Hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam hiện nay

06/10/2021

TS. NGUYỄN THỊ HOA

Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt:Ngày 02/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1268/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức trọng tài thương mại, hoà giải thương mại; trong đó tại Mục III.1 có đặt ra nhiệm vụ là phải “nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng” hướng tới “hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại”. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, so sánh pháp luật trọng tài Việt Nam với pháp luật trọng tài nước ngoài để làm rõ những điểm bất cập trong pháp luật của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.
Từ khoá: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng, huỷ phán quyết trọng tài, thi hành phán quyết trọng tài, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Abstract: On October 2, 2019, the Prime Minister issued the Decision No.1268/QĐ-TTg approving the Project on improvement of the legal regulations on contracts and dispute resolution in this field throught commercial arbitration and mediation, in which Section III.1 sets out the task to “reviews of international experience in contractual dispute resolution” in order to “improvement of the mecanisme of contractual dispute resolution via commerial arbitration”. Within the scope of this article, the author provides an analysis of and comparation to Vietnam's arbitration law with foreign arbitration law to clarify inadequacies in Vietnam's law and also provides recommendations for further improvements.
Keywords: Dispute settlement by arbitration, fair settlement of disputes, annulment of arbitral awards, enforcement of arbitral awards, Law on Commercial Arbitration of 2010.
 TRỌNG-TÀI.png
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Tên gọi của Luật Trọng tài thương mại và quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Nếu chỉ nhìn vào tên gọi của văn bản, sẽ dễ đi đến suy luận rằng Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) chỉ điều chỉnh hoạt động trọng tài trong lĩnh vực thương mại. Tuy nhiên, Điều 2 Luật TTTM lại quy định phạm vi thẩm quyền của trọng tài rộng hơn, vì ngoài giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, trọng tài còn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên tham gia hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Với quy định nêu trên, trọng tài không chỉ giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại; có thể lấy ví dụ như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xây dựng cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài mặc dù theo khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020 (Luật Xây dựng) thì hợp đồng xây dựng là “hợp đồng dân sự” mà không phải là hợp đồng thương mại[2]. Sở dĩ tranh chấp trong lĩnh vực xây dựng có thể được giải quyết bằng trọng tài vì trong Luật Xây dựng[3] có quy định cho phép các bên được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; do đó có thể áp dụng khoản 3 Điều 2 Luật TTTM để đưa tranh chấp ra trọng tài. Như vậy, có thể nói, tên gọi của Luật TTTM chưa bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật và điều này có thể gây khó khăn cho những chủ thể áp dụng pháp luật, đặc biệt có thể làm cho luật của chúng ta không thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài. Ngay cả đối với các chủ thể trong nước, nếu không nghiên cứu kỹ và chuyên sâu về pháp luật trọng tài thì rất dễ hiểu lầm rằng, Luật TTTM không điều chỉnh các tranh chấp trong các lĩnh vực dân sự cụ thể khác. Có thể đó là lý do mà khi tiến hành khảo sát các chuyên gia[4] trong việc áp dụng Luật TTTM, rất nhiều ý kiến cho rằng phạm vi điều chỉnh của Luật TTTM là rất hẹp và đề xuất bổ sung thêm cho phép trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, lao động và nhà ở... Trong bối cảnh hiện nay, việc mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là cần thiết, không chỉ giúp giải quyết gánh nặng cho toà án mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Theo quy định tại Điều 2 TTTM thì phạm điều chỉnh của Luật này là khá rộng và nên chăng chúng ta nên mở rộng hơn nữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
1.1. Bài học kinh nghiệm từ nước ngoài
Trong lĩnh vực trọng tài, tại Quyển số IV của Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp có tựa đề rất ngắn gọn là “Trọng tài”. Liên quan đến thẩm quyền của trọng tài, từ Điều 2059 đến Điều 2061 Bộ luật Dân sự của Pháp; trong đó đáng chú ý là Điều 2059 quy định rằng, các chủ thể có thể thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với lĩnh vực mà các bên có quyền tự do định đoạt. Điều 2060 của Bộ luật này quy định, những trường hợp không được thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài bao gồm những vấn đề liên quan đến lý lịch, năng lực của các chủ thể, những vấn đề liên quan đến ly hôn, ly thân, những tranh chấp liên quan đến chủ thể công và một cách chung nhất là những vấn đề thuộc về trật tự công cộng trừ những trường hợp mà các chủ thể công trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại được pháp luật cho phép giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Ngoài Pháp, chúng ta có thể học tập kinh nghiệm của nước rất gần gũi với Việt Nam là Singapore. Singapore cũng ban hành Luật mang tên là “Luật trọng tài” (không sử dụng thuật ngữ “thương mại”) và Điều 4 của Luật này cho phép các bên được đưa ra trọng tài giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ hơp đồng và ngoài hợp đồng. Tại Anh, cũng chỉ ban hành “Luật Trọng tài 1996” – không có thuật ngữ “thương mại” và khoản 1 Điều 6 Luật này cho phép các bên được thoả thuận giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng như tranh chấp ngoài hợp đồng. Hoặc lấy một ví dụ khác như Trung Quốc cũng chỉ ban hành “Luật Trọng tài” và tại Điều 2 cho phép các bên thoả thuận giải quyết bằng trọng tài đối với cả tranh chấp ngoài hợp đồng về quyền và lợi ích liên quan đến tài sản của các bên.
