Hoàn thiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

21/04/2020

HỒ THỦY TIÊN

Chuyên viên Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Hiện nay, các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được quy định tại Điều 75 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 và Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ). Tuy nhiên, vấn đề xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập ở cả góc độ pháp luật lẫn thực tiễn xử phạt, từ đó làm giảm hiệu quả xử phạt đối với lĩnh vực này.
Từ khóa:Vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Abstract: Currently, the provisions on sanctioning of the administrative violations for activities of Vietnamese guest workers are prescribed in Article 75 of the Law on Vietnamese Guest Workers of 2006 and the Decree No. 95/2013/ND-CP dated August 22, 2013 of the Government stipulating sanctions against administrative violations in the field of labor, social insurance and activities of Vietnamese guest workers (amended and supplemented by the Government's Decree No. 88/2015/ND-CP dated October 7, 2015). However, the issue of administrative sanctions for activities of Vietnamese guest workers still has many shortcomings in both legal and practical aspects, which may reduce the sanctioning effieciency on this field.
Keywords:administrative violations, sanctioning of administrative violations, Vietnamese guest workers.
đưa-người-đi-lao-động-nước-ngoài.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Quy định về hành vi vi phạm bị xử phạt
Theo quy định của Luật Người lao động (NLĐ) Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài[1] phải có vốn pháp định theo quy định của Chính phủ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài[2]. Nếu không đáp ứng được các điều kiện này thì doanh nghiệp không được thực hiện dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số lượng lớn các doanh nghiệp tuy chưa đủ điều kiện để thực hiện dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài những vẫn thực hiện dịch vụ này. Đơn cử tại tỉnh Hà Tĩnh, trong tháng 9/2019, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh phối hợp với Công an tỉnh kiểm tra, rà soát hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng xuất khẩu lao động trên địa bàn và phát hiện nhiều doanh nghiệp vi phạm. Kết quả kiểm tra cho thấy, các doanh nghiệp này không có Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài nhưng vẫn tổ chức triển khai các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, tiếp nhận hồ sơ đăng ký xuất khẩu lao động, tổ chức cung ứng lao động cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Cụ thể, có 6 công ty vi phạm gồm: Công ty TNHH nhân lực Toàn Cầu HT; Công ty TNHH Hợp tác Quốc tế Victory; Công ty phát triển nhân lực quốc tế ASK; Công ty TNHH Hùng Hường; Công ty TNHH Nhân lực Việt Anh Kenzy và Công ty Cổ phần Hợp tác Quốc tế Hoàng Gia[3].
Mặc dù Điều 34 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) (Nghị định số 95) quy định về hành vi vi phạm và mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm quy định về tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài và quản lý NLĐ ở ngoài nước. Tuy nhiên, Điều 34 này lại không quy định về việc xử phạt đối với hành vi của doanh nghiệp tổ chức đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Về mặt lý luận, để được xem là vi phạm hành chính (VPHC), hành vi đó phải được quy định tại điều, khoản cụ thể trong một văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt VPHC (Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực). Đây là dấu hiệu pháp lý quan trọng nhất của VPHC: chỉ khi nào được pháp luật quy định cụ thể thì khi đó hành vi mới là VPHC[4]. Do đó, việc thiếu sót khi quy định về hành vi vi phạm sẽ dẫn đến hệ quả không thể xử phạt đối với các vi phạm trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Để khắc phục thiếu sót trên, chúng tôi kiến nghị, cần bổ sung vào Điều 34 Nghị định số 95 quy định xử phạt đối với hành vi “Đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi không có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và không thuộc trường hợp doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề”.
2. Quy định về hình thức xử phạt
Các quy định về hình thức xử phạt áp dụng đối với VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giữa Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 (Luật NLĐ Việt Nam) với Luật Xử lý vi phạm hành chính  năm 2012 (Luật XLVPHC) và Nghị định số 95  đang tồn tại nhiều điểm thiếu thống nhất, thậm chí là vô hiệu hóa lẫn nhau, từ đó làm giảm đi giá trị điều chỉnh và áp dụng của các quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực này.
