Lựa chọn các đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030

02/06/2021

PGS.TS. ĐINH DŨNG SỸ

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ.

Tóm tắt: Giai đoạn 5 đến 10 năm tới là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong con đường phát triển của Việt Nam để trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trên con đường phát triển của 25 năm tới, có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội rất lớn; nếu tận dụng được cơ hội, có những lựa chọn và quyết sách đúng cho ưu tiên phát triển sẽ đưa đến thành công. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chia sẻ một vài suy nghĩ về chiến lược phát triển đất nước cho giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030.
Từ khóa: Đột phá chiến lược; phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 và đến năm 2030; cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Abstract: The period of 5 years to 10 years shall be an important milestone for Vietnam's development roadmap to becoming a developed and high-income country by 2045 as it is set the goal in the Resolution of the 13th National Party Congress. On the development roadmap of the next 25 years, there are many challenges but also great opportunities; if it is to take advantage of opportunities, give out the right choices and decisions for development priorities, which shall lead to success. Within the scope of this article, the author shares some thoughts on the country's development strategy for the period 2021-2025 and up to 2030.
Keywords: Strategic breakthrough; socio-economic development in the period of 2021-2025 and to 2030; fourth industrial revolution.
CHIẾN-LƯỢC-KINH-TẾ.jpg 
 Ảnh minh họa: Nguồn internet
Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước cũng như trên thế giới của 5 đến 10 năm tới có nhiều vấn đề, nhưng tất cả mọi thách thức cũng như cơ hội cho phát triển đều xoay quanh ba từ “CHUYỂN ĐỔI SỐ”. Điều đó cắt nghĩa rằng, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) là nhân tố chính tạo ra cơ hội và cũng là thách thức cho con đường phát triển của chúng ta trong 5 đến 10 năm tới cũng như chặng đường 25 năm để trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Việc chúng ta có tận dụng, nắm bắt được cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra hay không sẽ là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của chúng ta trên con đường phát triển đó,
Nghị quyết Đại hội Đảng XIII nói về ba đột phá chiến lược, gồm: (1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả; (2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; (3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, tất cả ba đột phá chiến lược nêu trên, nếu muốn thành công đều phải xoay quanh trục chính của sự nghiệp “chuyển đổi số”. Với quan điểm nêu trên, nhiệm kỳ Quốc hội, Chính phủ 2021-2026, tầm nhìn 2030 cần lựa chọn trọng tâm để thực hiện ba đột phá chiến lược nêu trên (các đột phá của đột phá); đồng thời với việc lựa chọn trọng tâm cho ba đột phá chiến lược cũng cần phát huy tiềm năng, lợi thế của đất nước để thúc đẩy phát triển bền vững. Với nhận thức đó, tác giả đề xuất lựa chọn bốn lĩnh vực trọng tâm đột phá dưới đây:
1. Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tiếp tục rà soát và sửa đổi, bổ sung toàn diện hệ thống pháp luật để phục vụ chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công – tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”[1].
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 cũng như Nghị quyết Đại hội XI và XII của Đảng mới chỉ xác định khâu đột phá này là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Nghị quyết Đại hội XIII đã có những thay đổi quan trọng trong đột phá chiến lược này. Với cụm từ “hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển”, nội hàm của đột phá chiến lược này tại Nghị quyết Đại hội XIII đã mở rộng hơn, bao gồm toàn bộ hệ thống thể chế cho phát triển. Ở đây, đặc biệt nhấn mạnh từ “phát triển”, và lựa chọn này phù hợp với quan điểm xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển hay Chính phủ kiến tạo phát triển hiện nay.