1.2. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Như vậy, nếu Việt Nam muốn mở rộng và phát triển hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì việc sửa đổi Luật TTTM theo hướng như pháp luật nước ngoài là cần thiết. Theo tác giả, nên sửa “Luật Trọng tài thương mại” thành “Luật Trọng tài” và mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài ở “cả tranh chấp hợp đồng và tranh chấp ngoài hợp đồng”. Để hoàn thiện hơn, chúng ta nên liệt kê cụ thể những vấn đề không được giải quyết bởi trọng tài (mô hình của Pháp). Nếu chúng ta muốn bảo vệ một bên yếu thế nào đó trong từng lĩnh vực cụ thể theo pháp luật chuyên ngành thì có thể học theo cách mà Luật TTTM đã đưa ra để bảo vệ người tiêu dùng khi trao quyền từ chối thoả thuận trọng tài cho người tiêu dùng.  
2. Thẩm quyền của trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
2.1. Lẽ công bằng có thể được áp dụng bởi toà án Việt Nam để giải quyết tranh chấp mà không phải bởi trọng tài
  Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) tại Điều 45 đã cho phép toà án được giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật và cũng chưa có luật để áp dụng. Tuy nhiên, đối với trọng tài thì Điều 14 Luật TTTM quy định “1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; 2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thoả thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất”.
   Như vậy, dù là tranh chấp có hay không có yếu tố nước ngoài thì Hội đồng trọng tài đều phải giải quyết tranh chấp theo pháp luật mà không có quyền được giải quyết theo lẽ công bằng như toà án theo quy định tại Điều 45 BLTTDS. Nếu như nhìn vào Điều 45 BLTTDS thì lẽ công bằng có thể được áp dụng khi không có luật điều chỉnh. Vậy nếu tranh chấp đưa ra trọng tài mà chưa có pháp luật điều chỉnh thì làm thế nào để trọng tài có thể giải quyết tranh chấp theo pháp luật. Hơn thế nữa, ngay cả khi đã có luật điều chỉnh thì trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài, chúng ta đã cho phép các bên được lựa chọn luật áp dụng, vậy tại sao không cho phép các bên được lựa chọn giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng?
2.2. Phân biệt giữa giải quyết tranh chấp theo luật và giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
Liên quan đến việc trao thẩm quyền giải quyết theo lẽ công bằng cho trọng tài, Điều 1478 Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp quy định “trọng tài giải quyết tranh chấp phù hợp với quy tắc pháp luật trừ khi các bên trao quyền cho trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng”.
Trước khi có quy định này, tại Pháp cũng đã nảy sinh những tranh luận rất nhiều về việc có tồn tại sự khác biệt giữa việc giải quyết tranh chấp theo luật và giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Trong đó, có ý kiến cho rằng, giải quyết tranh chấp theo luật cũng không khác gì với giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng; bởi vì, trong giải quyết tranh chấp theo luật đã có công bằng và trong giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật[5] nên không cần phải trao thẩm quyền cho trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Về vấn đề này, đúng là giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng cũng phải tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai cách thức giải quyết nằm ở chỗ “quy định của pháp luật… sẽ xác định những giới hạn - tối thiểu và tối đa - giữa các khoảng giới hạn đó người ta hướng đến tìm kiếm những giải pháp phù hợp nhất”[6] cho từng vụ việc cụ thể. Hơn thế nữa, như Toà Phúc thẩm Paris của Pháp đã giải thích “thoả thuận cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng là một sự từ bỏ mang tính thoả thuận đối với những hiệu lực và lợi ích của luật, các bên mất quyền yêu cầu áp dụng một cách nghiêm khắc pháp luật và từ đó trọng tài nhận được thẩm quyền sửa đổi hoặc điều tiết những hậu quả của những quy định của hợp đồng khi mà yếu tố công bằng hoặc lợi ích chung của các bên đòi hỏi”[7]. Từ những lập luận trên có thể nhận định rằng, giải pháp được đưa ra bởi trọng tài áp dụng quy định của pháp luật có thể nặng nề hơn hoặc nghiêm khắc hơn giải pháp được đưa ra theo lẽ công bằng[8]. Do đó, có tồn tại sự khác biệt rõ ràng giữa việc giải quyết tranh chấp theo luật và giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Nhận biết được sự khác biệt này, rất nhiều quốc gia có “thị trường trọng tài”[9] giải quyết tranh chấp phát triển như Pháp, Bỉ[10], Thuỵ Sỹ[11]… đã cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng theo thoả thuận của các bên. Vậy, Việt Nam cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng như thế nào?
