Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp

03/10/2019

TS. Đoàn Thị Phương Diệp

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Thời gian áp dụng Bộ luật Dân sự năm2015 trong thực tiễn là chưa đủ để có thể nhìn nhận và phân tích những ưu điểm cũng như những hạn chế trong các quy định. Do vậy, việc phân tích, so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật Pháp - một hệ thống pháp luật khá tiên tiến và nhiều tương đồng, để có cách hiểu cũng như cách giải thích phù hợp với thực tiễn, là một việc cần thiết, để từ đó chúng ta có cơ sở cho những đề xuất nhằm làm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành.
Từ khóa: luật hợp đồng, hợp đồng vô hiệu
Abstract: The enforcement duration of the Civil Code of 2015 in practice is long not enough for comprehensive perceptions and analysis of the advantages and shortcoming of its provisions. Therefore, it is necessary to seek analysis and comparison of Vietnamese law with the French one - an advanced law system that is considered as a similar one to Vietnamese law in order to see an understanding as well as an practical appropriateness, from which it may establish a solid ground for recommendations of further improvements to the provisions of the current law.
Keywords: contract law, invalid contract
Untitled_57.jpg 
 
Ảnh minh họa: nguồn internet
 
 
1. Những thay đổi của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam trong bối cảnh áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015
Sự thống nhất trong các quy định về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay. Chế định “hợp đồng dân sự” quy định trong Bộ luật Dân sự(BLDS) năm 1995 được BLDS năm 2005 thay bằng “Hợp đồng” và được BLDS năm 2015 quy định chung trong phần thứ ba về “Nghĩa vụ và hợp đồng”. Sự thay đổi tên gọi trong này hàm ý rằng, BLDS năm 2015 sẽ là văn bản xác lập nguyên tắc chung về hợp đồng, các quy định của Luật Thương mại năm 2005 hay Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Kinh doanh bảo hiểm…. sẽ điều chỉnh các hợp đồng chuyên biệt cho từng lĩnh vực. Điều này bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau.
Vấn đề về giao kết hợp đồng. BLDS năm 2015 bổ sung hai điểm mới có vai trò như điểm nhấn làm nên sự sinh động trong các quy định của BLDS 2015, đó là quy định về đề nghị giao kết hợp đồng “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”[1] và quy định về thông tin trong giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 387 BLDS.
Điểm mới thứ nhất liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng. Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng(sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”. Với quy định này, BLDS 2015 đã xác định cụ thể chủ thể được đề nghị giao kết hợp đồng. Các chủ thể này gồm “bên đã được xác định” hoặc “công chúng”. Quy định này cho thấy, pháp luật chấp nhận đề nghị cho hai chủ thể, một chủ thể cụ thể được xác định trong đề nghị và chủ thể thứ hai là bất kỳ người nào chấp nhận đề nghị với một đề nghị được đưa ra cho đại chúng. Quy định này của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương đồng với Điều 1114 Lệnh số 2016-131 của Cộng hoà Pháp về sửa đổi pháp luật hợp đồng về chủ thể được đề nghị giao kết hợp đồng: “Đề xuất giao kết hợp đồng được đưa ra cho một chủ thể cụ thể hoặc không xác định bao gồm các yếu tố cơ bản của hợp đồng được dự kiến, thể hiện ý chí của tác giả và bị ràng buộc trong trường hợp đề nghị được chấp nhận. Nếu thiếu vắng các yếu tố cơ bản này thì xem như chỉ có lời mời tham gia đàm phán”[2]. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, bởi vì, BLDS vẫn cho phép, trong một số trường hợp, tình trạng im lặng được xem là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng[3] và “hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” (khoản 1 Điều 400 BLDS 2015) sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quy định chưa phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị đàm phán hợp đồng.
