Quan hệ tài chính-ngân hàng và bảo hiểm Việt Nam-Hoa Kỳ

01/06/2009

TS. NGUYỄN MINH PHONG

Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế, Viện Nghiên cứu phát triển KTXH Hà Nội

1. Khỏi quỏt chung
Quan hệ kinh tế - tài chớnh Việt Nam - Hoa Kỳ đó trải qua những thời khắc và sự kiện đặc biệt.
Cho đến nay, hai nước đó ký kết một số Hiệp định, Thoả thuận về kinh tế như Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Mỹ (HĐTM)[1], Hiệp định Hợp tác về khoa học và công nghệ[2], Hiệp định Dệt-may (có hiệu lực từ 1/5/2003), Hiệp định Hàng khôn[3]; Hiệp định khung hợp tỏc về kinh tế và kỹ thuật (cú hiệu lực từ 28/7/2005), Bản Ghi nhớ hợp tỏc về Nụng nghiệp[4]..Hai nước đó ký kết nhiều văn bản về hợp tác trong các lĩnh vực khác, như Tuyên bố chung về hợp tác y tế giữa hai Bộ Y tế (12/1997), Thoả thuận hợp tác về thể dục thể thao (tháng 3/1999), Bản ghi nhớ về hợp tác lao động Việt Nam-Mỹ (11/2000), Bản Ghi nhớ về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực Khí tượng Thuỷ văn (1/2001), Biên bản Ghi nhớ giúp đào tạo nhân lực cho ngành Thuỷ sản Việt Nam (11/3/2003), Hiệp định hợp tác y tế và khoa học y học Việt Nam-Mỹ (7/2006)... Năm 2003, hai nước đó ký kết Nguyờn tắc hợp tỏc trong việc thực hiện Đề án Quỹ giáo dục của Mỹ dành cho Việt Nam (VEF), cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam sang Mỹ đào tạo về các ngành khoa học, công nghệ. Ngày 23/6/2004, Tổng thống Mỹ G.Bush tuyên bố đưa Việt Nam vào danh sách 15 nước ưu tiên trong Kế hoạch Viện trợ khẩn cấp về phũng chống HIV/AIDS. Mỹ cũng hợp tỏc tớch cực và tài trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực phũng chống đại dịch cúm gia cầm…
Kể từ khi HĐTM có hiệu lực đến nay, quan hệ buôn bán giữa hai nước tăng nhanh: kim ngạch buôn bán 2 chiều năm 2005 đạt 7,8 tỉ USD, tăng gấp hơn 5 lần năm 2001 (1,5 tỉ USD); năm 2006 đạt 9,7 tỷ USD, trong đó Việt Nam nhập 1,1 tỷ và xuất 8,6 tỷ (Việt Nam luôn xuất siêu lớn sang Mỹ). Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt - Mỹ năm 2008 đạt 15,2 tỉ đô la, gấp hơn 10 lần so với năm 2001. Theo đó, Mỹ đó trở thành đối tác thương mại số một của Việt Nam. Việt Nam là một trong những thị trường phát triển nhanh nhất của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á.  Đồng thời, Hoa Kỳ đó trở thành nước thứ 2 (sau Trung Quốc) về số lượng khách du lịch vào Việt Nam. Đường bay thẳng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam vừa được nối lại sau 30 năm gián đoạn.
Đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ vào Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KHĐT), tính đến ngày 22/11/2008, Hoa Kỳ đứng thứ 11/81 quốc gia và vùng lónh thổ cú dự ỏn đầu tư cũn hiệu lực tại Việt Nam với 421 dự ỏn, tổng vốn đầu tư đăng ký 4,1 tỷ USD. Đặc biệt, trong 4 tháng đầu năm 2009, trong tổng vốn FDI đăng ký đạt 6,35 tỷ USD, với tổng cộng 168 dự án đăng ký mới vào Việt Nam, thỡ cỏc doanh nghiệp Mỹ đó vươn lên dẫn đầu với hơn 3,8 tỷ USD, từ 2 dự án là Saigon Atlantis Hotel của tập đoàn Winvest LLC xin tăng vốn từ 300 triệu USD lên 4,1 tỷ USD và một dự án khác có vốn đăng ký 1,16 triệu USD…Hiện đó cú hơn 1000 doanh nghiệp Mỹ, trong đó nhiều tập đoàn lớn của Mỹ hoạt động tại Việt Nam như: IBM, Citi group, Boeing, Intel... Các doanh nghiệp Mỹ cũng đó thành lập hai phũng thương mại tại Việt Nam ở Hà Nội và TP. HCM. Đặc biệt, trong tháng 3/2009, UBND tỉnh Phú Yên đó chấp thuận về chủ trương dành 3.000 ha đất tại khu vực Nam Tuy Hoà (Phú Yên) cho Dự án Thành phố sáng tạo. Đây là dự án của Tập đoàn Galileo International Group (Mỹ) đề xuất, với vốn đầu tư khoảng 1,6 tỷ USD cho giai đoạn 1 .Galileo đề nghị diện tích đất là 7.000 ha dọc bờ sông Ba để xây dựng thành phố công nghệ cao, một khu đại học, khu kinh tế - thương mại và khu phim trường. Tổng đầu tư của tất cả các hạng mục này có thể lên tới trên 10 tỷ USD, kéo dài tới năm 2035. Hiện chủ dự án đang xây dựng quy hoạch để trỡnh UBND tỉnh và cỏc cơ quan trung ương có liên quan. Nếu các thủ tục được hoàn thành kịp thời, chủ đầu tư đặt lịch bắt đầu thực hiện giải phóng mặt bằng vào quý III/2009 để kịp kết thúc giai đoạn 1 vào năm 2015.
Quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác như khoa học - kỹ thuật, giỏo dục - đào tạo, y tế, lao động, văn hóa, nhân đạo cũng có những bước tiến tích cực. Hai bên đó thỏa thuận và ký văn bản về những nguyên tắc hợp tác thực thi Quỹ giáo dục dành cho Việt Nam. Nhiều dự án và chương trỡnh về y tế và chăm sóc sức khỏe đó được nỗ lực xây dựng và có hiệu quả như chương trỡnh 15 triệu USD phũng chống HIV/AIDS (2004), hợp tỏc phũng chống dịch bệnh SARS, dự ỏn Giỏo dục vệ sinh và dinh dưỡng học đường... Hợp tác giữa hai nước trong việc giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại ngày càng được tăng cường, bắt đầu với sự hợp tác đầy thiện chí và ngày càng có hiệu quả của Việt Nam với Hoa Kỳ trong việc tỡm kiếm quõn nhõn mất tớch trong chiến tranh mà Hoa Kỳ coi như "mẫu mực". Phía Hoa Kỳ cũng đó cú những biện phỏp đáp ứng nhu cầu nhân đạo của Việt Nam trong việc khắc phục những hậu quả chiến tranh. Trong năm tài khóa 2005, tổng số tài trợ của Mỹ từ tất cả các tổ chức cho Việt Nam xấp xỉ 65 triệu đô-la, mà phần lớn nhất là của USAID. USAID đó chớnh thức mở văn phũng chi nhỏnh tại Hà Nội vào thỏng 9 năm 2000 như một phần của Cơ quan Đại diện Thường trú Khu vực chõu Á của tổ chức này.
