Ký kết hợp đồng thông qua phương thức điện tử

26/06/2020

TRƯƠNG NHẬT QUANG*

HUỲNH THÔNG**

*,** LS. Công ty luật TNHH YKVN.

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử của tòa án, qua đó khẳng định: Các quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng chữ ký scan và chữ ký hình ảnh cho hợp đồng lập bằng văn bản. Các án lệ và bản án của Tòa án nhân dân tối cao đưa ra trong thời gian gần đây cho thấy, tòa án ngày càng xem xét bản chất của sự chấp thuận hơn là hình thức của sự chấp thuận và chữ ký không quan trọng để xác định hiệu lực của hợp đồng. Cách tiếp cận này giúp hạn chế rủi ro hợp đồng bị vô hiệu khi có vấn đề về hình thức thỏa thuận. Đây là cách tiếp cận cần tiếp tục được khẳng định và nhân rộng trong thời gian tới[1]. 
Từ khóa: Hợp đồng điện tử, chữ ký điện tử, Bộ luật Dân sự; Luật giao dịch điện tử
Abstract: This article provides an analysis of the applicable legal provisions and judicial practices of the courts, thereby it is to confirm: the general provisions of the Civil Code of 2015 provide the legal ground for the use of scanned and pictured signatures for the written contracts. The recent case law and the judgments by the Supreme People's Court show that the courts have focused on reviewing the nature of contract acceptance rather than the method of acceptance of a contract and the signature is not important to determine the validity of the contract. This approach is reducing the potential risks for the contracts of being declared as non-validity when there is an issue recognized in the form of the contractual agreement. This is an approach that needs to be further confirmed and spread for application in the future.
Keywords: electronic contract; electronic signature; the Civil Code; Law on Electronic Transaction
 
CHỮ-KÝ-ĐIỆN-TỬ.jpg 
Ảnh minh họa: Nguồn internet
Tiện ích mà công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại đem lại đã giúp hình thành những thói quen giao dịch mới. Các bên trong giao dịch có khuynh hướng thực hiện việc trao đổi thông tin, ký hợp đồng và lưu trữ thông tin giao dịch dưới dạng điện tử thường xuyên hơn. Hệ quả là việc sử dụng chữ ký được tạo bằng các phương thức điện tử (hay gọi chung là chữ ký điện tử) để ký hợp đồng cũng ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam và nhiều quốc gia khác vẫn đang áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển trên phạm vi toàn cầu nhằm phòng tránh nguy cơ lây lan dịch bệnh Covid-19, xu hướng sử dụng chữ ký điện tử dự kiến sẽ vẫn tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Đây là giải pháp phù hợp để các bên có thể ký hợp đồng mà không cần gặp mặt trực tiếp. 
1. Thông lệ sử dụng chữ ký điện tử
   Hiện nay, các bên trong giao dịch có thể ký các hợp đồng bằng chữ ký điện tử theo 3 cách thức phổ biến là: chữ ký scan, chữ ký hình ảnh và chữ ký số. Quy trình ký kết hợp đồng bằng các loại chữ ký điện tử này thông thường được thực hiện như sau:
- Chữ ký số: (i) các bên sử dụng một nền tảng và thiết bị chuyên dụng do công ty cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cung cấp để tạo chữ ký số; (ii) chữ ký số được tạo ra sau đó được chèn dưới dạng điện tử vào hợp đồng cần ký. Chữ ký số ít được sử dụng trong giao kết hợp đồng có giá trị lớn và phức tạp mà chủ yếu được sử dụng khi tổ chức nộp tờ khai hải quan, bảo hiểm xã hội, nộp thuế qua mạng, phát hành hóa đơn điện tử và tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch điện tử qua hệ thống ngân hàng.