Điểm mới thứ hai liên quan đến thông tin trong giao kết hợp đồng. Theo quy định của khoản 1 Điều 387 BLDS 2015, “trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết” và các bên chịu tránh nhiệm giữ bí mật thông tin cho nhau. Quy định này tạo ra một nghĩa vụ “tiền hợp đồng” giữa các bên, nghĩa vụ này đi liền ngay sau đó là chế tài về bồi thường thiệt hại với tư cách là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo chúng tôi, quy định này không có ý nghĩa nhiều trong thực tiễn áp dụng luật. Bởi lẽ, ngay cả khi không có quy định này, giả định rằng một bên biết về những thông tin có ảnh hưởng quan trọng đến việc giao kết hợp đồng nhưng không báo cho bên kia, sau khi hợp đồng được giao kết mới phát hiện ra những thông tin này thì tuỳ thuộc vào trường hợp xảy ra trong thực tiễn hành động không cung cấp thông tin có thể được được xem là lừa dối hoặc gây ra một sự nhầm lẫn cho việc giao kết hợp đồng. Khi đó, bên bị lừa hoặc nhầm có thể yêu cầu toà án tuyên bố vô hiệu hợp đồng cùng với việc yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu có. Như vậy, không cần đến quy định tại Điều 387 BLDS 2015 thì nghĩa vụ này cũng đã đặt ra giữa các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng với tư cách là một nghĩa vụ phải ngay thẳng và trung thực trong vấn đề đề nghị và giao kết hợp đồng.
Vấn đề thực hiện và chấm dứt hợp đồng. BLDS 2015 bổ sung hai quy định có ý nghĩa dưới tác động của pháp luật quốc tế.
Thứ nhất, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420 BLDS 2015). Theo quy định này, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án cho phép chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Quy định này giúp “bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng, cân bằng quyền và lợi ích khi có sự chênh lệch quá mức, loại bỏ bất công, bảo đảm lẽ công bằng trong xã hội”[4]. BLDS cũng xác định rõ hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.
Điều 1195 BLDS Cộng hoà Pháp có quy định khá tương đồng “Trong trường hợp có sự thay đổi không lường trước được tại thời điểm ký kết hợp đồng khiến cho việc thực hiện quá tốn kém cho một bên mà bên này không đồng ý chấp nhận rủi ro đó, thì bên đó có thể yêu cầu đàm phán lại hợp đồng. Hợp đồng tiếp tục được thực hiện trong quá trình đàm phán lại.
Trong trường hợp từ chối đàm phán lại hoặc đàm phán không thành công, các bên có thể thoả thuận về chấm dứt hợp đồng, vào ngày và theo các điều kiện mà họ xác định, hoặc yêu cầu thẩm phán đồng ý với sự điều chỉnh này của họ. Trong trường hợp không có thỏa thuận trong một thời gian hợp lý, thẩm phán có thể, theo yêu cầu của một bên, sửa đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng vào thời điểm và với các điều kiện đã sửa đổi”.
Trên cơ sở so sánh với Điều 420 BLDS Việt Nam 2015 nêu trên, có thể thấy quy định của luật Việt Nam khá cụ thể và chặt chẽ trong việc giải thích rõ các điều kiện cho phép không tiếp tục thực hiện (chấm dứt) hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chúng tôi cho rằng, tinh thần của điều luật hoàn toàn phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam trong bối cảnh áp dụng nguyên tắc về tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên vì suy cho cùng, hợp đồng là kết quả của sự thoả thuận tự nguyện và rằng các bên phải chịu trách nhiệm với các quyết định của mình khi tham gia vào hợp đồng. Với nhìn nhận như vậy, có thể thấy pháp luật hợp đồng Việt Nam một mặt thừa nhận thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này[5], mặt khác giữ lại những nét riêng cần có phù hợp với bối cảnh pháp lý của Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (Điều 419 BLDS 2015). BLDS 2015 tiếp tục kế thừa quy định của BLDS 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả về vật chất và tinh thần trong trường hợp có hành vi vi phạm hợp đồng. Điều này có nghĩa là, việc bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ tiếp tục không đặt ra trong khuôn khổ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, BLDS 2015 khẳng định rằng, “trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” (Điều 360 BLDS 2015) và “bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình” (Điều 362 BLDS 2015).
Về chấm dứt hợp đồng,không có sự thay đổi đáng kể trong quy định của BLDS 2015 so với BLDS 2005. Sự thay đổi duy nhất ở trường hợp về chấm dứt hợp đồng trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo chúng tôi, quy định này là chưa đầy đủ cho tất cả các trường hợp chấm dứt hợp đồng, cần bổ sung vào Điều 422 BLDS 2015 trường hợp chấm dứt hợp đồng do nguyên nhân bị tuyên bố vô hiệu. Trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến vô hiệu, vô hiệu là trường hợp chấm dứt hợp đồng thông thường và vô hiệu là trường hợp triệt tiêu hợp đồng[6].
2. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng
  Vô hiệu hợp đồng là thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các quốc gia trên thế giới[7]. Do vậy, việc nghiên cứu mang tính so sánh chế định này trong luật Việt Nam và pháp luật các quốc gia khác là sự cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với sự cần thiết phải xây dựng một số các chuẩn mực pháp lý tiệm cận.
   Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vô hiệu hợp đồng được xác định trên cơ sở kết hợp hai chế định, chế định về giao dịch dân sự và chế định hợp đồng. Theo quy định của khoản 1 Điều 407 BLDS 2015, “quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”. Bên cạnh đó chế định hợp đồng còn xác định một số các trường hợp đặc thù của vô hiệu hợp đồng.
2.1 Vô hiệu hợp đồng trên cơ sở vô hiệu giao dịch dân sự
    Theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2015 “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Về các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự, Điều 117 BLDS 2015 quy định:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.
   Quy định này về tổng thể có thể nói là khá tương đồng với cách hiểu và giải thích về vô hiệu trong luật Cộng hoà Pháp. Trong pháp luật Cộng hoà Pháp, vô hiệu hợp đồng được xem là một chế tài áp dụng cho trường hợp có các vi phạm về giao kết hợp đồng[8], chế tài này được xác lập một cách khác biệt so với chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Theo quy định của Điều 1128 BLDS Cộng hoà Pháp, có ba điều kiện cần phải đáp ứng để hợp đồng có hiệu lực:
   - Sự ưng thuận của các bên giao kết hợp đồng
   - Năng lực của các bên giao kết hợp đồng
   - Nội dung của hợp đồng hợp pháp và cụ thể[9]
   Như vậy, có thể thấy rằng, ở góc độ tổng thể, pháp luật Cộng hoà Pháp không xem hình thức của hợp đồng là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng ghi nhận hai trường hợp ngoài lệ mà theo đó nếu không tuân thủ hình thức nhất định thì hiệu lực pháp lý của hợp đồng sẽ “có vấn đề”. Trường hợp thứ nhất là, các hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu không được xác lập bằng văn bản có công chứng (hợp đồng hôn nhân hay hợp đồng thế chấp…)[10]. Trường hợp thứ hai là, các hợp đồng được xếp vào nhóm hợp đồng thực tế (hay hợp đồng thực tại - theo một số tác giả)[11], loại hợp đồng này yêu cầu phải có sự chuyển giao đối tượng thì mới phát sinh hiệu lực, đây cũng là một yêu cầu về hình thức cần tuân thủ[12]. Trong khi đó, luật hợp đồng Úc chia các trường hợp vô hiệu thành hai nhóm: vô hiệu theo quy định của pháp luật (bị cấm bởi pháp luật) và vô hiệu do vi phạm các quy định cấm của thông lệ. Cả hai trường hợp này đều không cho phép tuyên bố vô hiệu hợp đồng do vi phạm điều kiện về hình thức[13].  
Về điều kiện về hình thức, khoản 2 Điều 117 BLDS quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Có hai cách giải thích đối với quy định này: thứ nhất, chỉ khi nào pháp luật có quy định, ví dụ như “hợp đồng có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực”, trong trường hợp này nếu không công chứng, chứng thực thì xem như vi phạm điều kiện về hình thức; thứ hai, chỉ cần có quy định “hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản” hoặc “hình thức của hợp đồng là văn bản có công chứng, chứng thực” nếu các bên không xác lập bằng văn bản hay không công chứng, chứng thực thì xem như đã vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức của hợp đồng. Quy định này của BLDS 2015 đã thu hẹp phạm vi các trường hợp tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức. Có thể chứng minh cho xu hướng này qua hai minh chứng: thứ nhất, các yêu cầu về hình thức mang tính bắt buộc đã không còn nhiều trong BLDS 2015, trong số các hợp đồng thông dụng được quy định chỉ còn hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản là bất động sản... là bắt buộc phải xác lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứng, chứng thực; thứ hai, theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015 “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Như vậy, quy định này một lần nữa hạn chế việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức. Từ các minh chứng trên, chúng tôi cho rằng, quy định hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch được áp dụng trong trường hợp pháp luật có quy định, nghĩa là chỉ khi nào pháp luật có quy định rõ ràng rằng “giao dịch dân sự có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực” hay tương tự “giao dịch dân sự có hiệu lực từ thời điểm bên có nghĩa vụ chuyển giao đối tượng hợp đồng cho bên có quyền”… mà các bên không thực hiện yêu cầu công chứng, chứng thực, chuyển giao… thì mới có thể bị yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Chúng tôi cho rằng, cách giải thích này là phù hợp trong bối cảnh thu hẹp các trường hợp áp dụng để đi đến không tuyên bố vô hiệu khi hợp đồng được xác lập vi phạm điều kiện về hình thức. Vì suy cho cùng, sự tự nguyện và thoả thuận của các bên trong hợp đồng mới là điều quan trọng chứ không phải là hình thức chuyển tải nó.