2.3. Cách thức để cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được áp dụng khi có thoả thuận nên mọi vấn đề phải dựa trên thoả thuận của các bên. Đối với việc giải quyết tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, có một nguyên tắc chung đã được công nhận tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, đó là các bên không được quyền chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp nên các bên cũng không có quyền để trao cho trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Vì vậy, chỉ nên cho trọng tài áp dụng lẽ công bằng với các điều kiện được đặt ra như đã đặt ra với toà án tại Điều 45 BLTTDS Việt Nam khi không có luật điều chỉnh và không thể áp dụng tập quán hay tương tự pháp luật đối với quan hệ tranh chấp không có yếu tố nước ngoài.
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì nên vận dụng theo mô hình của Pháp và các nước có quy định về lẽ công bằng là chỉ cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng khi các bên có thoả thuận rõ ràng về vấn đề này. Mô hình này cũng được quy định tại khoản 3 Điều 21 Quy tắc tố tụng trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) và cũng được pháp luật ở hầu hết các nước áp dụng khi cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Để áp dụng chính sách này, nên quy định rằng, thoả thuận giữa các bên phải được lập bằng văn bản có ghi rõ là “cho phép trọng tài giải quyết theo lẽ công bằng”. Ở đây, chúng ta trao cho các bên quyền thoả thuận áp dụng lẽ công bằng nên khi không có thoả thuận thì hội đồng trọng tài vẫn phải giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
3. Xác định địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Trong những ngày qua, cả thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử do hậu quả của dịch Covid-19. Mọi hoạt động của con người đã bị đình trệ hoặc bị thay đổi thay vì gặp mặt trực tiếp, các giao dịch để có thể tiếp tục thì hầu hết phải được thực hiện thông qua hỗ trợ của công nghệ hay nói cách khác là phải thực hiện trực tuyến. Do đó, việc giải quyết trực tuyến tranh chấp thương mại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Khi giải quyết tranh chấp trực tuyến thì có thể xảy ra tình huống là các thành viên của hội đồng trọng tài sẽ không có cuộc gặp mặt trực tiếp với các bên tranh chấp mà chỉ cần ở các nước khác nhau họp thông qua cuộc gọi trực tuyến (video call hoặc chat room). Vậy, phiên họp trực tuyến đó có phù hợp với thoả thuận về địa điểm của trọng tài hay không nếu như các bên thoả thuận địa điểm giải quyết tranh chấp tại Việt Nam nhưng các trọng tài viên lại được chọn từ các nước khác nhau như Pháp, Anh, Singapore. Nếu hội đồng trọng tài trong trường hợp này xét xử trực tuyến có bị xem là vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài và bị từ chối công nhận và cho thi hành do vi phạm thủ tục tố tụng theo điểm d khoản 1 Điều 5 của Công ước New York 1958 hoặc bị huỷ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM Việt Nam hay không? Hoặc nếu trọng tài xét xử trực tuyến thì nơi nào được xem là địa điểm giải quyết tranh chấp để có thể xác định luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài, xác định phạm vi tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài và thậm chí xác định cả thủ tục huỷ hay từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài”?
Liên quan đến địa điểm giải quyết tranh chấp, vấn đề này không được quy định trong các điều ước quốc tế mà tồn tại trong pháp luật quốc gia. Điều 3 Luật Trọng tài của Anh quy định địa điểm trọng tài là “địa điểm về mặt pháp lý được chỉ định bởi các bên; hoặc bởi cơ quan, chủ thể do các bên thoả thuận; hoặc bởi hội đồng trọng tài do các bên trao quyền hoặc nếu không có sự trao quyền của các bên thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định dựa trên các yếu tố liên quan đến thoả thuận trọng tài”.Như vậy, Luật của Anh nhìn nhận địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là “địa điểm về mặt pháp lý” mà không phải là địa điểm được xác định theo vị trí địa lý. Do đó, mặc dù các bên thoả thuận chọn địa điểm trọng tài tại Việt Nam nhưng theo quy định nêu trên thì các trọng tài vẫn có thể xét xử trực tuyến và việc này không ảnh hưởng đến việc xác định địa điểm giải quyết tranh chấp về mặt pháp lý là tại Việt Nam. Khi đó, phán quyết trọng tài được tuyên trực tuyến sẽ không bị xem là vi phạm tố tụng trọng tài và có thể được công nhận và cho thi hành tại Anh.
Tuy nhiên, Việt Nam không xác định yếu tố địa điểm trọng tài “là địa điểm về mặt pháp lý”[12] như quy định của pháp luật Anh. Khoản 8 Điều 3 Luật TTTM đã đưa ra định nghĩa về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài “là nơi hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên hoặc do Hội đồng trọng tài quyết định nếu các bên không có thoả thuận. Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phán quyết phải được xem là tuyên tại lãnh thổ Việt Nam mà không phụ thuộc vào nơi Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để ra phán quyết đó”. Theo đó, Việt Nam không xác định địa điểm trọng tài là “địa điểm về mặt pháp lý” mà là địa điểm về mặt địa lý. Do đó, sẽ có rủi ro cho phán quyết trọng tài xét xử trực tuyến bị từ chối công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc bị huỷ vì vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài. Vì vậy, trong tương lai, nếu Việt Nam muốn ủng hộ hoạt động trọng tài trực tuyến thì cần phải thay đổi quy định về vấn đề này.