- Chữ ký scan:(i) hợp đồng được người ký in ra từ tệp dữ liệu điện tử và người ký của mỗi bên ký trực tiếp trên văn bản giấy của hợp đồng bằng chữ ký sống; và (ii) hợp đồng cùng với chữ ký trên hợp đồng sẽ được chuyển thành dạng điện tử (ví dụ: bằng cách quét hình (scanning) và bản quét hình (tệp dữ liệu điện tử) của hợp đồng đã ký, sau đó được gửi đi bằng thư điện tử. Chữ ký scan được sử dụng nhiều trong hợp đồng có nhiều bên và các bên không ở cùng một địa điểm để có thể cùng ký trên một bản của hợp đồng. Chữ ký scan đặc biệt thông dụng trong các hợp đồng liên quan đến giao dịch đa quốc gia và có yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể.
- Chữ ký hình ảnh: (i) người ký chèn hình ảnh chữ ký của người ký vào ô chữ ký của tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng; và (ii) tệp dữ liệu điện tử của hợp đồng (có chữ ký bằng chữ ký hình ảnh trên hợp đồng điện tử đó) được gửi đi bằng thư điện tử. Chữ ký hình ảnh được sử dụng nhiều trong hợp đồng có giá trị không lớn nhưng được ký nhiều lần và lặp đi lặp lại, đồng thời người ký không ở cùng một địa điểm mà hợp đồng có thể in và ký bằng chữ ký sống.
Thực tế trong giao kết hợp đồng có giá trị lớn và phức tạp cho thấy, chữ ký scan là hình thức phổ biến nhất, chữ ký hình ảnh ít phổ biến hơn và chữ ký số ít phổ biến nhất. Ngược lại, chữ ký số thông dụng hơn chữ ký scan và chữ ký hình ảnh trong các hợp đồng dân sự có tính chất tiêu dùng.
2. Giá trị của chữ ký số, chữ ký scan và chữ ký hình ảnh theo pháp luật Việt Nam
Khung pháp lý điều chỉnh chữ ký điện tử gồm: Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (Luật GDĐT 2005) và các nghị định hướng dẫn bao gồm: Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật GDĐT 2005 về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Nghị định 130) và Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (Nghị định 52). BLDS 2015 điều chỉnh tất cả các loại giao dịch và hợp đồng, bao gồm cả các giao dịch và hợp đồng được ký kết bằng chữ ký sống và các giao dịch và hợp đồng được ký kết thông qua phương tiện điện tử. Luật GDĐT 2005, Nghị định 130 và Nghị định 52 điều chỉnh cụ thể vấn đề chữ ký điện tử và các giao dịch điện tử. 
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam chỉ mới công nhận hiệu lực của các hợp đồng được lập bằng hình thức điện tử và được ký bằng chữ ký số. Hiệu lực của các hợp đồng được ký bằng chữ ký scan và chữ ký hình ảnh chưa được quy định cụ thể. Chúng tôi cho rằng việc kết luận các hình thức này không được phép hoặc không có giá trị pháp lý vì không được quy định cụ thể trong pháp luật mang tính chủ quan và chưa phù hợp với thông lệ thị trường. Chữ ký scan và chữ ký hình ảnh có giá trị pháp lý nếu chữ ký đó thể hiện ý chí của người ký và người ký có thẩm quyền ký.