Các điều kiện về nội dung của giao dịch dân sự[14]. Chúng tôi dùng từ điều kiện về nội dung để đối lập với điều kiện về hình thức. Thuật ngữ “nội dung” này được hiểu theo nghĩa rộng của vấn đề, bao gồm điều kiện về năng lực chủ thể, về sự tự nguyện và điều kiện về mục đích cũng như nội dung của giao dịch dân sự.
 Điều kiện về năng lực chủ thể. Theo quy định tại khoản 1 điểm a Điều 117 BLDS 2015 “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập”. Quy định này được áp dụng kết hợp với Điều 21, 22, 23, 24 BLDS 2015 cho phép xác định trường hợp nào giao dịch dân sự phải do người có đầy đủ năng lực chủ thể xác lập, trường hợp nào giao dịch dân sự có thể do người chưa thành niên hay người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập. Cũng giống như BLDS Việt Nam, luật dân sự Cộng hoà Pháp cũng đặt ra yêu cầu về năng lực chủ thể (bao gồm năng lực pháp luật - capacité de jouissance và năng lực hành vi - capacité d’exercice)[15] khi giao kết hợp đồng. Về vấn đề năng lực chủ thể trong giao kết hợp đồng, BLDS Việt Nam hoàn toàn không đề cập đến chủ thể là pháp nhân, đây là một sự thiếu sót cần thiết phải hoàn thiện[16]. Về vấn đề này có thể học hỏi kinh nghiệm tại Điều 1145 BLDS Cộng hoà Pháp“Năng lực chủ thể của pháp nhân bị giới hạn trong khuôn khổ các hành vi cần thiết phải thực hiện để hoàn tất mục đích hoạt động của pháp nhân theo quy định của pháp luật và các hành vi bổ sung cho cho các mục đích này, phù hợp với các quy tắc áp dụng cho từng pháp nhân”. Theo cách quy định này, pháp nhân chỉ được giao kết hợp đồng trong khuôn khổ phục vụ cho các hoạt động của pháp nhân (đã xác định bởi điều lệ, quyết định thành lập hoặc theo quy định của pháp luật). Nếu xác lập các hợp đồng ngoài giới hạn này được xem như vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, pháp nhân được phép giao kết tất cả các hợp đồng mà chủ thể này muốn. Sự sửa đổi này là thực sự là cần thiết trong nhu cầu xác định có hay không có việc xác lập hợp đồng trong tình trạng vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể đối với pháp nhân.