Sau 35 năm đổi mới, chúng ta đã từng bước xây dựng được một hệ thống thể chế, pháp luật khá đầy đủ và đồng bộ trên hầu hết các lĩnh vực, đủ để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội, tạo cơ sở pháp lý cho quản lý nhà nước cũng như môi trường, hành lang pháp lý dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn này, chúng ta có ba lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp[2] và mỗi lần như vậy đánh dấu một giai đoạn mới của sự phát triển hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của đất nước. Giai đoạn thứ nhất từ 1986 đến 2001 (thời điểm sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992), đặc trưng của hệ thống pháp luật giai đoạn này là hệ thống pháp luật chuyển đổi, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN”[3]. Giai đoạn hai từ năm 2002 đến năm 2013 (thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013), đặc trưng của hệ thống pháp luật trong giai đoạn này là hệ thống pháp luật chuyển đổi và hội nhập. Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này có thể coi là thế hệ thứ hai của hệ thống pháp luật thời kỳ đổi mới và cũng là thế hệ thứ hai của hệ thống pháp luật chuyển đổi, đồng thời hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Giai đoạn ba từ năm 2014 đến nay và trong những thập kỷ tới, đặc trưng của hệ thống pháp luật giai đoạn này là hệ thống pháp luật hội nhập và kiến tạo phát triển. Có thể hiểu rằng, chủ ý và cũng là điểm nhấn đặc biệt của Nghị quyết Đại hội XIII là hoàn thiện thể chế cho phát triển chứ không phải là thể chế chung chung. Điều đó cũng có thể cắt nghĩa rằng, giai đoạn tới đây là giai đoạn nâng cấp, hoàn thiện thể chế ở một tầm cao mới, đó là thể chế cho phát triển gắn liền với quan điểm xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển trên nền tảng của hệ thống thể chế, pháp luật đã được xây dựng khá đầy đủ và đồng bộ sau 35 năm đổi mới. Tác giả cho rằng, vấn đề cần ưu tiên, tập trung trong đột phá chiến lược của giai đoạn này là: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để phục vụ chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số. Sự lựa chọn này xuất phát từ lý do sau:
- Tác động của CMCN 4.0 đến chuyển đổi nền kinh tế ở mọi quốc gia là rất lớn và cũng đã rất rõ ràng. Nếu quốc gia nào đi chậm trong cuộc cách mạng này thì sẽ tụt hậu rất xa. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, nay phải nắm bắt thời cơ, không thể để thời cơ trôi đi và mãi vẫn chỉ là một nước đi sau về muộn. Để phát triển được một nền kinh tế số trong 5 đến 10 năm tới, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật, tạo nền tảng, môi trường pháp lý cho kinh tế số phải được ưu tiên, đi trước. Về mặt nguyên lý, pháp luật không bao giờ đi trước điều kiện kinh tế - xã hội. Điều kiện, trình độ phát triển kinh tế quy định, chi phối trình độ phát triển của pháp luật. Cũng có thể nói, pháp luật – một yếu tố của kiến trúc thượng tầng không bao giờ cao hơn hay đi trước hạ tầng kinh tế. Tuy nhiên, trong thời đại phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ ngày nay, đặc biệt là CMCN 4.0 thì có những lĩnh vực thể chế cần phải đi trước đón đầu, tạo cơ hội cho phát triển nhanh hơn. Chúng ta cũng đã có bài học và kinh nghiệm trong 35 năm đổi mới, khi vào thời điểm năm 1987 về cơ bản Việt Nam chưa có đầu tư nước ngoài, nhưng lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng và ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam[4]. Khi đó, Việt Nam chủ yếu nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm và thể chế pháp luật về đầu tư nước ngoài trong khu vực và trên thế giới, chắt lọc và cân nhắc từng nội dung để xây dựng Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên của Việt Nam khi trong nước loại quan hệ đầu tư này còn rất hiếm hoi. Thậm chí, chỉ sau 10 năm, đến năm 1996 khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài mới thay thế Luật năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 được đánh giá là tiến bộ nhất khu vực Đông Nam Á.
