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, giải quyết tranh chấp giữa các quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Phải phấn đấu để tiến tới áp dụng trực tiếp các quy định của Hiến pháp trong việc bảo vệ lợi ích của các tổ chức và cá nhân theo đúng quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý”.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi quyền tư pháp phải được đề cao, Tòa án không chỉ giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, hôn nhân và gia đình… mà còn phải giải quyết những tranh chấp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Do vậy, quy định cho thiết chế chuyên trách bảo vệ Hiến pháp thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và ra phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp luật, cũng như hành vi pháp luật của các tổ chức, cá nhân là phù hợp với sự phát triển của quyền lực tư pháp. Bởi cơ quan thực hiện quyền tư pháp, luôn nhân danh Quốc gia để xét xử, thì thiết chế chuyên trách bảo vệ Hiến pháp tiến hành giải thích mang tính phán quyết về các quy định của Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp sẽ hợp lý hơn. Việc giải thích Hiến pháp và phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp luật, cũng như hành vi của các tổ chức, cá nhân (nhất là của những cá nhân đảm nhiệm những chức vụ cao trong Nhà nước và xã hội) cần có sự khách quan, độc lập mà cơ quan có tính độc lập cao nhất trong các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước khi hoạt động (xét xử) luôn là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
+ Quy định rõ mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương các cấp theo hướng tăng tính tự chủ của địa phương, tăng cường kiểm soát của trung ương
Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, bảo đảm mỗi cấp chính quyền có nhiệm vụ, quyền hạn riêng của mình, các cấp hạn chế việc can thiệp vào nhiệm vụ, quyền hạn của nhau, đồng thời tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương. Việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước một cách rõ ràng giữa trung ương và địa phương sẽ tránh được tình trạng đùn đẩy không muốn thực hiện hoặc tranh nhau thực hiện đối với một số công việc nhất định của Nhà nước. Trung ương nên tập trung vào xây dựng chính sách vĩ mô, pháp luật, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất về mặt thể chế, còn mỗi địa phương được quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn được trao. Đối với nước ta hiện nay thì cần tiếp tục phân cấp nhiều hơn cho chính quyền cơ sở để phát huy khả năng sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Nhân dân và chính quyền cơ sở. Các đơn vị hành chính mỗi cấp cần chủ động tự giải quyết một số vấn đề nảy sinh trên địa bàn của mình để tránh sự ôm đồm bao biện của chính quyền cấp trên, làm mất sự chủ động, sáng tạo của chính quyền cấp dưới, giảm bớt sự trông chờ, ỷ lại vào cơ quan nhà nước cấp trên. Với sự thống nhất cao độ như đã nêu trên cần phải phân công thật rõ ràng, chính xác để không bị chồng lấn, nhưng cũng không để công việc cần thiết nào lại không có cơ quan, tổ chức nào đảm nhiệm. Phải làm sao để mỗi chủ thể đều phải tự chịu trách nhiệm về những gì mình được phân công, song cũng có thể góp ý, kiểm soát được chủ thể khác để cùng thực hiện công việc chung của tất cả các chủ thể, cũng như công việc riêng của mỗi chủ thể được tốt hơn, hiệu quả hơn. Các cơ quan nhà nước phải tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện bộ phận quyền lực nhà nước được phân công. Nếu các cơ quan nhà nước không tự kiểm soát được mình, thì làm sao có thể kiểm soát được các cơ quan khác trong thực hiện quyền lực nhà nước. Do vậy, phải xác định từng cơ quan, đơn vị tự kiểm soát lấy mình là chủ yếu và thường xuyên, còn kiểm soát ngoài theo định kỳ hoặc đột xuất là quan trọng.
Bốn là, thực hiện nghiêm chế độ công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong tổ chức, hoạt động của các tổ chức, cơ quan