Thiết nghĩ việc thay đổi theo hướng quy định như pháp luật của Anh là phù hợp vì không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động trọng tài trực tuyến mà còn giúp pháp luật của Việt Nam không bị mất quyền áp dụng trong các giao dịch quốc tế khác. Ví dụ, khi hai bên thoả thuận chọn trọng tài là Trung tâm Trọng tài của Singapore hoặc của Anh, nhưng thoả thuận địa điểm trọng tài về mặt pháp lý là tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu thực tế địa điểm về mặt địa lý của phiên họp giải quyết tranh chấp diễn ra tại Anh thì khi đó Luật Việt Nam sẽ không thể được áp dụng vì theo quy định tại Điều 1 thì Luật TTTM chỉ áp dụng đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam mà không áp dụng đối với hoạt động của trọng tài nước ngoài tại nước ngoài. Tuy nhiên, nếu chúng ta thay đổi khái niệm địa điểm trọng tài là địa điểm về mặt pháp lý thì dù rằng hội đồng trọng tài xét xử thực tế tại Anh nhưng địa điểm trọng tài vẫn là tại Việt Nam và khi đó Luật Việt Nam vẫn có thể được áp dụng.
4. Việc từ bỏ quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
Phán quyết trọng tài có thể bị huỷ bởi toà án được xem như là một trong những điểm bất lợi của thủ tục trọng tài và làm giảm sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Có chuyên gia đã từng nhận định rằng “trọng tài chỉ có thể là một công lý đầy hấp dẫn nếu sản phẩm của trọng tài thể hiện được uy quyền to lớn. Để làm được điều này thì quyết định trọng tài không thể bị phản đối một cách quá lâu hoặc quá dễ dãi. Nói cách khác, những yêu cầu nhằm chống lại phán quyết trọng tài cần phải được tiếp cận một cách rất hạn chế”[13]. Do đó, để phát triển thủ thục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cần giới hạn việc phán quyết trọng tài bị huỷ hay bị yêu cầu huỷ vô căn cứ. Hơn thế nữa, có những tình huống mà việc huỷ phán quyết trọng tài tại nước mà phán quyết trọng tài được tuyên là không cần thiết nếu như phán quyết đó không được thi hành tại nơi được tuyên mà được thi hành tại nước ngoài. Ví dụ như một phán quyết trọng tài được tuyên tại Việt Nam và bị huỷ thì vẫn có thể được công nhận và cho thi hành tại Pháp vì nước này không xem xét việc phán quyết trọng tài bị huỷ tại nước ngoài là cơ sở để từ chối công nhận và cho thi hành[14]. Chính vì vậy, để Việt Nam có thể là một địa điểm tốt cho sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại trọng tài bởi các chủ thể kinh doanh và đặc biệt là chủ thể kinh doanh quốc tế thì pháp luật Việt Nam cần phải có chính sách hạn chế việc huỷ phán quyết trọng tài, trong đó có việc trao quyền cho các bên thoả thuận từ bỏ việc yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài.
4.1. Yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài là quyền mà không phải nghĩa vụ của các bên
Luật TTTM quy định phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành (khoản 5 Điều 61) và Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài (Điều 65). Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài (khoản 1 Điều 66). Với quy định này, có thể thấy rằng, Việt Nam đã nhìn nhận việc yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài là quyền của các bên mà không phải nghĩa vụ. Do đó, nếu hết thời hạn kháng cáo huỷ mà không bên nào yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài sẽ được thi hành bởi cơ quan thi hành án theo yêu cầu của các bên liên quan. Nếu chúng ta đã thừa nhận quyền kháng cáo huỷ phán quyết trọng tài thì có lẽ không có lý do gì chúng ta lại không đi xa hơn một bước nữa là cho phép các bên được thoả thuận từ bỏ quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài.
Liên quan đến việc từ bỏ quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài, Điều 1522 Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp cũng có quy định “bằng một thoả thuận cụ thể, các bên có thể, tại bất kỳ thời điểm nào, từ bỏ một cách rõ ràng việc kháng cáo huỷ phán quyết trọng tài”. Như vậy, có thể nói, việc cho phép các bên thoả thuận từ bỏ quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài không phải là một vấn đề chưa từng được biết tới. Ngoài Pháp, cũng có rất nhiều quốc gia đã cho phép điều này[15]. Nếu Việt Nam đã nhìn nhận việc yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài là quyền mà không phải nghĩa vụ của các bên thì nên cho phép các bên được thoả thuận để từ bỏ quyền này. Việc quy định theo hướng mở rộng quyền tự do cho các bên như vậy đã được xem là cách để nước ngoài “marketing pháp luật” về trọng tài[16]. Điều này giúp cho pháp luật của chúng ta gần hơn với thế giới và cũng là cách tốt nhất để thu hút các nhà đầu tư lựa chọn Việt Nam là nơi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Nếu chúng ta lo ngại áp dụng cơ chế trên sẽ không đảm bảo an toàn pháp lý nếu cơ sở của việc huỷ phán quyết trọng tài là “phán quyết trọng tài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” thì lo lắng đó không cần thiết. Vì như quy định tại Điều 66 Luật TTTM thì ngay cả khi phán quyết trọng tài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà không có bên nào kháng cáo huỷ thì phán quyết đó vẫn có cơ hội được thi hành. Hơn thế nữa, chúng ta trao cho các bên quyền được thoả thuận chứ không tước quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài của các bên. Do đó, nếu một bên nào đó cảm thấy không được an toàn thì hoàn toàn có thể từ chối tham gia thoả thuận từ bỏ yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài trong một quan hệ thương mại được xem như là rất bình đẳng giữa các bên.