Điều kiện về sự tự nguyện. Trong pháp luật về hợp đồng ở các quốc gia trên thế giới, vấn đề vô hiệu hợp đồng có thể chia thành hai trường phái. Trường phái thứ nhất xem vô hiệu hợp đồng là sự triệt tiêu hợp đồng do sự cần thiết phải bảo vệ lợi ích công, luật của Úc là một điển hình, các trường hợp vô hiệu đều do nguyên nhân là gây thiệt hại cho các lợi ích công cộng[17]. Thứ hai là trường phái chấp nhận việc tuyên bố vô hiệu hợp đồng là điều cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích công cũng như lợi ích của các bên có liên quan (đây là quan điểm được chấp nhận trong luật Việt Nam, Pháp và các nước Châu Âu). Về sự phân chia này có thể hình dung được nếu việc giao kết hợp đồng thiếu vắng sự tự nguyện thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu theo quy định của Điều 1131 BLDS Cộng hoà Pháp “Các tì vết của sự ưng thuận là các nguyên nhân làm vô hiệu hợp đồng một cách tương đối”. Điều 1130 BLDS Pháp cũng xác định “nhầm lẫn, lừa dối và cưỡng ép là các tì vết của sự tự nguyện nếu như trong điều kiện không có các yếu tố này một bên sẽ không giao kết hợp đồng hoặc giao kết hợp đồng với những điều kiện hoàn toàn khác biệt”. Như vậy, với hai quy định này, luật dân sự Pháp khẳng định một cách rõ ràng rằng có 3 trường hợp được xem là vi phạm sự tự nguyện đó là nhầm lẫn, lừa dối và cưỡng ép. Trong khi đó, khoản 1 Điều 117 BLDS Việt Nam 2015 quy định: “Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện”. Tiếp theo sau quy định này có các quy định từ Điều 123 BLDS đến 129 BLDS liệt kê các trường hợp tuyên bố vô hiệu. Tuy nhiên, BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành không xác định như thế nào là vi phạm sự tự nguyện và có những trường hợp vi phạm sự tự nguyện nào. Tình trạng này dẫn đến trên thực tế, có các cách giải hiểu khác nhau về các trường hợp vi phạm sự tự nguyện (vices du consentement trong luật Cộng hoà Pháp). Có ý kiến cho rằng, vi phạm điều kiện về sự tự nguyện bao gồm các trường hợp xác lập giao dịch bởi người bị mất năng lực hành vi dân sự, xác lập hợp đồng có yếu tố nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa[18]. Trong khi đó, ý kiến khác lại khẳng định, những trường hợp vi phạm sự tự nguyện khi giao kết hợp đồng bao gồm ký kết hợp đồng một cách giả tạo, hợp đồng được xác lập có sự nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ, việc xác lập hợp đồng trong lúc không nhận thức, điều khiển được hành vi[19]. Sự khác biệt về quan điểm này xuất phát từ thực tế BLDS không xác định rõ ràng sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng được hiểu như thế nào hay chí ít là những trường hợp nào được xác định là vi phạm sự tự nguyện. Thực tế này dẫn đến tình trạng chưa có sự tương đồng thật sự giữa Điều 117 khoản 1 BLDS 2015 với các trường hợp vô hiệu cụ thể ghi nhận từ Điều 123 đến Điều 129 BLDS 2015. Do vậy, theo chúng tôi, để khoa học pháp lý rõ ràng hơn và không có những tranh cãi không cần thiết trong trường hợp này, cần có quy định cụ thể xác định đâu là những trường hợp xác lập hợp đồng vi phạm sự tự nguyện.
Mục đích và nội dung hợp đồng không vi không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 117 khoản 1 điểm c BLDS Việt Nam 2015). Đây là điều kiện đặt ra để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác[20]. Quy định này của pháp luật Việt Nam khá tương đồng với Điều 1162 BLDS Cộng hoà Pháp “các thoả thuận và mục đích của hợp đồng không được xâm phạm đến trật tự công cộng dù các bên biết hoặc không biết về sự vi phạm này”. Điều cấm của pháp luật được định nghĩa “là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”. Có hai cách giải thích khác nhau về vấn đề này: thứ nhất, chỉ vi phạm điều cấm của pháp luật khi cụ thể có quy định “cấm”; thứ hai, được xem là vi phạm điều cấm tất cả các trường hợp pháp luật yêu cầu chủ thể thực hiện một công việc trong khuôn khổ một quy phạm mệnh lệnh mà chủ thể lại không thực hiện. Cũng có quan điểm cho rằng, chỉ xem là vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội khi hành vi vi phạm tác động đến các lợi ích công, lợi ích của nhà nước. Các quan điểm khá đa dạng này dẫn đến thực tiễn xét xử trong nhiều trường hợp là không thống nhất với nhau[21].
Về vấn đề này, pháp luật Cộng hoà Pháp cho phép có sự can thiệp của án lệ trong việc giải thích quy định tại Điều 1162 nêu trên bằng cách công nhận có hai trường hợp được xem là vi phạm: thứ nhất, có sự thoả thuận rõ ràng của các bên về việc xâm phạm trật tự công; thứ hai, mặc dù các bên không có thoả thuận nhưng mục đích đạt đến của hợp đồng lại gây hại đến lợi ích này[22].
Chúng tôi cho rằng, quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề nêu trên là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, cần có sự giải thích rõ ràng thông qua án lệ để việc áp dụng quy định vào thực tiễn được thống nhất.