Nhằm chuẩn bị cho cuộc họp lần thứ hai cấp bộ trưởng của Hội đồng TIFA, dự kiến tổ chức vào tháng 6/2009 tại Hà Nội, trong các ngày từ 15 đến 22/4/2009, Ban Thư ký Hội đồng Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ (TIFA) đó họp tại Washington, trao đổi các vấn đề trong quan hệ kinh tế song phương như hợp tác về nông nghiệp, thương mại, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, lao động và công đoàn cũng như tăng cường cơ chế hợp tác song phương. Nội dung chính của phiên họp lần này là trao đổi các biện pháp thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố chung Việt Nam-Hoa Kỳ ký tháng 6/2008 nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Về việc đề nghị Hoa Kỳ sớm dành cơ chế Ưu đói thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam, hai bên đó trao đổi cụ thể những vấn đề đang tồn tại là hợp tác lao động và công đoàn. Nếu được thông qua, cơ chế GSP sẽ mở đường cho Việt Nam xuất khẩu nhiều loại hàng trong danh mục khoảng 3.600 mặt hàng có thể được hưởng GSP sang Hoa Kỳ với mức thuế suất thấp, phần lớn trong khoảng 0-5%. Hai bên đó trao đổi các biện pháp thuận lợi hóa thương mại như việc trao đổi thông tin, hợp tác hải quan, cấp giấy phép. Hai bên cũng đề cập vụ việc gần đây một số công ty Hoa Kỳ khởi kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp mặt hàng túi đựng hàng bán lẻ bằng sợi polythylene nhập khẩu từ Việt Nam. Trong phiờn họp này, hai bên cũng đó dành thời gian trao đổi việc thúc đẩy xuất khẩu hoa quả như chôm chôm, vải và nhón của Việt Nam sang Hoa Kỳ; việc tạo thuận lợi cho xuất khẩu tụm, cá tra, cá basa, cá cảnh, đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ, cũng như việc xuất khẩu thịt bũ của Mỹ sang Việt Nam. Hai bên đó trao đổi về vấn đề thúc đẩy thực thi quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyờn Thỏi Bỡnh Dương. Phía Hoa Kỳ nêu sáng kiến thành lập Nhóm công tác về Thương mại và Môi trường và Nhóm công tác về Công nghệ sinh học. Bên cạnh đó, hai bên đó bàn cỏc biện phỏp thực hiện cơ chế cảnh báo sớm nhằm phũng trỏnh xảy ra cỏc tranh chấp thương mại.
2. Quan hệ trong lĩnh vực ngõn hàng
Theo Hiệp định BTA đó ký, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngõn hàng theo lộ trỡnh nới lỏng dần và tiến tới xoỏ bỏ cỏc hạn chế đối với hoạt động của các NH Mỹ tại Việt Nam. Lộ trỡnh này đồng nghĩa với việc xoá bỏ dần nhiều lợi thế của các định chế trong nước. Cụ thể, ngay sau khi BTA có hiệu lực (từ ngày 10/12/2001), cỏc chi nhỏnh ngõn hàng Hoa Kỳ được phép thành lập tại Việt Nam. Giai đoạn từ 2001 đến 2010, họ sẽ được thành lập các ngân hàng liờn doanh với vốn Hoa Kỳ từ 30-49%; tới năm 2010 họ sẽ được thành lập ngân hàng 100% vốn Hoa Kỳ. Các ngân hàng Mỹ sau khi thành lập sẽ được nhận tiền ký gửi bằng nội tệ và sau 9 năm (2010), họ được phép nhận tiền ký gửi bằng nội tệ như các ngân hàng Việt Nam; trong 8 năm, các ngân hàng Mỹ được phộp phỏt hành thẻ tớn dụng; sau 5 năm được phép lập công ty bảo hiểm nhân thọ và các lĩnh vực không bắt buộc 100% vốn từ Mỹ.