4.2. Cách thức hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Nếu tiếp thu quan điểm nêu trên, Việt Nam có thể áp dụng theo cách thực tế các nước đang áp dụng là cho phép các bên từ bỏ quyền kháng cáo huỷ phán quyết trọng tài nhưng với điều kiện là việc từ bỏ đó phải được lập bằng văn bản thể hiện rõ ý chí là “các bên đồng ý từ bỏ quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài” mà không phải theo hướng suy đoán hay ngầm hiểu. Ngoài ra, có thể cho phép các bên thiết lập thoả thuận từ bỏ đó “ở mọi thời điểm” sẽ là phù hợp.
5. Việc kháng cáo đối với quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
5.1. Không thể kháng cáo hoặc kháng nghị quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
 Để đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không bị kéo dài quá lâu, Việt Nam đã thông qua quy định tại khoản 10 Điều 71 Luật TTTM rằng, quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài sẽ là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Liên quan đến quy định này, có quan điểm cho rằng, Luật TTTM không hề giới hạn việc kháng cáo phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm đối với quyết định của toà án về việc huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài[17]. Do đó, trong những giai đoạn đầu của việc áp dụng Luật TTTM, đã có những vụ việc mà quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài là đối tượng của kháng cáo[18] lên Toà án nhân dân tối cao. Trước thực trạng áp dụng pháp luật nêu trên, ngày 13/01/2015 tại Văn bản số 07/TANDTC-KHXX về việc thi hành phán quyết trọng tài thương mại, Toà án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn “… toà án có quyền ra quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài. Quyết định của toà án huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Do vậy, khi xem xét giải quyết loại yêu cầu này, các toà án cần thận trọng, xem xét khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, các vấn đề khác của vụ việc và căn cứ vào pháp luật hiện hành để có quyết định chính xác, từ đó góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Với hướng dẫn nêu trên của Toà án nhân dân tối cao thì không còn cơ hội nào cho việc kháng cáo hay kháng nghị đối với quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Cách áp dụng pháp luật trọng tài này có thể xem như là một minh chứng cho sự ủng hộ hoạt động trọng tài của Nhà nước Việt Nam. Vấn đề đặt ra là cách làm trên có thực sự hiệu quả hay không?
5.2. Bất cập của chính sách không kháng cáo, kháng nghị quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
Thực tế áp dụng chính sách nêu trên đã cho thấy những bất cập, theo đó cùng về một vấn đề, toà án các địa phương đã đưa ra cách giải quyết trái ngược nhau. Có thể lấy ví dụ từ các giải pháp của toà án địa phương được đưa ra trước câu hỏi rất thời sự hiện nay là việc tuân thủ thủ tục tiền tố tụng trọng tài trong các thoả thuận giải quyết tranh chấp đa tầng.
Trọng thực tiễn hợp đồng kinh doanh quốc tế hiện nay, thường tồn tại một thoả thuận giải quyết tranh chấp đa tầng như tranh chấp phát sinh trước tiên phải được giải quyết bằng con đường hoà giải hoặc ý kiến chuyên gia, nếu không thể giải quyết tranh chấp thì các bên có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài, như ví dụ Điều 20 của mẫu Hợp đồng Red Book 1999 của FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn) trong lĩnh vực xây dựng quy định như sau:
“20.2. Mọi tranh chấp phát sinh sẽ được giải quyết bởi Ban xử lý tranh chấp (DAB)[…];20.5. Nếu một bên không hài lòng với quyết định của DAB thì các bên có thể lỗ lực giải quyết bằng con đường thương lượng hoà giải trước khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng trọng tài […]; 20.6. Nếu không thể giải quyết bằng thương lượng, hoà giải thì tranh chấp sẽ được giải quyết một cách dứt điểm bởi trọng tài quốc tế […]”.
Với tình huống một thoả thuận giải quyết tranh chấp đa tầng như trên thì câu hỏi đặt ra là một bên có được bỏ qua thủ tục tiền trọng tài để đưa tranh chấp trực tiếp ra trọng tài hay không?
