Thuế tài sản và những vấn đề liên quan đến việc xây dựng Luật Thuế tài sản

20/01/2020

TRẦN THỊ BÉ DUYÊN

Viện KSND tỉnh Sóc Trăng, Học viên lớp Cao học Luật, Trường Đại học Cần Thơ

Tóm tắt: Thuế thu trên tài sản ở nước ta được hình thành từ rất lâu với một số sắc thuế phổ biến như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một sắc thuế mang tên Thuế Tài sản nhằm điều chỉnh các loại tài sản có khả năng chịu thuế trên thực tế. Do vậy, việc nghiên cứu xây dựng pháp luật thuế tài sản là vấn đề rất cần thiết, giúp đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chống đầu cơ nhà đất và đảm bảo công bằng xã hội.
Từ khóa: thuế tài sản, nhà ở, đầu cơ nhà đất, công bằng xã hội, đất đai.
Abstract: Taxes on property in our country have been formed for a long time with a number of common taxes such as tax on agricultural land use, tax on non-agricultural land use. However, there has not been a tax namely Property Tax for the taxable properties. Therefore, the studies to develop a law on property tax is a crucial necessary matter, helping to ensure revenue for the state budget, to limit the housing speculation and to ensure social fairness.
 
Keywords: property tax, housing, land speculators, social fairness, lands.
 