Theo quy định tại Điều 75 Luật NLĐ Việt Nam, “thu hồi giấy phép”, “buộc về nước” là hình thức xử phạt bổ sung áp dụng đối với các chủ thể VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong khi đó, Điều 21 Luật XLVPHC không quy định hai hình thức xử phạt bổ sung này, mà chỉ quy định 3 hình thức xử phạt bổ sung sau đây: (i) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (ii) Tịch thu tang vật VPHC, phương tiện được sử dụng để VPHC; (iii) Trục xuất. Như vậy, giữa Luật NLĐ Việt Nam và Luật XLVPHC đã có sự không thống nhất về các hình thức xử phạt bổ sung áp dụng cho lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Bên cạnh đó, ở góc độ thẩm quyền áp dụng, có thể khẳng định, chế tài “thu hồi giấy phép” không thể áp dụng với tư cách là một hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật xử phạt VPHC. Bởi lẽ, Luật NLĐ Việt Nam quy định thẩm quyền “thu hồi giấy phép” thuộc về Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội[5], trong khi đó chức danh này không được Luật XLVPHC quy định thẩm quyền xử phạt VPHC.
Để khắc phục bất cập trên, chúng tôi kiến nghị cần sửa đổi Luật NLĐ Việt Nam theo hướng bỏ hình thức xử phạt bổ sung thu hồi giấy phép”, buộc về nước” cho phù hợp với Luật XLVPHC.
3. Quy định vềngười có thẩm quyền áp dụng sai chế tài khi xử phạt vi phạm hành chính
Một là, áp dụng sai mức tiền phạt
Theo quy định của Luật XLVPHC, một người thực hiện nhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm[6], do vậy nếu cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì sẽ bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Trong trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tiền thì số tiền người vi phạm phải nộp bằng tổng số tiền phạt của tất cả các vi phạm cộng lại. Tuy nhiên, thực tiễn xử phạt VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho thấy, diễn ra trường hợp người có thẩm quyền đã áp dụng sai mức tiền phạt khi xử phạt đối với nhiều vi phạm.
Ví dụ, ngày 23/08/2019,  Chánh Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 98/QĐ-XPVPHC để xử phạt VPHC đối với Công ty Cổ phần SIMCO Sông Đà với tổng số tiền là 30.000.000 đồng do thực hiện 02 VPHC đó là: (i) thực hiện không đầy đủ việc bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo quy định; (ii) nội dung hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài không phù hợp với Hợp đồng cung ứng lao động[7]. Trong khi đó, theo quy định của Nghị định số 95 thì hành vi “Thực hiện không đầy đủ việc bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo quy định” sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng[8] (mức phạt trung bình là 30.000.000 đồng); hành vi “Nội dung hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài không phù hợp với Hợp đồng cung ứng lao động” sẽ bị phạt tiền từ từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng[9] (mức phạt trung bình là 65.000.000 đồng). Trong trường hợp này, tổng tiền phạt áp dụng cho Công ty Cổ phần SIMCO Sông Đà là 95.000.000 đồng mới phù hợp với quy định của pháp luật[10].
Hai là, áp dụng sai biện pháp khắc phục hậu quả
Nghị định số 95 quy định,  VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là: buộc bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kiến thức cần thiết cho NLĐ hoặc hoàn trả khoản tiền đào tạo đã thu của NLĐ (nếu có); buộc đóng đủ tiền vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định; buộc hoàn trả đủ tiền cho NLĐ; buộc nộp số tiền ký quỹ theo đúng quy định; buộc đưa NLĐ về nước theo yêu cầu của nước tiếp nhận NLĐ hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; buộc về nước; cấm đi làm việc ở nước ngoài[11]. Tuy nhiên, thực tiễn xử phạt cho thấy, một số trường hợp người có thẩm quyền xử phạt đã “tùy tiện” áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả ngoài quy định của Nghị định số 95. Ví dụ, ngày 29/4/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 525/QĐ-XPVPHC để xử phạt VPHC đối với bà Hán Thị Tựa (sinh năm 1963, hộ khẩu tại xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) vì thực hiện hành vi “Lợi dụng hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để tổ chức tư vấn, tuyển chọn, đào tạo, thu tiền của NLĐ” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 34 Nghị định số 95[12]. Bên cạnh áp dụng hình thức phạt chính là phạt tiền, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang còn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Yêu cầu bà Hán Thị Tựa chấm dứt ngay mọi hoạt động lợi dụng việc đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài để thu tiền của NLĐ”. Đối chiếu với Nghị định số 95, đây không phải là biện pháp khắc phục hậu quả.