2.1. Định nghĩa chữ ký điện tử
Chữ ký điện tử được định nghĩa tương đối rộng và trừu tượng. Theo Luật GDĐT 2005, “chữ ký điện tử” có các đặc tính sau: (i) được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử; (ii) được gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với hợp đồng điện tử (ví dụ, dưới định dạng PDF hoặc Word); và (iii) có khả năng xác nhận người ký hợp đồng điện tử và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung của hợp đồng điện tử được ký.[2] Chữ ký điện tử có giá trị pháp lý nếu thỏa mãn các điều kiện về khả năng định danh và mức độ tin cậy, cụ thể là: (i) phương pháp tạo chữ ký điện tử cho phép xác minh được người ký và chứng tỏ được sự chấp thuận của người ký đối với nội dung của hợp đồng và (ii) phương pháp tạo chữ ký điện tử là đủ tin cậy và phù hợp với mục đích mà hợp đồng được tạo ra và gửi đi.[3] 
Chữ ký số
Nghị định 130 quy định rõ chữ ký số là một loại chữ ký điện tử. Văn bản được ký bằng chữ ký số không bắt buộc phải có con dấu.[4]Chữ ký số được công nhận trong việc gửi tài liệu cho tòa án và không làm phát sinh vấn đề về hiệu lực.[5] Để đáp ứng yêu cầu kiểm tra về khả năng định danh và mức độ tin cậy, yêu cầu chính là chữ ký số phải được chứng thực bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng được cấp phép.[6] Tính đến tháng 2/2020, có 15 doanh nghiệp đã được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng tại Việt Nam và không có bất kỳ doanh nghiệp nào trong số đó là pháp nhân nước ngoài.[7] Hiện tại, chưa có cơ sở chắc chắn để xác định liệu dịch vụ chữ ký số do các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài cung cấp tại Việt Nam (chẳng hạn như DocuSign hoặc Adobe Sign, v.v.) có được công nhận tại Việt Nam không, mặc dù cũng không có bất kỳ lý do gì về mặt chính sách để loại bỏ dịch vụ của các doanh nghiệp này.[8] 
Chữ ký scan và chữ ký hình ảnh
Do không được quy định cụ thể trong Luật GDĐT 2005, Nghị định 130 và Nghị định 52, nên chữ ký scan và chữ ký hình ảnh không đương nhiên được coi là một loại chữ ký điện tử và hợp đồng được ký bằng chữ ký scan và chữ ký hình ảnh theo cách thức nêu trên không đương nhiên có hiệu lực. Mặc dù pháp luật chưa quy định rõ về chữ ký scan và chữ ký hình ảnh, nhưng không có bất kỳ lý do gì về chính sách để không công nhận hiệu lực của hợp đồng được ký bằng các loại chữ ký điện tử này, và cũng không có cơ sở pháp lý để kết luận định nghĩa về chữ ký điện tử trong Luật GDĐT 2005 loại trừ chữ ký scan và chữ ký hình ảnh.
2.2. Quy định chung của Bộ luật Dân sự năm 2015
BLDS 2015 cho phép các hình thức giao kết hợp đồng khác nhau. Cụ thể, hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.[9] Trên thực tế, lời nói hoặc hành vi cụ thể là các hình thức giao kết hợp đồng phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự thường gặp trong đời sống hàng ngày. Ví dụ, người dân mua hàng trong siêu thị và trả tiền cho món hàng đó hoặc sử dụng các dịch vụ vận chuyển hành khách, hàng hóa (như đi xe buýt, máy bay) và thanh toán giá vé, cước phí vận chuyển cho hành khách và hàng hóa.[10] Các giao dịch này không cần phải được lập thành văn bản (nên không đặt ra vấn đề về chữ ký) và hóa đơn mua hàng, vé, vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển khác chính là bằng chứng giao kết hợp đồng giữa các bên. Điều quan trọng là hợp đồng thể hiện sự thỏa thuận của các bên, còn hình thức của sự thỏa thuận không nhất thiết phải bằng văn bản. 
Hợp đồng chỉ có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức nếu luật có quy định. Theo quy định của luật hiện hành, một số loại hợp đồng phải được lập thành văn bản (hợp đồng chuyển nhượng bất động sản, hợp đồng xây dựng, v.v..).  Trong trường hợp này, yêu cầu bổ sung về công chứng, chứng thực hoặc đăng ký cũng có thể được áp dụng (các hợp đồng về chuyển nhượng bất động sản phải được lập thành văn bản, được ký và công chứng). Trong trường hợp luật không quy định hợp đồng phải được lập thành văn bản, các bên có thể viện dẫn các thảo luận bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể để thể hiện sự thống nhất về ý chí, thông qua đó tạo thành hợp đồng có tính ràng buộc pháp lý. 