2.2 Vô hiệu hợp đồng do có đối tượng không thể thực hiện được
Theo quy định tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”. Quy định này được đặt ra trong chế định về hợp đồng chứ không nằm trong các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung (Điều 117). Điều này có nghĩa là, nó chỉ được áp dụng đối với việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu chứ không được áp dụng đối với các loại giao dịch dân sự khác (hành vi pháp lý đơn phương, giao dịch dân sự có điều kiện). Đây không phải là quy định mới của BLDS 2015, tuy nhiên từ thời điểm được đưa vào và áp dụng từ BLDS 2005 đến nay quy định này chưa được giải thích kể cả bằng án lệ. Thực tiễn có xu hướng chấp nhận rằng đối tượng không thể thực hiện được của hợp đồng là những hành động không thể thực hiện được do các nguyên nhân khác quan (bao gồm cả sự kiện bất khả kháng), chẳng hạn như hợp đồng mua bán một căn nhà mà chẳng may căn nhà ấy bị cháy trước khi chuyển quyền sở hữu, hay hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đột ngột phát sinh quy hoạch dẫn đến quyền sử dụng đất là không thể chuyển nhượng được.
Điều 1163 BLDS Cộng hoà Pháp quy định: “Nghĩa vụ phải vì một đối tượng hiện tại hoặc tương lai. Đối tượng này phải có thể thực hiện được, xác định được hoặc có thể xác định được”. Quy định này cho phép xác định nếu hợp đồng được giao kết vi phạm quy định này sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 1178 “Hợp đồng nếu không thoả mãn các điều kiện về hiệu lực thì sẽ vô hiệu”. Pháp thừa nhận ba yêu cầu liên quan đến đối tượng của hợp đồng: thứ nhất, đối tượng của hợp đồng phải xác định được (về giá cả, số lượng, chất lượng...); thứ hai, đối tượng của hợp đồng có thể thực hiện được, yêu cầu này đặt ra trong bối cảnh pháp luật chấp nhận đối tượng của hợp đồng có thể là tài sản hình thành trong tương lai (Điều 1163); thứ ba, đối tượng của hợp đồng phải hợp pháp[23]. Tất cả các điều kiện liên quan đến đối tượng của hợp đồng đặt ra trong khuôn khổ điều kiện liên quan đến nội dung của hợp đồng.
Chúng tôi cho rằng,  về vấn đề nêu trên, quy định của pháp luật Việt Nam là đầy đủ và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Vấn đề vô hiệu hợp đồng liên quan đến đối tượng của hợp đồng phải tuỳ từng trường hợp mà áp dụng Điều 408 hoặc Điều 117 BLDS 2015. Ví dụ, nếu đối tượng của hợp đồng là hoàn toàn hợp pháp nhưng vì lý do khách quan nào đó không thể thực hiện được thì áp dụng Điều 408 đề tuyên bố vô hiệu. Nhưng nếu đối tượng của hợp đồng liên quan đến các hành vi bị cấm (hàng cấm hoặc hành vi bị cấm thực hiện...) thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu trên cơ sở kết hợp Điều 117 và Điều 123 BLDS 2015. Sự áp dụng kết hợp các điều luật cho phép một sự đánh giá khá toàn vẹn vấn đề liên quan đến lĩnh vực này.
2.3 Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Điểm giống nhau của hầu hết các hệ thống pháp luật các quốc gia Châu Âu và Việt Nam là vấn đề liên quan đến giá trị pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu. Khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu thì xem như hợp đồng đó không phát sinh giá trị pháp lý ngay từ khi xác lập (Điều 1178 BLDS Cộng hoà Pháp và khoản 1 Điều 131 BLDS 2015).
Chính vì xem như giao dịch dân sự chưa hề được xác lập (không phát sinh giá trị pháp lý) nên hậu quả kéo theo tuyên bố vô hiệu là phải khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi xác lập giao dịch bằng cách các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 và Điều 1178 BLDS Cộng hoà Pháp).
Sự khác nhau cơ bản giữa các quy định của BLDS Việt Nam và Cộng hoà Pháp nằm ở quy định về vô hiệu tuyệt đối hoặc vô hiệu tương đối. Nếu vô hiệu tuyệt đối hoặc tương đối chỉ tồn tại ở khía cạnh khoa học pháp lý ở Việt Nam thì nó được ghi nhận rõ ràng trong BLDS Cộng hoà Pháp cùng với những hậu quả pháp lý khá cụ thể cho từng trường hợp vô hiệu này[24]. Thực tiễn ở Việt Nam cũng tồn tại cách phân loại này, tuy nhiên theo chúng tôi, điều này hoàn toàn không có ý nghĩa gì khi thiếu vắng cơ sở pháp lý cho việc vận dụng./.