Để khắc phục sai sót không đáng có dẫn đến sai phạm trong việc áp dụng pháp luật như trường hợp nêu trên, trong quá trình xử phạt VPHC nói chung và xử phạt vi phạm trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ban hành quyết định xử phạt để bảo đảm tính hợp pháp của việc xử phạt bởi đây là hoạt động áp dụng pháp luật cụ thể nhằm thực thi quyền lực nhà nước. Việc áp dụng sai chế tài trong xử phạt VPHC vừa không đảm bảo sự tương thích giữa chế tài với tính chất, mức độ vi phạm; vừa có khả năng gây ra thiệt hại nhất định cho các đối tượng bị áp dụng. Không chỉ vậy, khi áp dụng sai chế tài người có thẩm quyền xử phạt còn phải đối mặt với việc bị khiếu nại, khởi kiện từ người vi phạm; từ đó kéo dài quá trình xử phạt, làm giảm hiệu quả của việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài.
4.Người có thẩm quyền “bỏ quên” việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả khi xử phạt VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012, “Xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC”. Do đó, khi xử phạt một VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đòi hỏi người có thẩm quyền phải áp dụng đầy đủ các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng cho vi phạm đó theo quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP). Việc áp dụng thiếu chế tài khi tiến hành xử phạt trong thực tế là không phù hợp với quy định của pháp luật, dẫn đến việc xử phạt không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm nên không bảo đảm được yêu cầu phòng ngừa, trừng trị, răn đe đối với VPHC. Trong thực tế, việc áp dụng thiếu chế tài khi xử phạt VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng còn diễn ra khá phổ biến.
Một là, áp dụng thiếu hình thức xử phạt bổ sung
Theo quy định tại điểm c khoản 4 và điểm a khoản 6 Điều 29 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP), doanh nghiệp dịch vụ sẽ bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng nếu “Chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ thực hiện vượt quá phạm vi nhiệm vụ được giao về hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”, đồng thời bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đó là “Đình chỉ hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 01 tháng đến 03 tháng”. Thế nhưng, khi xử phạt hành vi này trong thực tế, người có thẩm quyền đã áp dụng không đầy đủ các hình thức xử phạt theo quy định.
Ví dụ: Ngày 29/10/2018, Chánh Thanh tra Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 94/QĐ-XPVPHC để xử phạt VPHC đối với Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại và Dịch vụ Hà Nội (địa chỉ số 12, Ngõ 84, phố Ngọc Khánh, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội) do thực hiện 02 VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với tổng số tiền phạt là 330.000.000 đồng. Hành vi thứ nhất là “Chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ thực hiện vượt quá phạm vi nhiệm vụ được giao về hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” tại điểm c khoản 4 Điều 29 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP) với mức phạt tiền là 165.000.000 đồng. Hành vi thứ hai là “không thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài (trường hợp lao động Phạm Hữu Sơn được Công ty đưa đi làm việc tại Đài Loan ngày 16/4/2018 nhưng được Công ty khác cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức)” quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) với mức phạt tiền là 165.000.000 đồng[13].
Có thể thấy rằng, việc áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền đối với các vi phạm nêu trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối với hành vi “Chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ thực hiện vượt quá phạm vi nhiệm vụ được giao về hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài” thì Chánh Thanh tra Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội lại không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là “Đình chỉ hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 01 tháng đến 03 tháng” dẫn đến việc xử phạt không triệt để.
Hai là, áp dụng thiếu biện pháp khắc phục hậu quả
VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ngoài việc xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này, còn gây ra những hậu quả nhất định cho cá nhân, tổ chức có liên quan đến VPHC. Do đó, để khắc phục những hậu quả do các vi phạm này gây ra, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) bên cạnh quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm còn quy định thêm việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện nguyên tắc: “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật[14].
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy còn nhiều trường hợp người có thẩm quyền khi xử phạt hành vi vi phạm chỉ áp dụng các hình thức xử phạt mà lại “bỏ quên” việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, trong khi Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP) đã quy định rất cụ thể các biện pháp này.
Đơn cử: Ngày 18/01/2019, Chánh Thanh tra Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là ban hành Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC để xử phạt VPHC đối với Công ty Cổ phần Kết nối nhân lực Việt (địa chỉ Tầng 2 , ô 19-20, lô C2, Khu đô thị Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) vì đã thực hiện 04 VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài với tổng số tiền phạt là 120.000.000 đồng. Trong 04 hành vi bị xử phạt có hành vi “Nộp không đầy đủ số tiền đóng góp của NLĐ vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định” với mức phạt 30.000.000 đồng[15].