Liên quan đến hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản, khoản 4 Điều 400 BLDS 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.” Như vậy, BLDS 2015 không yêu cầu chữ ký phải là chữ ký sống hay cấm việc sử dụng chữ ký điện tử. BLDS 2015 cũng công nhận “hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” và công nhận giao dịch thông qua phương tiện điện tử.[11] Trên thực tế, chúng ta cũng có thể gặp các trường hợp giao kết hợp đồng bằng văn bản mà không cần phải có chữ ký sống của bất kỳ bên nào. Ví dụ, khi tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng các dịch vụ trực tuyến (như các dịch vụ ngân hàng điện tử, các trang thương mại điện tử hoặc các dịch vụ cung cấp nội dung trực tuyến). Để được cung cấp dịch vụ, ngay ở bước đầu tiên của quá trình đăng ký dịch vụ, người sử dụng dịch vụ phải chấp nhận các điều khoản và điều kiện của bên cung cấp dịch vụ xuất hiện trên màn hình của thiết bị điện tử bằng cách đánh dấu vào ô “Đồng ý” ở phần cuối cùng của bảng điều khoản và điều kiện. Các điều khoản và điều kiện này, khi được chấp nhận, sẽ trở thành một phần trong hợp đồng giữa người sử dụng dịch vụ và bên cung cấp dịch vụ và hợp đồng này không có chữ ký sống của bất kỳ bên nào. Một ví dụ khác cũng thường gặp là khi các cá nhân không biết chữ có thể dùng vân tay để điểm chỉ vào hợp đồng. Khi được điểm chỉ, hợp đồng cũng tạo lập nghĩa vụ ràng buộc các bên mà không có chữ ký sống của bất kỳ bên nào.
Như vậy, nếu một cá nhân không thể ký sống được thì người đó có thể dùng một hình thức chấp nhận khác để thể hiện ý chí chấp thuận toàn bộ nội dung thỏa thuận được thể hiện trên văn bản hợp đồng, như đánh dấu vào ô “Đồng ý” trên màn hình của thiết bị điện tử và điểm chỉ bằng vân tay. Cũng như việc đánh dấu vào ô “Đồng ý” và điểm chỉ bằng vân tay, chữ ký scan và chữ ký hình ảnh có thể được coi là hình thức ký hoặc một hình thức chấp nhận khác. Ở đây, điều quan trọng là hình thức chấp nhận được thể hiện bằng các dấu hiệu riêng biệt trên văn bản giúp xác nhận người ký và chứng tỏ sự chấp thuận của người ký. Đây cũng là tinh thần của Luật GDĐT 2005 trong quy định về định nghĩa chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của chữ ký điện tử.
Hình thức chấp thuận của người ký cũng đặt ra một câu hỏi phái sinh liên quan đến thẩm quyền của người ký. Nói cách khác, nếu một bên có thể có các bằng chứng chứng minh rằng, các chữ ký scan và chữ ký hình ảnh thể hiện sự chấp thuận của người ký và người ký có thẩm quyền, chữ ký scan và chữ ký hình ảnh hoàn toàn có thể có giá trị như một chữ ký. Liên quan đến cách tiếp cận này, BLDS 2015 đã công nhận việc các bên xác lập “quyền đại diện bề ngoài”. “Quyền đại diện bề ngoài” được xác lập khi một bên có hành động làm cho bên kia tin tưởng một cách hợp lý rằng, bên đại diện có quyền đại diện (hoặc ở một khía cạnh khác, làm cho bên kia không biết hoặc không thể biết là bên đại diện không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện). Theo đó, BLDS 2015 chấp nhận “quyền đại diện bề ngoài” khi: (i) một bên đã công nhận giao dịch; (ii) một bên biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; hoặc (iii) một bên có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện.[12]
Nói tóm lại, quy định của BLDS năm 2015 tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng chữ ký scan và chữ ký hình ảnh cho hợp đồng lập bằng văn bản. Quá trình giao dịch của các bên cũng có thể giúp xác lập thẩm quyền bề ngoài khi thẩm quyền của người ký không rõ ràng. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là các án lệ và bản án của Tòa án nhân dân tối cao đưa ra trong thời gian gần đây cho thấy tòa án ngày càng xem xét bản chất của sự chấp thuận hơn là hình thức của sự chấp thuận và điều này giúp hạn chế rủi ro hợp đồng bị vô hiệu khi có vấn đề liên quan đến hình thức thỏa thuận (trong đó có vấn đề về chữ ký). 