- Trong bối cảnh CMCN 4.0, Việt Nam cần chạy đua với thời gian để nghiên cứu, từng bước hình thành khung khổ pháp lý cho phát triển các nền tảng số, như mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain)…Chỉ có thể phát triển thật nhanh các nền tảng số mới tạo lập được cơ sở và mở ra những ứng dụng đa dạng cho sự phát triển của kinh tế số, xã hội số. Theo đó, xây dựng và hoàn thiện thể chế cho sự phát triển của các nền tảng số và sau đó là các quan hệ của nền kinh tế số, xã hội số là yêu cầu cấp bách của 5 đến 10 năm tới. Trong lĩnh vực này và ở thời điểm hiện nay, tác giả cho rằng, thể chế phải đi tiên phong, vừa làm, vừa quan sát, vừa học hỏi, không phải đứng đợi sự xuất hiện hay hoàn thiện của các quan hệ kinh tế, công nghệ. Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội, Chính phủ cần tập trung chỉ đạo rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trong đó ưu tiên trọng tâm vào việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các luật để phục vụ xây dựng Chính phủ số, phát triển nền kinh tế số, xã hội số.
Để thực hiện được nhiệm vụ nêu trên, ở khía cạnh tổ chức thực hiện, tác giả cho rằng:
- Quốc hội khóa XV, tại kỳ họp thứ nhất, cần ban hành nghị quyết (hoặc thể hiện trong Nghị quyết kỳ họp của Quốc hội) về rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật, dự kiến sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản luật, tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế, xã hội số.
- Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tổng rà soát hệ thống pháp luật giai đoạn hai ngay trong năm 2021. Tháng 2/2020, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Tổ công tác của Thủ tướng về rà soát toàn bộ hệ thống pháp luật trên 10 lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành. Kết quả rà soát bước đầu đã được Chính phủ báo cáo Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ hợp thứ 10 Quốc hội khóa XIV. Tuy nhiên, kết quả rà soát chủ yếu đánh giá về những mâu thuẫn, thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật, chưa thực sự toàn diện, và đặc biệt là chưa đi sâu nghiên cứu nhằm mục tiêu đổi mới hệ thống pháp luật trong bối cảnh của CMCN 4.0, chưa cập nhật đầy đủ những định hướng trong hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Kết quả rà soát giai đoạn hai tiếp theo sẽ là cơ sở để đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho các năm 2022 đến 2026 và nhiệm kỳ tiếp theo. Ngay trong nửa cuối của năm 2021 đến năm 2023, cần nghiên cứu, sửa đổi  Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Giao dịch điện tử, Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông …, đồng thời nghiên cứu sớm, ban hành các dự án luật mới để phục vụ phát triển các nền tảng số cũng như ứng dụng các nền tảng này trong phát triển kinh tế - xã hội như: Luật Công nghệ số, Luật Về tiền số, tài sản số (thường gọi là tiền ảo, tài sản ảo)... Đặc biệt, trên tinh thần nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích hoạt động đổi mới, sáng tạo như cơ chế, chính sách cho hoạt động đầu tư mạo hiểm, phương thức làm thí điểm, thể chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory sandbox) trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech); cơ chế khuyến khích và bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với những khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.
- Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo triển khai sâu rộng với những giải pháp thiết thực, hiệu quả “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, được ban hành theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng sớm hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành trong năm 2021 “Đề án phát triển kinh tế số Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã được giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ, tạo cơ sở, định hướng chính sách cho việc xây dựng, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
2. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số[5]. Từ những định hướng này, tác giả cho rằng, Việt Nam cần tập trung đầu tư phát triển hai lĩnh vực sau:
1) Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, các nền tảng số như: mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain)… thậm chí chúng ta cũng phải bắt đầu nghiên cứu ngay về mạng 6G và điện toán lượng tử... là những công nghệ có thể nói là tất yếu của nhân loại trong tương lai gần. Bởi lẽ, việc phát triển nhanh các nền tảng số nêu trên và ứng dụng rộng rãi trong chuyển đổi số mới là tiền đề cho nền kinh tế Việt Nam có bước nhảy vọt, thay đổi về chất, để đi nhanh hơn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 2021 – 2026, cần tập trung đầu tư phát triển mạng 5G nhanh hơn nữa, tạo cơ sở nền tảng cho việc chuyển đổi số các ngành kinh tế, các cơ quan, doanh nghiệp cũng như các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, tốc độ phát triển mạng 5G của Việt Nam được cho là không chậm hơn so với các nước trên thế giới, nhưng chúng ta vẫn đang thua một số nước ở Đông Nam Á như Thái Lan (các nhà mạng của Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm và dự kiến sẽ khai thác thương mại từ giữa năm 2021). Theo Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được phê duyệt bởi Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2025, kinh tế số chiếm 20% GDP; trong đó, tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; đến 2030 kinh tế số chiếm 30% GDP, từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; đến 2030 mới phổ cập dịch vụ mạng di động 5G. Tác giả cho rằng, các mục tiêu nêu trên là khá khiêm tốn, tốc độ phổ cập mạng 5G cũng như kinh tế số như vậy là chậm. Nếu chúng ta quyết tâm thực hiện chuyển đổi số nền kinh tế nhanh hơn, thì cần tập trung đầu tư xây dựng mạng 5G nhanh hơn nữa, đến năm 2026 có thể phổ cập dịch vụ mạng 5G, đặc biệt là phải phổ cập ở tất cả các thành phố và các trung tâm kinh tế, các khu kinh tế, khu công nghiệp trên cả nước.
2) Tập trung nguồn lực cả đầu tư công, cả đầu tư tư nhân xây dựng tuyến đường sắt Bắc – Nam tốc độ cao trong 10 năm (2021-2030). Theo tác giả, xây dựng tuyến đường sắt Bắc – Nam mới tốc độ cao cần được coi là bước đột phá về hạ tầng giao thông trong 10 năm tới (cùng với việc hoàn thành tuyến đường bộ cao tốc phía Đông). Đường sắt Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp lâu đời nhất Việt Nam. Tuy nhiên, trong 140 năm kể từ năm 1881, khi người Pháp đầu tư xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên ở Việt Nam và sau 75 năm thành lập nước Việt Nam mới đến nay, đường sắt Việt Nam vẫn gần như giẫm chân tại chỗ. Đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc tới Nam, hệ thống sân bay và các cảng biển cũng như các trung tâm, các vùng kinh tế trọng điểm được phân bổ suốt dọc chiều dài đất nước. Vì vậy, nhu cầu vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa, kết nối các vùng kinh tế trong cả nước là rất lớn. Chúng ta đã chậm trong đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc phía Đông nhưng đã quá chậm trong đầu tư thêm một tuyến đường sắt Bắc – Nam tốc độ cao.
Hiện nay, Bộ Giao thông Vận tải đang xây dựng dự thảo quy hoạch đường sắt thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, trong đó dự kiến sẽ xây dựng hai đoạn đường sắt tốc độ cao là Hà Nội – Vinh và Nha Trang – TP. Hồ Chí Minh và đưa vào khai thác vào năm 2030-2032; đoạn Vinh – Nha Trang sẽ xây dựng trong thời kỳ 2030-2050. Nếu đến năm 2050 Việt Nam mới có tuyến đường sắt tốc độ cao hoàn chỉnh thì thực sự là quá chậm trễ, không đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng theo Nghị quyết đại hội XIII.
Về giải pháp tổ chức thực hiện, tác giả đề xuất:
Thứ nhất, muốn xây dựng được tuyến đường sắt này, trước hết đỏi hỏi phải có một quyết tâm chính trị cao, sự đồng lòng của mọi cấp, mọi ngành và các địa phương cùng nhân dân cả nước như chúng ta đã quyết tâm và thành công trong xây dựng tuyến đường điện 500kv Bắc – Nam thời Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Cần phải có giải pháp để huy động cho công trình này một lực lượng lao động đông đảo, nhất là thanh niên, quân đội, thậm chí cần phải có các phong trào thanh niên như chúng ta đã từng làm trước đây trong các công trình xây dựng Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An, Hồ Kẻ Gỗ… Tất nhiên, trong điều kiện hiện nay, các phong trào động viên, khơi dậy lòng yêu nước và cống hiến của lực lượng lao động, nhất là thanh niên phải đi liền với chế độ đãi ngộ, thù lao xứng đáng.