Như vậy là sau 9 năm, các ngõn hàng Mỹ sẽ cú một “sân chơi” bỡnh đẳng với các ngõn hàng nội địa. Hiện nhiều ngõn hàng và các tổ chức tín dụng Mỹ đang gấp rút tỡm hiểu về cỏc luật lệ để thâm nhập thị trường tài chính Việt Nam. Hiện mới chỉ có 1 chi nhánh và 2 văn phũng đại diện của ngõn hàng Mỹ tại Việt Nam. Cỏc ngõn hàng này cũng như các ngõn hàng nước ngoài đang phải hoạt động với những hạn chế nhất định so với các NH nội địa. Nhưng tỡnh hỡnh này sẽ sớm thay đổi. Các ngân hàng Mỹ đang từng bước tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngõn hàng tại Việt Nam. Thỏng 10/2007, Ông John J.Mack, Chủ tịch kiêm TGĐ điều hành Ngõn hàng Morgan Stanley đó đến thăm và làm việc với lónh đạo Tập đoàn Dầu khí VN nhằm đi đến việc ký kết một bản ghi nhớ  về khả năng hợp tác giữa hai tập đoàn trong các lĩnh vực mà hai bên quan tâm như: Hợp tác đầu tư, thu xếp vốn, cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng... cho các hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ở trong nước cũng như đầu tư ra nước ngoài, bao gồm cả việc Morgan Stanley sớm xem xét quyết định dầu tư vào Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) với tư cách là một cổ đông chiến lược khi PVFC thực hiện việc IPO ra thị trường …
Công nghệ hiện đại và trỡnh độ quản lý tiên tiến cũng như nguồn tài chớnh dồi dào của cỏc ngõn hàng Mỹ sẽ là những ưu thế cơ bản tạo ra những sức ộp cạnh tranh, buộc cỏc ngõn hàng Việt Nam phải đầu tư thêm vào kỹ thuật, cải tiến phương thức quản trị và hiện đại hoá hệ thống thanh toán để nâng cao năng lực, đặc biệt là đối với các ngân hàng cú những nội dung và phạm vi hoạt động trùng với lĩnh vực hoạt động có ưu thế của các ngõn hàng Mỹ (như thanh toán quốc tế, đầu tư dự án, tài trợ thương mại...) và cỏc khỏch hàng trọng tõm của ngõn hàng Mỹ (các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước lớn, cỏc doanh nghiệp xuất khẩu lớn...).
Trong trường hợp các ngân hàng Mỹ được phép thực hiện cả những hoạt động kinh doanh chứng khoán như quản lý các quỹ đầu tư, hoặc tham gia vào việc thanh toán bù trừ các tài sản tài chính, họ cũng sẽ có phạm vi hoạt động rộng hơn hẳn các ngõn hàng Việt Nam hiện nay và sẽ có những ưu thế rừ rệt trong việc đa dạng hoá hoạt động của mỡnh. Đồng thời, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các ngân hàng Mỹ sẽ phức tạp hơn hiện nay và đũi hỏi phải cú sự phối hợp quản lý của nhiều cơ quan.
Ngược lại, sức mạnh và ưu thế hơn hẳn của các ngân hàng Việt Nam so với các ngân hàng Mỹ là có được mạng lưới chi nhánh rộng khắp, mối quan hệ truyền thống với khách hàng, có sự hiểu biết cụ thể các yêu cầu của khách hàng, khả năng khách hàng và những vấn đề văn hoá mà ngân hàng Mỹ chưa thể có. Bờn cạnh đó, do điểm yếu của các ngân hàng nước ngoài là không có mạng lưới rộng, hiểu biết khách hàng hạn chế, sự hợp tỏc giữa cỏc ngõn hàng Việt Nam và cỏc ngõn hàng Hoa kỳ trong nhiều trường hợp là yờu cầu của chớnh cỏc ngõn hàng Mỹ. Điều này tạo ra cơ hội cho các NH Việt Nam tiếp cận được dần với cách thức quản lý, kinh doanh của cỏc ngõn hàng quốc tế hoạt động tại Việt Nam.
Dự bỏo, do khủng hoảng tài chớnh 2009 sẽ cú khoảng 150 trong tổng số hơn 7.000 ngân hàng đang hoạt động trên đất Mỹ có thể bị sụp đổ trong vũng từ 12 đến 18 tháng tới. Ngoài ra, nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khác có thể phải đóng cửa bớt chi nhánh của mỡnh hoặc sỏp nhập. Trong tương lai, nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ ở Mỹ sẽ rất cao, điều này có thể ảnh hưởng nhất định đến sự tham gia của các ngân hàng Mỹ vào thị trường tài chính Việt Nam.
3. Quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm                  
Việc cấp giấy phép hoạt động cho các công ty bảo hiểm của Mỹ được thực hiện theo Hiệp định Thương mại song phương (BTA), do chính phủ Việt Nam và Mỹ phê chuẩn”. Theo BTA, có hiệu lực từ tháng 12/2001, các công ty bảo hiểm của Mỹ có thể thành lập công ty liên doanh với các công ty Việt Nam từ tháng 12/2004 và công ty 100% vốn nước ngoài từ tháng 12/2006. Nhưng trên thực tế, Việt Nam đó cấp phộp cho một số cụng ty bảo hiểm Mỹ trước thời hạn cam kết trong Hiệp định thương mại tới gần 2 năm. Bắt đầu từ ngày 1/1/2008, theo cam kết WTO, thị trường bảo hiểm của Việt Nam thực sự mở cửa hoàn toàn, với việc cho phép công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xe có động cơ, xây dựng..).