Có thể nói công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức, hoạt động của các tổ chức, cơ quan nhà nước là một trong những yêu cầu, đòi hỏi của một xã hội dân chủ, một yếu tố để tạo lòng tin cho những tổ chức, cá nhân chịu sự lãnh đạo và quản lý. Ở Việt Nam, những hoạt động nói trên còn khá hạn chế, trong nhiều trường hợp người ta chỉ thông tin một phần sự thật và thường là những thông tin tốt về hoạt động của các tổ chức, cá nhân. Nếu không đủ thông tin cần thiết về sự việc, về tổ chức, cá nhân nào đó dễ dẫn đến có những quyết định thiếu chính xác. Chẳng hạn, thiếu những thông tin cần thiết về các ông Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh... nên Đảng và nhân dân đã có những quyết định thiếu chính xác khi chọn họ vào những vị trí quan trong trong bộ máy đảng và nhà nước. Do vậy, để kiểm soát việc thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thì tất cả những hoạt động công cộng không liên quan đến bí mật quốc gia hay bí mật nghề nghiệp... phải được công khai, minh bạch, phải được giải trình đầy đủ theo quy định của pháp luật. Nếu không công khai, minh bạch, không giải trình đầy đủ những thông tin cần thiết thì không có dân chủ thực sự, không có kiểm soát việc thực hiện quyền lực thực sự và hiệu quả. Dân chủ không chỉ thực hiện ở cơ sở mà còn cần được chú trọng thực hiện ở các cấp cao hơn.
Năm là, quy định và thực hiện nghiêm minh các biện pháp xử lý đối với những hoạt động, hành vi trái Hiến pháp, pháp luật trong quá trình thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước của các tổ chức, cá nhân
Một trong những mục đích của hoạt động kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là phòng ngừa, ngăn chặn hiện tượng thực hiện quyền lực không đúng quy định của các thể chế, đặc biệt là Hiến pháp, pháp luật, không đúng mục đích đề ra và không hiệu quả. Muốn đạt được mục đích trên thì phải quy địnhtrách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc, chặt chẽ, đầy đủ và áp dụng nghiêm minh đối với các cơ quan, cá nhân trong thực hiện quyền lực. Trong trường hợp các cơ quan, cá nhân không thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao, họ phải bị lên án, bị tẩy chay, nếu vi phạm thể chế thì phải bị trừng phạt. Để cơ quan và cá nhân có trách nhiệm cao hơn đối với quyền lực được giao, đòi hỏi đi đôi với việc giao quyền phải quy định chặt chẽ, đầy đủ cả trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý đối với mỗi cơ quan, cá nhân trong thực hiện quyền lực. Cần phải “có chế tài xử lý thích đáng những cán bộ vi phạm pháp luật, nhất là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý”[3]. Kiên quyết, xử lý nghiêm minh những vi phạm nếu có của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào theo tinh thần tất cả phải bình đẳng, phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình.
Đối với trách nhiệm pháp lý, cần quy định trách nhiệm theo cả nghĩa tích cực và cả nghĩa tiêu cực. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi trách nhiệm pháp lý của cơ quan, nhân viên nhà nước phải được hình thành trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp hợp pháp. Theo tinh thần đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Đảng CSVNchịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Các cơ quan khác như Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Chủ tịch nước phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, còn Ủy ban nhân dân phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân. Tuy vậy, trong Hiến pháp năm 2013 lại không quy định: Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Điều này đã được các Hiến pháp trước đây quy định, song Hiến pháp năm 2013 lại không quy định nữa. Do vậy, theo chúng tôi cần bổ sung quy định này để đề cao trách nhiệm của Quốc hội trước Nhân dân, điều này còn thể hiện các cơ quan khác của Nhà nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội tức là gián tiếp chịu trách nhiệm trước Nhân dân.