Thứ hai, cần sớm khảo sát, đánh giá và xây dựng dự án tuyến đường sắt mới tốc độ cao. Chia thành các đoạn, các gói thầu khác nhau để gọi thầu tư nhân đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Trong đó, Nhà nước bỏ vốn đầu tư công để giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch, sau đó tư nhân bỏ vốn đầu tư, xây dựng nhà ga, tuyến đường và quản lý vận hành (hoặc Nhà nước quản lý vận hành), bảo đảm thu hồi vốn của chủ đầu tư tư nhân (thậm chí bảo đảm thu hồi vốn của chủ đầu tư tư nhân trước rồi mới đến Nhà nước). Những đoạn nào tư nhân không đầu tư thì Nhà nước tập trung nguồn vốn đầu tư công để có thể 10 đến 15 năm hoàn thành toàn bộ tuyến đường sắt này.
Thứ ba, việc đầu tư đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, câu hỏi đặt ra là vốn đầu tư ở đâu? Đối với đầu tư tư nhân, nếu triển khai các gói thầu theo phương thức PPP như nêu trên, tính toán có lợi thì chắc chắn các nhà đầu tư tư nhân, bao gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm. Về nguồn vốn đầu tư công, chắc chắn là phải đi vay. Theo đó, tác giả đề nghị Quốc hội nên chấp nhận điều chỉnh tỷ lệ nợ công cao hơn so với mức hiện nay[6]. Mức cụ thể là bao nhiêu thì cần phải tính toán trên cơ sở các cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Tác giả khuyến nghị nên hạn chế vay ODA, vay từ nước ngoài mà cần tập trung phát hành trái phiếu Chính phủ để vay trong nước là chính. Theo tác giả, hiện nay cũng như trong những năm tới mặt bằng lãi suất huy động cũng như cho vay tín dụng của hệ thống ngân hàng có xu hướng giảm[7], nếu Chính phủ phát hành trái phiếu dài hạn 5 đến 10 năm, với lãi suất hợp lý thì vẫn có thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư hiện còn rất lớn. Kinh nghiệm nhiều nước phát triển có tỷ lệ nợ công rất cao, thậm chí lên đến 200%/GDP nhưng chủ yếu là từ vay trong nước (ví dụ như Nhật Bản[8]), nên họ vẫn bảo đảm an toàn các cân đối vĩ mô của nền kinh tế.
Trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, theo tác giả, nếu có cơ chế kêu gọi được đầu tư tư nhân và dành nguồn lực đầu tư công để hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao (cùng với tuyến đường bộ cao tốc phía đông) thì mục tiêu đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế theo Nghị quyết của Đại hội Đảng XII và XIII cơ bản là thành công, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cả nước.
3. Chiến lược về phát triển nguồn nhân lực
Nghị quyết đại hội Đảng XIII ghi: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[9]
Tác giả cho rằng, chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong 5 đến 10 năm tới vẫn xoay quanh việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực để cập nhật các thành tựu khoa học, công nghệ của CMCN 4.0 và phục vụ chuyển đổi số nền kinh tế. Theo đó, cần tập trung vào xây dựng cơ chế và giải pháp đồng bộ cho cả ba lĩnh vực: giáo dục, đào tạo nghề và đào tạo đại học. Đặc biệt là đào tạo nghề, cần đổi mới chương trình, nội dung, tập trung đào tạo các nghề đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số nền kinh tế. Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến việc liên kết trong đào tạo nghề với sử dụng lao động giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp. Đồng thời, với việc cập nhật bổ sung tư duy, kiến thức của cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, để nâng cao nhận thức cũng như chất lượng trong nghiên cứu, hoạch định chính sách và quản lý nhà nước thời CMCN 4.0 của đội ngũ này, Bộ Thông tin và Truyền thông cần sớm hoàn thiện trình Chính phủ ban hành “Đề án nâng cao nhận thức, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã được giao trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, ngày 01/01/2021. Mục tiêu cần đạt là trong 10 năm tới, nguồn nhân lực Việt Nam phải đủ về số lượng và năng lực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế số, xã hội số.