Thị trường bảo hiểm Việt Nam - với tốc độ tăng trưởng trung bỡnh 30%/năm - hiện đang có tất cả 28 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cùng tham gia hoạt động kinh doanh trên cả 04 lĩnh vực: bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh tái bảo hiểm và hoạt động trung gian bảo hiểm, bao gồm 2 doanh nghiệp Nhà nước, 11 công ty cổ phần và 15 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có một hóng hoạt động tái bảo hiểm, 5 bảo hiểm nhân thọ, 5 môi giới bảo hiểm và 14 phi nhân thọ. 12 trong số 25 công ty đó là doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Tập đoàn bảo hiểm nhân thọ hàng đầu của Mỹ New York Life ( thành lập năm 1845, với trên 200 tỷ USD giá trị tài sản, doanh thu hàng năm trên 25 tỷ USD, hiện có thị trường rộng lớn tại châu Mỹ và châu Á) đó mở văn phũng đại diện tại Hà Nội vào 4/2000, Tháng 12/2001, New York Life chính thức gửi hồ sơ xin thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ với 100% vốn nước ngoài lên Bộ Tài chính. Thông qua văn phũng đại diện, công ty này vừa chờ đợi giấy phép vừa tiến hành tỡm hiểu, bỏm sỏt thị trường Việt Nam và sắp đặt kế hoạch để sẵn sàng nhập cuộc. Đồng thời, hai công ty bảo hiểm khác của Mỹ là American International Group (AIG) và AON Inchibrok đó được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Mới đây, Việt Nam cũng chính thức được cấp phép hoạt động cho Tập đoàn ACE và Tập đoàn Marsh Inc., tập đoàn môi giới bảo hiểm lớn nhất thế giới, với 100% vốn của Mỹ, với thời hạn hoạt động 50 năm…
Ngoài các tên tuổi đến từ Mỹ, châu Âu là các tập đoàn hàng đầu của Singapore, Trung Quốc. Trong tháng 3/2009, sự ra mắt của tập đoàn Great Eastern (lớn nhất Singapore) và tập đoàn Bỡnh An (Trung Quốc). Cũng cuối tháng 3/2009 vừa qua, một hội nghị quốc tế có quy mô nhất từ trước tới nay của ngành bảo hiểm Việt Nam đó được tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của khoảng 50 tập đoàn, công ty bảo hiểm nổi tiếng trong nước và trên thế giới. Theo đánh giá của hội nghị, thị trường bảo hiểm Việt Nam có tương lai khả quan, đầy hứa hẹn.
Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn.  Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng; các loại hỡnh sở hữu đa dạng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.Trên thị trường bảo hiểm đó xuất hiện nhiều sản phẩm mới và khá độc đáo trên cơ sở kết hợp giữa các yếu tố tiết kiệm - đầu tư bảo vệ, được công luận đánh giá cao như sản phẩm bảo hiểm tai nạn cá nhân cho người sử dụng thẻ ATM, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm của người chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia cầm, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo… Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đó đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Mục tiờu của ngành bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010 là nâng tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 4,2% GDP và tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt tới 90.000 tỷ đồng. Đóng góp tích cực đến việc ổn định nền kinh tế – xó hội và đời sống dân cư. Hàng năm các doanh nghiệp bảo hiểm đó giải quyết bồi thường và trả tiền bảo hiểm hàng ngàn tỷ đồng, giúp các doanh nghiệp và người dân ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống, giảm bớt gánh nặng cho NSNN. Sản phẩm bảo hiểm được đa dạng hoá với hơn 600 sản phẩm bảo hiểm nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân. Đến nay số lượng lao động trong ngành bảo hiểm là gần 140.000 người với thu nhập ổn định.
Việt Nam cam kết giảm can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, thay vào đó là các chính sách minh bạch phù hợp với các chuẩn mực quốc tế để hướng các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các lĩnh vực nền kinh tế hội nhập có nhu cầu. Việc gia nhập thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ do các chủ đầu tư cân nhắc, quyết định.