Về vấn đề này, trên thực tế, Toà án nhân dân Tp. Hà Nội[19] đã có dịp thụ lý yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM với lý do là Hội đồng trọng tài đã vi phạm thủ tục tố tụng vì thụ lý yêu cầu của nguyên đơn để giải quyết tranh chấp khi mà các bên chưa có bất kỳ động thái nào để thực hiện bước 1 - giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà giải. Trước yêu cầu này, Toà án nhân dân Tp. Hà Nội đã cho rằng “Khi hai bên phát sinh tranh chấp mà chưa được giải quyết theo bước 1 tại Điều 4 của hợp đồng […] là chưa tuân thủ đúng thoả thuận của các bên, trái với các quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM. Hội đồng trọng tài thụ lý vụ kiện khi chưa đầy đủ điều kiện tố tụng, các điều kiện thụ lý chưa đầy đủ là không đúng quy định của pháp luật Việt Nam”. Do đó, Toà án trong tình huống này đã huỷ toàn bộ phán quyết trọng tài.
Tuy nhiên, một vụ việc khác cũng liên quan đến yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài với lý do trọng tài đã giải quyết tranh chấp khi hai bên chưa có việc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán, hoà giải đã được Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp hoàn toàn trái ngược để từ chối huỷ phán quyết trọng tài. Toà án[20] trong vụ việc này đã cho rằng, “Các lý do của bị đơn nêu trên liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, theo quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật TTTM thì toà án không xét xử lại nội dung tranh chấp mà hội đồng trọng tài đã giải quyết. Vì vậy, các lý do nêu trên của bị đơn để yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài là không có căn cứ để chấp nhận”.
Như vậy, cùng một vấn đề pháp lý và cùng áp dụng Luật TTTM Việt Nam nhưng hai toà án đã có giải pháp hoàn toàn trái ngược nhau. Cụ thể Toà án nhân dân Tp. Hà Nội cho rằng, không tôn trọng thủ tục tiền tố tụng trọng tài thuộc vấn đề vi phạm tố tụng trọng tài nên huỷ phán quyết trọng tài; trong khi đó Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lại xác định đó là vấn đề thuộc về nội dung vụ kiện nên Toà án không xét xử lại nội dung tranh chấp. Sự xung đột trong xét xử này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thi hành phán quyết trọng tài[21]. Sở dĩ tồn tại sự trái ngược trong xét xử và áp dụng pháp luật nêu trên là vì quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng mà không có một sự giám sát nào bởi toà án cấp cao. Chúng ta chưa cần phân tích tính hợp lý hay đúng - sai của hai quyết định của hai Toà án, nhưng tình huống trên có thể dẫn đến làm mất lòng tin của người dân và doanh nghiệp đối với công lý. Điều này sẽ trầm trọng hơn nếu như có những quyết định của Toà án có sai sót trong việc áp dụng pháp luật[22].
Từ hai vụ việc trên cho thấy, việc có một cơ chế giám sát đối với quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết của trọng tài để đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất trên phạm vi cả nước là hoàn toàn cần thiết để hạn chế và loại bỏ sai sót cũng như đảm bảo được tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.
5.3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Luật TTTM cần phải được sửa đổi theo hướng cho phép một kháng cáo hoặc kháng nghị lên Toà án nhân dân tối cao đối với quyết định của toà án giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Để hạn chế việc các bên lợi dụng việc kháng cáo để kéo dài thời gian thi hành phán quyết trọng tài cũng như ủng hộ sự phát triển của trọng tài thì nên chỉ áp dụng kháng cáo đối với quyết định bất lợi đối với phán quyết trọng tài, cụ thể là quyết định huỷ phán quyết trọng tài[23]. Chúng ta không nên lo ngại rằng, nếu đưa cơ chế này vào Luật TTTM sẽ làm giảm tính hấp dẫn của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, vì các quốc gia có nền trọng tài được xem là phát triển nhất thế giới như Pháp cũng vẫn cho phép kháng cáo lên Toà án nhân dân tối cao đối với quyết định giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Thậm chí Pháp còn cho phép kháng cáo đối với cả quyết định không huỷ phán quyết trọng tài. Ngoài Pháp, Luật Trọng tài 1996 của Anh tại Điều 68, 69 cũng cho phép quyết định huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài có thể bị kháng cáo.
Nhìn lại hai vụ việc nêu trên, nếu như tồn tại một cơ chế kháng cáo thì Toà án nhân dân tối cao có thể đưa ra một giải pháp định hướng để các toà án địa phương có thể đưa ra những quyết định mang tính thống nhất khi giải quyết cùng một vấn đề pháp lý.
6. Vấn đề hoãn thi hành phán quyết trọng tài khi yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài
Khoản 1 Điều 66 Luật TTTM Việt Nam quy định “hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài”. Quy định nêu trên có thể cho phép suy luận rằng, việc thi hành phán quyết trọng tài sẽ không thể được thực hiện nếu có yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài. Điều này có thể bị lợi dụng bởi bên không thiện chí nhằm kéo dài thời gian thi hành phán quyết trọng tài.