4. Đầu tư, tạo bước phát triển đột phá, bền vững về nông nghiệp trong 10 năm tới
Vấn đề này không nằm trong ba đột phá chiến lược của Nghị quyết đại hội XIII, nhưng tác giả cho rằng, nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và dư địa phát triển, cần khai thác cho phát triển bền vững đất nước, cải thiện đời sống người dân. Việc chọn trọng tâm phát triển nông nghiệp vì lý do sau:
- Chúng ta có tiềm năng về phát triển nông nghiệp: tài nguyên đất đai, khí hậu cơ bản có nhiều lợi thế, sản phẩm đa dạng và giàu tiềm năng xuất khẩu, người nông dân cần cù, chịu khó, có khả năng sáng tạo và khao khát làm giàu;
- Dư địa cho phát triển nông nghiệp còn rất lớn: nếu khai thác được các tiềm năng nêu trên, đặc biệt, nếu sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn theo mô hình nông nghiệp hữu cơ thì khả năng xuất khẩu nông sản là rất lớn từ lợi thế của 16 hiệp định thương mại tự do mang lại; đồng thời thị trường trong nước với gần 100 triệu dân đang khao khát thực phẩm sạch cũng là dư địa lớn cho phát triển nông nghiệp bền vững;
- Phát triển được nông nghiệp thì tức khắc sẽ giải quyết được vấn đề nông dân và nông thôn - khu vực mà Nhà nước cần quan tâm cải thiện và thay đổi; người nông dân cần được quan tâm hơn để nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống. GDP tăng cao phải đi liền với thu nhập của người nông dân tăng cao, đó mới là phát triển bền vững.
Để tạo bước phát triển đột phá, bền vững trong nông nghiệp, tác giả cho rằng, cần phải xử lý ba vấn đề sau:
- Sớm sửa đổi Luật Đất đai (trong năm 2022) để mở rộng hạn điền, cho phép tích tụ đất đai nhiều hơn, đồng thời với việc điều chỉnh mục đích sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, phù hợp, bảo đảm cân đối, hài hòa giữa an ninh lương thực của quốc gia với hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất;
- Phải kết nối được các doanh nghiệp, nhà đầu tư với nông dân để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn theo các phương thức chính như sau: (1) Phát triển đa dạng các mô hình kinh tế hợp tác ngoài mô hình hợp tác xã như hiện nay. Theo đó, cần phải xây dựng và ban hành Luật Về kinh tế hợp tác thay thế Luật Hợp tác xã hiện hành; (2) nông dân cho doanh nghiệp thuê đất; (3) góp vốn bằng đất để cùng đầu tư thành lập doanh nghiệp nông nghiệp hoặc thực hiện dự án; (4) ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm để chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu;
- Đưa khoa học, công nghệ cao vào nông nghiệp.