Theo quy định tại điểm đ khoản 1 và điểm a khoản 5 Điều 33 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP), tổ chức thực hiện hành vi nêu trên sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, đồng thời bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc đóng đủ tiền vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định”. Đáng tiếc rằng, trong vụ việc này, Chánh Thanh tra Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chỉ thực hiện việc phạt tiền mà không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “Buộc đóng đủ tiền vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định” trong khi biện pháp này đã được quy định rất cụ thể, do vậy hậu quả vi phạm gây ra đã không được khắc phục triệt để trên thực tế.
Do đó, để bảo đảm thực hiện các nguyên tắc xử phạt VPHC, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và đấu tranh với VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đòi hỏi người có thẩm quyền phải áp dụng đầy đủ các chế tài đã quy định tương ứng với từng vi phạm. Việc bỏ sót “chế tài” khi xử phạt sẽ làm cho việc xử phạt không đạt được mục đích Nhà nước và pháp luật đã đặt ra, làm giảm hiệu quả của việc xử phạt trong thực tế.
Thứ năm, người có thẩm quyền xử phạt đối với các vi phạm chưa được quy định trong Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP)
Theo quy định của Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước nhằm phát triển và mở rộng thị trường lao động ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn lao động, hỗ trợ giải quyết rủi ro cho NLĐ và doanh nghiệp. Quỹ này được hình thành trên 04 nguồn: đóng góp của doanh nghiệp; đóng góp của NLĐ; hỗ trợ của ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác[16]. Do vậy, việc đóng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước là nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ và NLĐ khi đi làm việc ở nước ngoài. Để bảo đảm thực hiện quy định này, Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP) quy định NLĐ, doanh nghiệp dịch vụ vi phạm quy định về thực hiện đóng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước sẽ bị xử phạt VPHC tại Điều 33 với 07 vi phạm cụ thể như sau: i) Không thu tiền đóng góp của NLĐ vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định; ii) Không cấp giấy chứng nhận tham gia Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước cho NLĐ theo quy định; iii) Không hướng dẫn và làm thủ tục cho NLĐ được hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước hoặc không chuyển tiền hỗ trợ cho NLĐ theo quy định; iv) Nộp không đầy đủ số tiền đóng góp của NLĐ vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định; v) Đóng không đầy đủ vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định; vi) Không nộp tiền đóng góp của NLĐ vào Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định; vii) Doanh nghiệp dịch vụ không đóng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định.
Như đã trình bày, cơ sở pháp lý của việc xử phạt đối với VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài đó là các quy định từ Điều 29 đến Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP), còn cơ sở thực tế của việc xử phạt đó là các hành vi vi phạm các quy định này do cá nhân, tổ chức thực hiện trên thực tế. Khi tiến hành xử phạt, người có thẩm quyền phải căn cứ vào quy định của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) để xác định có hay không VPHC để tiến hành xử phạt. Tuy nhiên, chúng tôi thấy có trường hợp người có thẩm quyền tiến hành xử phạt ngay cả khi vi phạm đó chưa được quy định trong Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP).
Ví dụ: Ngày 08/07/2019, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước ban hành Quyết định số 60/QĐ-XPVPHC đối với Công ty Cổ phần phát triển Liên Việt (VINADE) với tổng số tiền phạt là 47.500.000 đồng vì đã thực hiện 03 hành vi sau: i) Không báo cáo việc thay đổi lãnh đạo điều hành hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo quy định bị phạt 7.500.000 đồng; ii) Không cấp giấy chứng nhận tham gia Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước theo quy định bị phạt 30.000.000 đồng; iii) Không thực hiện lập và nộp về Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước các báo cáo hàng quý, năm với số tiền 10.000.000 đồng[17].
Đối chiếu với Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) có thể thấy rằng, việc xử phạt đối với vi phạm thứ nhất và thứ hai của Công ty Cổ phần phát triển Liên Việt (VINADE) là đúng quy định. Tuy nhiên, đối với hành vi thứ ba là “Không thực hiện lập và nộp về Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước các báo cáo hàng quý, năm” thì không phù hợp. Đối chiếu với 07 vi phạm liên quan đến thực hiện đóng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước nêu trên chúng tôi không thấy có vi phạm này. Do vậy, việc Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước xử phạt 10.000.000 đồng đối với hành vi này là không chính xác. Trong trường hợp này, Quyết định xử phạt số 60/QĐ-XPVPHC có thể sẽ phải hủy một phần do có sai sót về nội dung làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định[18].