1. Khái niệm thuế tài sản
Thời điểm hiện nay, nước ta chưa có luật về thuế tài sản điều chỉnh các loại tài sản có khả năng chịu thuế. Do đó, khái niệm thuế tài sản vẫn còn mang tính trừu tượng, chưa được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, khi nhắc đến “thuế tài sản”, vẫn có các quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Có quan điểm cho rằng, “thuế tài sản là tên gọi để chỉ tài sản làm đối tượng đánh thuế”[1]. Quan điểm khác cho rằng “thuế tài sản nhìn chung được hiểu là loại thuế đánh trên giá trị quyền sở hữu hoặc sử dụng các loại tài sản thuộc đối tượng chịu thuế”[2].THUE-TAI-SAN-1.jpg
Trong khi đó, trên thế giới, một số nghiên cứu về thuế nhìn nhận “thuế tài sản” chỉ là loại thuế hàng năm đánh vào giá trị tài sản ròng của cá nhân hay pháp nhân và là thuế đánh vào việc nắm giữ tài sản của cá nhân hay pháp nhân[3]. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa về thuế tài sản như sau: “Thuế đánh vào tài sản được định nghĩa là thuế định kỳ và không định kỳ đối với việc sử dụng, quyền sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản. Việc đánh thuế này bao gồm thuế đối với bất động sản hoặc tài sản ròng, thuế đối với việc thay đổi quyền sở hữu tài sản thông qua: thừa kế hoặc quà tặng và thuế đối với các giao dịch tài chính, vốn”[4]. Theo Từ điển tiếng Anh (Cambridge Dictionary), thuế tài sản (Property Tax) là một loại thuế thu đối với các tòa nhà và đất đai, được thu dựa trên cơ sở giá trị của nó[5]. Hay ở một cách nhìn khác, “Thuế tài sản là loại thuế được đánh trên quyền sở hữu của tài sản. Chỉ đơn thuần sở hữu tài sản là điều kiện quyết định cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ pháp lý đối với thuế tài sản”[6].  
Mặc dù có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về thuế tài sản, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, thuế tài sản có thể hiểu một cách khái quát là loại thuế thu trên tài sản của các cá nhân, tổ chức.
2. Đặc điểm của thuế tài sản
2.1 Thuế tài sản là loại thuế trực thu, mang tính không đối giá và không hoàn trả trực tiếp
Thuế tài sản là sắc thuế trực thu đánh vào các loại tài sản có khả năng chịu thuế của các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình. Những tài sản này được tạo ra từ thu nhập do quá trình tích lũy của người dân ở một thời điểm nhất định nên tài sản bao giờ cũng có tính bao quát, phạm vi rộng hơn bao gồm cả thu nhập; ngược lại, thu nhập chính là một phần của tài sản nên tài sản và thu nhập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, thuế đánh vào tài sản cũng chính là đánh vào một phần thu nhập của chủ thể, cho nên nó thuộc loại thuế trực thu. Ngoài ra, tính trực thu của thuế tài sản thể hiện ở sự đồng nhất với nhau về mặt chủ thể, người chịu thuế cũng vừa là người nộp thuế và trong trường hợp này không thể xảy ra khả năng chuyển giao gánh nặng nộp thuế sang cho một chủ thể khác.
Mặc khác, về bản chất kinh tế, thuế tài sản là một phần thu nhập của người nộp thuế đóng góp cho ngân sách nhà nước (NSNN) nên sẽ động viên tương đối dễ dàng khả năng nộp thuế thực tế của người chịu thuế. Ngoài ra, thuế tài sản mang tính không đối giá và không hoàn trả trực tiếp.
Tính không đối giá thể hiện trong quá trình thu nộp thuế, mỗi chủ thể sở hữu giá trị tài sản ngang nhau thực hiện nghĩa vụ nộp thuế như nhau mà việc nộp thuế này không phụ thuộc vào người nộp thuế đã nhận hoặc sẽ nhận lợi ích gì từ phía nhà nước.
Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trong quan hệ về thuế giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế. Khi người nộp thuế tài sản thực hiện nghĩa vụ đóng thuế vào NSNN thì điều này không đồng nghĩa và cũng không đặt ra yêu cầu Nhà nước nhất thiết phải bồi hoàn trực tiếp cho họ những lợi ích hoặc các sản phẩm tương xứng và ngang tầm giá trị so với số thuế đã nộp. Cũng như vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không được hoặc ít được hưởng những lợi ích trực tiếp từ Nhà nước[7]. Hay nói cách khác, người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải hoàn trả vật chất trực tiếp thì họ mới đóng thuế. Bởi lẽ, theo quy định pháp luật về thuế, nộp thuế là nghĩa vụ luật định mà các cá nhân, tổ chức phải nghiêm khắc tuân thủ và thực hiện. Nghĩa vụ này được đảm bảo thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước[8].
Mặc dù không được bồi hoàn trực tiếp bằng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể nhưng có thể nói, một phần số thuế phải nộp của người nộp thuế sẽ được hoàn trả gián tiếp cho họ và phục vụ chung cho toàn xã hội thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước như chương trình phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự và một số hình thức khác. Những giá trị phần dịch vụ này không mang tính hoàn nguyên tuyệt đối vì sự hoàn trả không có tính chất đối ứng mà những lợi ích họ được hưởng phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội, các mục tiêu mà Nhà nước đề ra cũng như tình hình tài chính của Nhà nước qua từng năm. Vì vậy, người nộp thuế không được tự nguyện và có quyền thỏa thuận về những lợi ích mà mình được thụ hưởng khi nộp thuế tài sản.
         2.2 Thuế tài sản là một khoản thu mang tính chất bắt buộc nộp vào NSNN