Về vấn đề này, pháp luật Việt Nam khác với pháp luật của Pháp ở chỗ Điều 1562 Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp quy định, “kháng cáo huỷ phán quyết trọng tài không thể nào làm hoãn việc thi hành phán quyết”. Cũng theo Điều khoản trên, việc hoãn thi hành phán quyết trọng tài chỉ được cho phép bởi thẩm phán thụ lý yêu cầu khi thấy cần thiết. Trường hợp này tương tự pháp luật Thuỵ Sỹ khi khoản 1 Điều 190 Luật Tư pháp quốc tế của Thuỵ Sỹ quy định phán quyết trọng tài là “cuối cùng/chung thẩm” (“sentence définitive”) kể từ khi nó được thông báo, mặc dù ở Thuỵ Sỹ, thẩm phán vẫn có thể ra quyết định hoãn thi hành phán quyết trọng tài nhưng việc này là có điều kiện yêu cầu và “trong lĩnh vực trọng tài quốc tế, việc hoãn thi hành phán quyết trọng tài rất hiếm khi được chấp nhận. Người yêu cầu hoãn thi hành phán quyết trọng tài phải chứng minh được rằng yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài có nhiều cơ hội được chấp nhận và việc thi hành ngay phán quyết trọng tài có thể gây cho họ một thiệt hại không thể khắc phục được”[24].Pháp luật Hà Lan cũng có hướng tương tự khi khoản 1 Điều 1066 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)Hà Lan quy định “yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài không hoãn việc thực thi phán quyết trọng tài”. Tại Hà Lan, yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài không đương nhiên làm hoãn việc thi hành phán quyết mà một bên nếu muốn hoãn việc thi hành phán quyết thì phải cầu Toà án thụ lý yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài cho đến khi toà án có quyết định cuối cùng về việc huỷ hoặc không huỷ phán quyết trọng tài (khoản 2 Điều 1066 BLTTDS).
Như vậy, các nước có nền trọng tài phát triển đều không cho phép yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài đương nhiên dẫn đến hoãn thi hành phát quyết trọng tài. Việt Nam cần tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài này; theo đó chúng ta nên quy định về việc hoãn thi hành phán quyết trọng tài chỉ được áp dụng khi có yêu cầu và được toà án huỷ phán quyết trọng tài chấp nhận. Thiết nghĩ việc kháng cáo huỷ không đương nhiên dẫn đến việc huỷ pháp quyết trọng tài và sự thật hiển nhiên là tỷ lệ quyết định trọng tài bị huỷ thấp hơn tỷ lệ phán quyết trọng tài bị từ chối huỷ. Do đó, nếu cho phép yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài dẫn tới đương nhiên hoãn thi hành phán quyết trọng tài thì sẽ dẫn đến rất nhiều phán quyết trọng tài bị hoãn thi hành một cách bất hợp lý./.

 


[1]Bài viết này có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài mã số 505.01-2020.02 với chủ đề “Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS. TS. Đỗ Văn Đại làm chủ nhiệm. Đề tài nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED).
[2] Liên quan đến lĩnh vực tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài, PGS,TS. Đỗ Văn Đại đã có nghiên cứu và phân tích rất kỹ những tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài; trong đó có nhận định rằng, có những tranh chấp không thuần tuý mang bản chất thương mại cũng có thể được giải quyết tại trọng tài. Ví dụ như tranh chấp giữa một bên là Nhà nước và nhà đầu tư, tranh chấp ngoài hợp đồng nếu có thoả thuận trọng tài: Xem Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 47 và tiếp theo.
[3] Điểm b khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng cho phép các bên có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài.
[4] Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, nhóm nghiên cứu có lập phiếu khảo sát các chuyên gia là các luật sư, thẩm phán và trọng tài viên trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
[5] Xem tổng hợp tranh luận về vấn đề này trong nghiên cứu của Nguyen Thi Hoa, Les procédures de règlement des litiges en matière de construction appliquant les contrats-types FIDIC” – Thèse de doctorat en droit soutenue le 21 décembre 2018à l’Université Panthéon-Assas Paris II, publié dans la Biliothèque Cujas,pp. 201-203.
[6] René David, Le droit comparé: droit d’hier et droit de demain, Economica, 1982, p.100.
[7] C.A Paris, le 28/6/1996, Rev. Arb. 1997, P. 380, Note. É. Loquin.
[8] Xem phân tích kỹ hơn trong Nguyen Thi Hoa, tlđd (note 6), pp. 204-207.
[9] Thuật ngữ “thị trường trọng tài” đã được biết đến khi mà Toà án phúc thẩm Riems của Pháp sau khi huỷ phán quyết trọng tài đã nêu lên vấn đề về “chuyên nghiệp hoá chức năng của trọng tài”, xem Jean-Babtiste Racine, “Note - 22 Juin 2010, UK Court of Appeal (civil division), Revue de l’arbitrage, (Comité francais de l’arbitrage, Volume 2011, Issue 4), p. 1026-1041. Sau đó, thuật ngữ này được dùng phổ biến, xem Vincent Chantebout, “Note – 29 Juin 2011, Cour de cassation (1er Ch. Civil), Revue de l’arbitrage (Comité francais de l’arbitrage, Volume 2011, Issue 4), p. 962-969. Đến nay thì không ai còn tranh cãi về sự tồn tại một “thị trường trọng tài”, xem Thomas Clay et Walid Ben Hamida, “l’argent dans l’arbitrage”, Lextenso 2013, p.13-28.