Cú thể núi, sự phỏt triển mạnh mẽ và toàn diện của quan hệ Việt Mỹ trong một thập kỷ qua là một thành công đáng kể của cả hai nước. Về triển vọng, quan hệ hợp tác kinh tế-tài chính-ngân hàng và bảo hiểm nói riêng và các quan hệ song phương toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ núi chung chắc chắn sẽ cú những phỏt triển mạnh mẽ hơn cả bề rộng, lẫn bề sâu. Chiến tranh lạnh cũng như những ám ảnh của quá khứ đó lựi xa. Việc phỏt triển quan hệ hợp tỏc Việt - Mỹ trong lĩnh vực nào, tới mức độ nào và thông qua những phương thức nào phụ thuộc hoàn toàn vào "lựa chọn" chủ quan của hai nước và phải phù hợp với lợi ích quốc gia của mỗi bên. Xét trên góc độ này, cả Mỹ và Việt Nam đều có đầy đủ mọi lý do để lựa chọn thúc đẩy hợp tác giữa hai nước mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa.
Nếu như đối với Việt Nam, quan hệ với Mỹ cú ý nghĩa quan trọng trong việc nõng cao vị thế của mỡnh, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế; thỡ đối với Mỹ, việc phát triển quan hệ chính trị với Việt Nam cũng có ý nghĩa ngày càng quan trọng. Với một vị thế không ngừng lớn mạnh trên trường quốc tế, Việt Nam xứng đáng có một vị trí cao hơn trong chiến lược của Mỹ, đặc biệt là ở khu vực Châu Á Thái Bỡnh Dương, nơi cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc được dự báo sẽ ngày càng gay gắt hơn trong tương lai. Chớnh vỡ vậy quan hệ tốt hơn với Việt Nam sẽ cú lợi cho Mỹ trong việc duy trỡ ảnh hưởng của mỡnh ở khu vực. Về kinh tế, một điều rừ ràng là quan hệ kinh tế với Mỹ, với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất và nhà đầu tư hàng đầu, có vai trũ quan trọng đối với Việt Nam. Tuy nhiờn, Việt Nam với một nền kinh tế năng động, thị trường lớn nhiều tiềm năng cùng nhiều cơ hội chưa được khai phá, cũng cần được Mỹ coi là một đối tỏc quan trọng về kinh tế. Ngoài ra, việc Mỹ phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế với Việt Nam cũng sẽ thúc đẩy quá trỡnh phỏt triển nền kinh tế thị trường ở đây. Điều này phù hợp với chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường và mở rộng các giá trị tự do, dõn chủ của Mỹ trờn toàn cầu. Về quõn sự, hợp tỏc giữa hai quốc gia trờn lĩnh vực này vẫn cũn tương đối mới mẻ và dè dặt. Nhưng cũng chính vỡ thế tiềm năng phát triển hợp tác giữa hai bên trên lĩnh vực này trong tương lai là rất to lớn. Thúc đẩy hợp tác quân sự sẽ mang lại cho cả hai nước những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là trong việc đối phó với những bất trắc tiềm tàng về an ninh ở khu vực mà hai bên cùng quan tâm. Việc phát triển hợp tác quân sự cũng mang lại thêm một rường cột trong quan hệ hai nước, làm cho quan hệ hai nước trở nên toàn diện và vững chắc hơn. Cú thể thấy, quan hệ Việt -Mỹ đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, bao gồm cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh tế và quân sự. Mục tiêu mà hai bên đặt ra và cần vươn tới trong tương lai gần là: xây dựng quan hệ đối tác mang tính xây dựng hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả giữa hai nước./.

 


[1] Ký ngày 13/7/2000, cú hiệu lực ngày 10/12/2001.
[2] Cú hiệu lực từ ngày 26/3/2001.
[3] Cú hiệu lực từ 14/1/2004.
[4] Ký thỏng 6/2005.

(Nguồn tin: Bài viết đăng trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12(149), tháng 6/2009)


Thống kê truy cập

33929667

Tổng truy cập