Để hiện thực hóa được ba việc trên, Nhà nước cần có chính sách mạnh mẽ hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sạch, hướng mạnh vào xuất khẩu. Cụ thể, trong 10 năm tới mỗi năm Nhà nước cần đầu tư khoảng 30 đến 35 nghìn tỷ đồng (khoảng trên dưới 2% chi ngân sách), tập trung cho ba việc sau: (1) chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu; (2) thực hiện điều tra, khảo sát, thống kê để thông tin, dự báo cho người dân về sản phẩm, về thị trường; tăng cường xúc tiến thương mại, giúp người dân, doanh nghiệp tìm kiếm thị trường xuất khẩu, khắc phục tình trạng được mùa mất giá, tình trạng “giải cứu” nông sản, người nông dân mù mờ về thông tin thị trường; (3) thực hiện khuyến nông mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ chuyển giao khoa học, công nghệ cho doanh nghiệp nông nghiệp, nông dân. Trong đó, đặc biệt chú trọng hỗ trợ nghiên cứu và cung cấp giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao; hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao quy trình công nghệ về nuôi trồng hiện đại, sạch, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu sang các thị trường khó tính, tận dụng tối đa lợi thế của các hiệp định thương mại tự do đang còn rất nhiều dư địa cho xuất khẩu nông sản.
Nếu làm được như trên, theo tác giả, sau 10 năm, đến 2030, nông nghiệp Việt Nam chắc chắn sẽ cất cánh. Đây là thế mạnh mà Việt Nam cần khai thác cho phát triển bền vững./.

 


[1] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, năm 2021, tr.337.
[2] Năm 1992 ban hành Hiến pháp năm 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980; Năm 2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và năm 2013 ban hành Hiến pháp mới.
[3] Điều 15 Hiến pháp năm 1992.
[4] Trên thực tế, từ năm 1977, Việt Nam đã có văn bản pháp lý đầu tiên về đầu tư nước ngoài là “Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, được ban hành bởi Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng. Tuy nhiên, thực tiễn đầu tư nước ngoài theo Nghị định này hầu như không đáng kể.
[5] Xem: sách đã dẫn, tr. 338.
[6] Theo Báo cáo đánh giá nợ công giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ, năm 2019 nợ công/GDP là 55,0%; năm 2020 ước đạt 56,8%. Nợ Chính phủ/GDP năm 2019 là 48,0%; năm 2020 ước 50,8%. Nợ nước ngoài Quốc gia/GDP năm 2019 là 47,1%; năm 2020 ước 47,9%. Xem bài viết “Tỷ lệ nợ công /GDP của Việt Nam không ngừng giảm”, Tạp chí vneconomy.vn, ngày 22/10/2020.
[7] Báo cáo của Ngân hàng nhà nước cho biết, từ năm 2016 đến thời điểm cuối tháng 10/2020, cơ quan này đã điều chỉnh giảm 2-2,5% các mức lãi suất điều hành. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam là giảm mạnh nhất (Philippines giảm 1,75%; Thái Lan giảm 0,75%; Indonesia giảm 1%; Malaysia giảm 1,25%). Tuy nhiên, theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ở thời điểm tháng 7/2020, lãi suất cho vay bình quân của ASEAN-6 khoảng 5,7%/năm; ASEAN-4 khoảng 4,82%/năm; Việt Nam vẫn còn khá cao với 7,2%/năm. Mặc dù vậy, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam là 4,5%/năm, thấp hơn mức bình quân của ASEAN-4 (Xem bài viết: “Lãi suất cho vay của Việt Nam cao hay thấp so với khu vực”, Tạp chí điện tử VnEconomy ngày 31/10/2020). Theo quan sát của tác giả, từ thời điểm đó đến nay lãi suất huy động cũng như cho vay của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm.
[8] Theo thống kê của IMF, nợ công của Nhật Bản là 237,6%/GDP; Singapore là 111,1%/DGP; Mỹ là 105,2%/GDP. Xem bài viết “Những quốc gia vay nợ nhiều nhất”, Tạpchitaichinh.vn ngày 27/10/2019. Theo khảo sát của tác giả, ở thời điểm hiện nay nợ công của Nhật Bản có thể đã lên đến 250%/GDP.
 
[9] Xem: Sách đã dẫn, tr.338.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 09 (433), tháng 5/2021.)


Ý kiến bạn đọc