Do vậy, bên cạnh việc tăng cường tính chủ động, sáng tạo cho các chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện xử phạt VPHC thì còn phải chú ý đến “cơ chế chịu trách nhiệm” của các chủ thể này trong quá trình thực hiện thẩm quyền của mình. Luật XLVPHC năm 2012 đã có quy định về cơ chế chịu trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền xử phạt như sau: “người có thẩm quyền xử lý VPHC mà sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác của người vi phạm, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng tính chất, mức độ vi phạm, không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm quy định khác tại Điều 12 của Luật này và quy định khác của pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”[19]. Do đó, cần áp dụng triệt để quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền trong việc xử phạt VPHC trên thực tế. Theo chúng tôi, có thể căn cứ vào kết quả xử phạt VPHC để xem đó là một tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ hàng năm của cán bộ, công chức. Điều này cũng là một giải pháp quan trọng góp phần giảm thiểu những hạn chế khi xử phạt VPHC trong lĩnh vực đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong thực tiễn[20]./.
 

 


[1] Điều 2 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP quy định doanh nghiệp được xem xét cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam.
[2] Điều 8 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.
[3] Trang tin điện tử của Tạp chí Lao động và công đoàn, “Phát hiện nhiều doanh nghiệp vi phạm trong hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động”, tại website https://cuocsongantoan.vn/phat-hien-nhieu-doanh-nghiep-vi-pham-trong-hoat-dong-dich-vu-xuat-khau-lao-dong-19348.html, truy cập ngày 25/11/2019.
[4] Nguyễn Cảnh Hợp (Chủ biên), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Tái bản lần thứ nhất), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, năm 2017, tr.77.
[5] Khoản 3 Điều 15 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.
[6] Điểm d khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012.
[7] Xem thông tin VPHC tại Trang thông tin điện tử Cục quản lý lao động ngoài nước, http://www.dolab.gov.vn/BU/NewsDetail.aspx?&LIST_ID=246&MENU_ID=246&DOC_ID=1561&Key=4721, truy cập ngày 20/10/2019.
[8] Điểm a khoản 1 Điều 32 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP).
[9] Điểm d khoản 2 Điều 31 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP).
[10] Theo khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC năm 2012: “Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi VPHC là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt”.
[11] Khoản 5 Điều 32, khoản 5 Điều 33, khoản 5 Điều 34, khoản 3 Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP).
[12] Xem thông tin Quyết định số 525/QĐ-XPVPHC trên Cổng thông tin điện tử Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang, tại https://www.bacgiang.gov.vn/images/20181/155/012/927/102/0/1550129271020.pdf, truy cập ngày 15/11/2019.
[13] Xem thông tin Quyết định số 94/QĐ-XPVPHC trên Cổng thông tin điện tử Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tại http://www.molisa.gov.vn/Upload/Upload/Molisa_old/Images/FileVanBan/94-Q%C4%90-XPVPHC-5-7.pdf, truy cập ngày 17/11/2019.
[14] Điểm a khoản 3 Luật XLVPHC năm 2012.
[15] Xem thông tin Quyết định số 10/QĐ-XPVPHC trên Cổng thông tin điện tử Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tại http://www.molisa.gov.vn/Upload/Upload/Molisa_old/Images/FileVanBan/10-Q%C4%90-XPVPHC.pdf, truy cập ngày 18/11/2019.
[16] Điều 66, Điều 67 Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.
[17] Xem thông tin VPHC tại Trang thông tin điện tử Cục quản lý lao động ngoài nước, http://www.dolab.gov.vn/BU/NewsDetail.aspx?&LIST_ID=246&MENU_ID=246&DOC_ID=1561&Key=4582, truy cập ngày 20/11/2019.
[18] Điểm a khoản 2 Điều 6b Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).
[19] Điều 16 Luật XLVPHC năm 2012.
[20] Nguyễn Nhật Khanh (2019), “Xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 01 (401), tháng 01/2020.)


Thống kê truy cập

33143097

Tổng truy cập