3. Cách tiếp cận của Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến giá trị của chữ ký điện tử
Mặc dù chưa có bất kỳ án lệ nào của tòa án giải quyết cụ thể vấn đề về hiệu lực của các hợp đồng được ký bằng chữ ký điện tử, đã có các án lệ và bản án cho thấy các tòa án Việt Nam thiên về cách tiếp cận chú trọng nội dung (tức là xem xét ý chí thực sự của các bên trong giao dịch) hơn là hình thức thể hiện sự chấp thuận đối với nội dung đó (tức là xem xét hình thức hợp đồng và chữ ký). Trong một số án lệ và bản án, Tòa án nhân dân tối cao đã ra phán quyết rằng, hành vi của các bên trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng có giá trị quan trọng để xác định ý chí của các bên trong hợp đồng và cho dù hợp đồng không được ký bởi các bên có liên quan, hợp đồng đó vẫn không bị vô hiệu. 
Án lệ số 04/2016/AL ngày 6/4/2016 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (tranh chấp giữa Kiều Thị Tý và Chu Văn Tiến với Lê Văn Ngự -Án lệ 04)
Án lệ 04, bên bán trong một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hai vợ chồng nhưng chỉ có một mình người chồng ký hợp đồng. Tuy nhiên, người vợ đã biết về giao dịch này, đã không phản đối giao dịch và đã sử dụng tiền có được từ việc chuyển nhượng cho các mục đích khác nhau, bao gồm việc cho tặng con cái. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên rằng, hợp đồng không bị vô hiệu mặc dù đã có vi phạm về yêu cầu phải có chữ ký (cụ thể là người vợ đã không ký hợp đồng này) do người vợ đã không phản đối hợp đồng và việc người vợ sử dụng tiền có được từ việc chuyển nhượng chứng tỏ có sự chấp thuận của người vợ đối với hợp đồng.
Án lệ số 07/2016/AL ngày 17/10/2016 về công nhận hợp đồng mua bán nhà được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991(tranh chấp giữa Nguyễn Đình Sông, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Thị Hương với Đỗ Trọng Thành, Đỗ Thị Nguyệt, Vương Chí Tường, Vương Chí Thắng, Vương Bích Vân, Vương Bích Hợp - Án lệ 07)
Án lệ 07, trong hợp đồng mua bán nhà chỉ được bên bán ký và ghi rõ bên bán đã nhận đủ tiền. Bên mua tuy chưa ký tên trên hợp đồng nhưng là người giữ hợp đồng và đã quản lý, sử dụng nhà ở ổn định trong thời gian dài mà bên bán không có tranh chấp đòi tiền mua nhà. Trong trường hợp này, hợp đồng có giá trị xác định bên mua đã trả đủ tiền cho bên bán và ý chí của bên mua đồng ý với hợp đồng mua bán nhà đó. Do vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên rằng, hợp đồng mua bán nhà không bị vô hiệu và được công nhận giá trị pháp lý.
Quyết định Giám đốc thẩm số 47/2016/KDTM-GĐT ngày 29/8/2016 của Tòa án nhân dân tối cao (tranh chấp giữa Công ty TNHH Huada Furniture Việt Nam với Công ty Cổ phần Bảo hiểm PJICO) (Quyết định GĐT 47)
Quyết định GĐT 47, công ty bảo hiểm đã phát hành hợp đồng bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm nhưng chưa nhận được bản hợp đồng có chữ ký của bên mua bảo hiểm. Hợp đồng cho phép bên mua bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm trong thời hạn 30 ngày. Trước khi bên mua bảo hiểm thanh toán đủ phí bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm xảy ra. Bên mua bảo hiểm sau đó đã thanh toán đủ phí bảo hiểm trong thời hạn và viện dẫn hợp đồng bảo hiểm để yêu cầu công ty bảo hiểm thanh toán. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm từ chối vì cho rằng, hợp đồng bảo hiểm không tồn tại. Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân tối cao công nhận có sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm giữa bên mua bảo hiểm và công ty bảo hiểm do việc bên mua đã thanh toán đầy đủ tiền phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm mặc dù bên mua bảo hiểm đã không ký vào hợp đồng bảo hiểm.