Sáu là, thiết lập cơ chế thuận lợi để nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước hiệu quả, kết hợp chặt chẽ kiểm soát của Nhà nước với kiểm soát của xã hội đối với các cơ quan và cá nhân thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước
Trong điều kiện hiện nay, ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì nên quy định Chủ tịch nước phải có trách nhiệm liên kết, thống nhất các tầng lớp nhân dân, thay mặt nhân dân để kiến nghị với Đảng, Nhà nước về những nguyên vọng chính đáng, hợp pháp của Nhân dân. Cần nghiên cứu bổ sung quy định trao cho Chủ tịch nước quyền thay mặt Nhân dân đề nghị Quốc hội xem xét lại đối với các quy định, các quyết định của Quốc hội mà Nhân dân hoặc một bộ phận lớn Nhân dân chưa đồng tình.
Để kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả, thiết nghĩ, cần có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa kiểm soát của các cơ quan nhà nước với kiểm soát của các tổ chức xã hội, trong đó coi trọng kiểm soát của các cơ quan Đảng, của Mặt trận và mỗi tổ chức thành viên của Mặt trận. Giảm bớt sự phụ thuộc của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác vào Nhà nước để hoạt động phản biện, kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức đó có hiệu lực và hiệu quả cao hơn.
Tôn trọng và lắng nghe những ý kiến có tính chất xây dựng của những tổ chức, những người không phải đảng viên đối với các quyết định của Đảng, những người không phải đại biểu Quốc hội đối với các quyết định của Quốc hội, các tổ chức, những người không phải công chức, viên chức nhà nước đối với các quyết định của Nhà nước. Phải tư duy rằng, Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ hay bất kỳ cơ quan nào không phải khi nào cũng đúng tuyệt đối hoặc cũng có phương án hay nhất, tốt nhất, không có hạn chế, khiếm khuyết, mà phải thấy rằng, mỗi hiện tượng, sự việc nếu được xem xét, tiếp cận từ nhiều phương diện, quan điểm khác nhau thì bao giờ cũng sẽ hoàn chỉnh hơn, có thể phát hiện ra những hạn chế, khiếm khuyết để có phương án khắc phục ngay từ đầu thì bao giờ cũng tốt hơn, đầy đủ, toàn diện hơn. Bởi thực tế cho thấy, những người có cùng chí hướng, cùng quan điểm thường có cách nhìn vấn đề tương đối giống nhau. Nếu họ có tranh luận thì cũng rất ít sự khác biệt, chưa kể là họ còn phải tuân theo kỷ luật của tổ chức mình khi đưa ra các quyết định.
Phải thấy rằng, Đảng CSVN dù là lực lượng ưu tú nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, song không phải mọi quyết định của Đảng là đúng, cũng có những quyết định của Đảng chưa chính xác, hoặc tổ chức triển khai chưa phù hợp dẫn đến kết quả không như mong muốn. Chẳng hạn, việc công hữu quá nhanh các tư liệu sản xuất mà không tính đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là người sản xuất; việc ồ ạt thành lập các tập đoàn kinh tế, mà không chú ý đến tính hiệu quả của việc làm đó... Thời gian gần đây, những đường lối, chính sách lớn của Đảng do cơ quan cao nhất của Đảng (Đại hội đại biểu toàn quốc) đã được công bố rộng rãi để các tổ chức, các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước góp ý. Đây là một bước phát triển dân chủ rất cao và cũng là biểu hiện Đảng CSVN không chỉ của giai cấp công nhân mà còn của cả dân tộc, phấn đấu vì lợi ích của cả dân tộc. Tuy vậy, cũng có một số chính sách do các cơ quan khác của Đảng đề xuất và quyết định thì chưa có được sự tham gia, kiểm soát đúng mức từ phía Nhân dân, các tổ chức khác trong xã hội. Thiết nghĩ, vấn đề này cũng cần có cơ chế để Nhân dân góp ý theo đúng tinh thần mà Đảng đã đề ra là: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra./.

 


[1] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 176.
[2] Đảng CSVN, Văn kiện XII, tlđd, tr. 176. 
[3] Đảng CSVN, Văn kiện XII, tlđd, tr. 310.
 

 

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12 (388), tháng 6/2019.)


Ý kiến bạn đọc