 
 

 


[1] Khoản 1 Điều 386 BLDS năm 2015
[2] Ordonnance 2016-31 ngày 10/2/2016 sửa đổi bổ sung pháp luật hợp đồng Cộng hoà Pháp
[3] Khoản 2 Điều 399 BLDS 2015 “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.
[4] Nguyễn Văn Huy, Mối liên hệ giữa thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản với giao dịch bảo đảm, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 3/2016
[5] Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm, Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345) năm 2017, tr.  60-67
[6] Nhà pháp luật Việt-Pháp, Các thuật ngữ hợp đồng thông dụng, Nxb. Từ điển Bách khoa, 2011, tr. 572 “Vô hiệu và huỷ hợp đồng cho phép bao quanh hai đặc tính lớn của lý do triệt tiêu hợp đồng”.
[7] Nhà pháp luật Việt-Pháp, tlđd, tr. 571
[8] Patrick Canin- Maitre de Conférences à L’Université Grenoble 2, Droit civil- Les obligations, 6e édition, Hachette supérieur, Trang 58
[9] Nguyên văn của quy định tại Điều 1128 BLDS Pháp “Sont nécessaires à la validité d'un contrat : 1° Le consentement des parties ;
2° Leur capacité de contracter ;
3° Un contenu licite et certain”.
[10] Điều 1394 BLDS Cộng hoà Pháp quy định “Toutes les conventions matrimoniales seront rédigées par acte devant notaire, en la présence et avec le consentement simultanés de toutes les personnes qui y sont parties ou de leurs mandataires” , nghĩa là các thoả thuận về quan hệ tài sản giữa vợ chồng phải xác lập bằng văn bản trước công chứng viên.
[11] Contrat réel
[12] Điều 1919 BLDS Cộng hoà Pháp về hợp đồng gửi giữ (contrat de dépôt), theo quy định này thì hợp đồng gửi giữ có hiệu lực khi có sự chuyển giao thực tế đối tượng của hợp đồng (trừ trường hợp việc chuyển giao là “giả định” nếu đối tượng của hợp đồng đã được cầm cố)
[13] Daniel Khoury, Yvonne Yamouni, Understanding Contract law, 8th edition, LexisNexis Butterworths- Australia, 2010, trang 364 và về sau.
[14] Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong Giáo trình Luật Dân sự 1, Đại học Cần Thơ - TS. Nguyễn Ngọc Điện, 2007.
[15] Patrick Canin, tlđd, tr. 49
[16] Điều 86 BLDS 2015 có quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, tuy nhiên chỉ đơn giản là một định nghĩa chứ không phải là quy định về năng lực giao kết hợp đồng.
[17] Daniel Khoury, Yvonne Yamouni, tlđd, tr. 363
[18] Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự 1- Trường Đại học Cần Thơ, 2007, tr. 7, 8
[19] Đỗ Văn Đại (chủ biên), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, 2013, tr. 156-158.
[20] Đỗ Văn Đại (chủ biên), tlđd, tr. 152
[21] Ví dụ cụ thể là trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tranh chấp, theo quy định tại Điều 188 khoản 2 Luật Đất đai 2014 quy định một trong các điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “đất không có tranh chấp”. Tuy nhiên Luật đất đai không nói rằng nếu vi phạm điều kiện này thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Do đó trên thực tế khi quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng bị tranh chấp, các Toà án áp dụng luật dân sự để tuyên bố vô hiệu, và có Toà án cho rằng hợp đồng này bị vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng có Toà án thì lại cho rằng vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được.
[22]Cass. Civ. 1ère, 3 février 1999, JCP 1999, II, 10083, note M. Billiau et G. Loiseau.
 Cass. civ. 1ère, 29 octobre 2014, n° 13-19729.
 
[23] Patrick Canin, tlđd, tr. 51-54
[24] Vộ hiệu tuyệt đối- la nullité absolue và vô hiệu tương đối – la nullité relative được quy định tại Điều 1179 BLDS Cộng hoà Pháp.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11(387), tháng 6/2019)


Ý kiến bạn đọc