Theo các án lệ và bản án trên, chữ ký không quan trọng để xác định hiệu lực của hợp đồng. Đây là xu hướng phát triển rất đáng lưu ý trong thực tiễn áp dụng pháp luật gần đây của tòa án.
Tóm lại, mặc dù pháp luật chưa quy định rõ về chữ ký scan và chữ ký hình ảnh, nhưng không có bất kỳ lý do gì về chính sách để không công nhận hiệu lực của hợp đồng được ký bằng các loại chữ ký scan, chữ ký hình ảnh hoặc chữ ký điện tử khác, đặc biệt là khi hợp đồng cũng có thể được giao kết bằng lời nói và hành vi; cũng không có cơ sở pháp lý để kết luận định nghĩa về chữ ký điện tử quy định tại Luật GDĐT 2005 loại trừ chữ ký scan và chữ ký hình ảnh. Chúng tôi cho rằng các quy định chung của BLDS 2015 tạo cơ sở pháp lý cho việc sử dụng chữ ký scan và chữ ký hình ảnh cho hợp đồng lập bằng văn bản. Các án lệ và bản án của Tòa án nhân dân tối cao đưa ra trong thời gian gần đây cho thấy, tòa án ngày càng xem xét bản chất của sự chấp thuận hơn là hình thức của sự chấp thuận và chữ ký không quan trọng để xác định hiệu lực của hợp đồng. Cách tiếp cận này giúp hạn chế rủi ro hợp đồng bị vô hiệu khi có vấn đề về hình thức thỏa thuận. Đây là cách tiếp cận cần tiếp tục được khẳng định và nhân rộng trong thời gian tới. Cách tiếp cận này giúp hạn chế các hợp đồng bị tuyên vô hiệu và thúc đẩy việc ký hợp đồng bằng chữ ký điện tử, đặc biệt là chữ ký scan và chữ ký hình ảnh. Điều này sẽ giúp xã hội tận dụng tiện ích mà công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại mang lại cũng như giải quyết khó khăn trong giao kết hợp đồng do các biện pháp giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh lây lan dịch bệnh Covid-19./.
  

[1] Nội dung được trình bày trong bài viết này thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả và không nhất thiết đại diện cho quan điểm của Công ty Luật TNHH YKVN. Các tác giả xin cám ơn chị Nguyễn Trịnh Thủy Tiên đã nghiên cứu và giúp các tác giả viết bài báo này.
[2] Luật GDĐT 2005, Điều 21.1.
[3] Luật GDĐT 2005, Điều 24.1.
[4] Luật GDĐT 2005, Điều 24.2 và Nghị định 130, Điều 8.2.
[5] Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao ngày 30/12/2016 hướng dẫn về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử, Điều 7.1.
[6] Nghị định số 130, Điều 8 và 9.
[8] Có cơ sở pháp lý theo các Điều 8, 9, 11 và 20 của Nghị định 130 để cho rằng các dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài có thể được chấp nhận nếu các bên đồng ý sử dụng các dịch vụ và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đó đáp ứng các tiêu chuẩn và yêu cầu công nghệ do Bộ Thông tin và Truyền thông công bố.
[9] BLDS 2015, Điều 119.1.
[10] Luật Thương mại năm 2005, Điều 24.1 và Điều 74.1 và BLDS 2015, Điều 523.1 và Điều 531.1.
[11] BLDS 2015, Điều 119.1.
[12] BLDS 2015, Điều 142.1 và Điều 143.1.
 
 

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10 (410), tháng 5/2020.)


Ý kiến bạn đọc