[10] Khoản 3 Điều 1710 Bộ luật Tư pháp của Bỉ (Code Judiciaire).
[11] Điều 187 của Luật Liên bang về Tư pháp quốc tế (Loi fédérale sur le droit international privé).
[12] Xem thêm phân tích tại “Virtual Hearing to the Rescue: Let’s pause for the seat?, Kluwer Arbitration Blog: http://arbitrationblog.kluwerarbitration.com.bcujas-ezp.univ-paris1.fr/2020/07/13/virtual-hearings-to-the-rescue-lets-pause-for-the-seat/, truy cập ngày 01/12/2020.
[13] Christophe Seraglini, “l’efficacité et l’autorité renforcées des sentences arbitrales en France après le Décret No2011-48 du 13 janvier 2011”, Cahiers de l’arbitrage, No2, 01/4/2011, p.375 et s.
[14] Trong khoa học pháp lý về trọng tài, người ta cho rằng, trọng tài giải quyết tranh chấp mang tính quốc tế “không có tính quốc gia/không thuộc về một quốc gia nào” nên vị trí của trọng tài không phải là yếu tố quan trọng để toà án quốc gia nơi phán quyết trọng tài được tuyên kiểm soát đối với phán quyết trọng tài. Xem Julien Burda, “La renonciation au recours en annulation dans le nouveau droit français de l’arbitrage”, RTD. Com. 2013, p. 653.
[15] Ví dụ Điều 25 Luật thống nhất về trọng tài của Hohada (sửa đổi năm 2017), Điều 192 của Luật liên bang về Tư pháp quốc tế của Thuỵ Sỹ.
[16] Charles Jarrosson, “Les principales tendances du nouveau droit français de l’arbitrage international”, Arbitraje: Revista de Arbitraje Comercial y de Inversiones; Iprolex 2011, Volume 4, Issue 3, p. 812-821.
[17] Đỗ Văn Đại, Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 2, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2017, tr.192.
[18] Xem Quyết định kháng nghị số 63/2013/KDTM.KN ngày 01/11/2013 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; hoặc Quyết định số 137/2013/QĐ-KDTM ngày 23/7/2013 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại TP. Hồ Chí Minh.
[19] Quyết định số 10/2014/QĐ-PQTT ngày 28/10/2014 của Toà án nhân dân Tp. Hà Nội.
[20] Quyết định số 795/2017/QĐ-PQTT ngày 27/6/2017 của Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.
[21] Vấn đề này cũng tồn tại trên phạm vi quốc tế. Tuy nhiên, thiết nghĩ nếu chúng ta ủng hộ sự phát triển của trọng tài thì không nên huỷ phán quyết trọng tài trong tình huống này với lý do là vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài. Vì theo quy định tại Điều 31 Luật TTTM, thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được xác định từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện hoặc khi đơn khởi kiện được gửi đến cho bị đơn mà không tính thời điểm tiền tố tụng trọng tài. Do đó, việc không tuân thủ bước 1 -hoà giải, đàm phán trước khi đưa tranh chấp ra trọng tài không nằm trong tố tụng trọng tài nên không thể huỷ phán quyết trọng tài do vi phạm tố tụng. Hơn thế nữa, việc tôn trọng thủ tục tiền trọng tài (thường mang tính chất thoả thuận hay hợp đồng của các bên mà không phải bắt buộc của luật) có cùng bản chất với tuân thủ bất kỳ điều khoản hợp đồng nào khác và hội đồng trọng tài có quyền tự quyết trên cơ sở cân nhắc mọi tình huống của hợp đồng. Do đó, nên nhìn nhận vấn đề trên là thuộc về nội dung của phán quyết trọng tài mà Toà án thụ lý yêu cầu huỷ phán quyết trọng trọng tài không có quyền can thiệp. Giải pháp này cũng được Pháp áp dụng để ủng hộ phán quyết trọng tài (xem CA Paris, Pôle 01. Ch. 01 26/6/2012, No10/18442, Lextenso.fr.)
[22] Xem Đỗ Văn Đại, tlđd, tr.197.
[23] Đây cũng là quan điểm mà Trọng tài Viên Lê Thiết Hùng-Trung tâm Trọng tài Thương mại Tài chính Ngân hàng Việt Nam khi được khảo sát lấy ý kiến nhằm phục vụ nghiên cứu Đề tài “Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS. TS. Đỗ Văn Đại làm chủ nhiệm.
[24] Jean-François Poudret, “Les recours au Tribunal fédéral suisse en matière d'arbitrage international (Commentaire de l'art. 77 LTF)”, ASA Bulletin 2007, p.683.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12 (436), tháng 6/2021.)


Ý kiến bạn đọc