Tính bắt buộc là đặc tính vốn có đối với các loại thuế nói chung và thuế tài sản nói riêng, thể hiện ở việc người nộp thuế có nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện nhất định mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng[9]. Vì thế, hành vi này không đi kèm song song hay mang một nghĩa vụ đối ứng của cơ quan thuế đối với người nộp thuế, pháp luật không quy định rằng đối tượng nộp thuế có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp một quyền lợi nào khác hoặc hoàn trả những vật chất nhất định cho họ ngay tại thời điểm thu nộp thuế. Ngược lại, cơ quan thu thuế cũng không phải thực hiện nghĩa vụ này, mà trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, cơ quan thuế có trách nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ và áp dụng đúng quy định pháp luật về thuế cùng với pháp luật có liên quan, thu đúng và đủ số thuế phải nộp. Họ không được phép lựa chọn thu hoặc không thu số tiền mà người dân nộp vào NSNN, đặc biệt không có sự phân biệt đối xử giữa các đối tượng nộp thuế.
         2.3 Thuế tài sản gắn liền với yếu tố quyền lực
Nhà nước và thuế là hai phạm trù luôn luôn gắn liền và tồn tại song hành cùng nhau. Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với Nhà nước - một sản phẩm tất yếu của sự phân công lao động xã hội[10]. Đối với các sắc thuế nói chung, thuế tài sản nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với Nhà nước và có sự hỗ trợ lẫn nhau. Thuế tài sản ra đời sẽ cung cấp các nguồn vốn, tiềm lực tài chính giúp Nhà nước thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, ngược lại, Nhà nước - bằng quyền lực của mình, đảm bảo cho luật thuế tài sản thực thi có hiệu quả.
         2.4 Thuế tài sản mang tính chất là loại thuế hỗ trợ cho thuế đánh trên thu nhập
Trong hệ thống thuế của một quốc gia, thuế tài sản tồn tại bên cạnh thuế thu nhập, thuế tiêu dùng nhằm bao quát được các khả năng nộp thuế trong nền kinh tế[11]. Việt Nam cũng không ngoại lệ, thuế tài sản khi được xây dựng và ban hành sẽ là một trong ba bộ phận cấu thành nên hệ thống thuế. Bên cạnh các đặc điểm mà chúng tôi đã nêu, thuế tài sản còn mang tính chất là loại thuế hỗ trợ cho thuế đánh trên thu nhập.
Đặc điểm này có thể được minh chứng qua thực tế hiện nay khi kinh tế Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể so với thời kỳ đầu hình thành hệ thống thuế thống nhất, nguồn lực tài sản trong dân cư ngày càng gia tăng, đồng thời, chênh lệch về giá trị tài sản sở hữu giữa các chủ thể trong xã hội ngày càng lớn[12]. Mặc khác, nguồn lực tài chính và thu nhập của dân cư, đặc biệt là thu nhập từ vốn không dễ dàng nhìn thấy được, thu nhập của họ không chỉ được tạo lập từ một nguồn duy nhất, mà sẽ hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả một số trường hợp có thu nhập hợp pháp và không hợp pháp. Do đó, cơ quan quản lý thuế không thể kiểm soát được hết các nguồn thu của họ dẫn đến dễ xảy ra tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế. Đồng thời, một số bộ phận dân cư có những nguồn thu nhập ngầm, không phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân và họ dùng nguồn tài chính này để mua sắm tài sản cất giữ mà phổ biến là các loại bất động sản có giá trị. Vấn đề này đã đặt ra không ít khó khăn, thách thức cho cơ quan thu thuế, vừa không thể kiểm soát hết các khoản thu nhập của người nộp thuế, vừa mất đi một khoản thu cho NSNN khi hiện nay pháp luật thuế nước ta chưa có cơ chế điều chỉnh đối với những hành vi này.
Chính vì vậy, Luật Thuế tài sản ra đời sẽ bổ sung một số tài sản thuộc diện chịu thuế mà không phải là đất đai nhằm đảm bảo bao quát được các khả năng đóng góp của người nộp thuế một cách đầy đủ nhất, đảm bảo những chủ thể sở hữu tài sản được tạo lập từ một số nguồn thu nhập ngầm hoặc thu nhập không hợp pháp vẫn phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.
3. Vai trò thuế tài sản
3.1 Thuế tài sản đóng vai trò là nguồn thu lớn và tương đối bền vững cho NSNN
Theo kinh nghiệm quốc tế, thuế tài sản là một bộ phận cấu thành chủ yếu trong hệ thống thuế của một quốc gia, luôn tồn tại song hành cùng với thuế thu nhập và thuế tiêu dùng nhằm bao quát được các khả năng nộp thuế trong nền kinh tế và góp phần huy động nguồn tài chính cho NSNN. Khi đó, NSNN sẽ cung cấp các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước đó vận hành và thực hiện các chức năng xã hội, kinh tế, an ninh quốc phòng của quốc gia đó[13]. Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước phát triển và đang phát triển, thuế tài sản là một trong các sắc thuế không thể thiếu, thể hiện vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách của các quốc gia. Điển hình là ở các nước phát triển, nguồn thu này chiếm tỷ lệ trung bình 3 - 4% so với tổng thu thuế, một số nước tỷ lệ này lên đến 8% như Nhật Bản và xét trong giai đoạn 2005 - 2013, tỷ lệ thu thuế tài sản so với GDP ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển ở khu vực Châu Á là khoảng 2% GDP[14].
Ở Việt Nam, thời gian vừa qua, thuế thu trong quá trình sử dụng tài sản (thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế sử dụng đất nông nghiệp) chỉ chiếm khoảng 0,036% GDP và mới chỉ điều tiết đối với đất[15]. Cũng vì vậy, nước ta mất đi nguồn thu lớn từ việc thu thuế đối với nhà ở và đây là một trong những lý do dẫn đến thu thuế liên quan đến tài sản hiện tại của nước ta chiếm tỷ lệ thấp hơn so với các quốc gia khác.
3.2 Thuế tài sản góp phần chống đầu
Khi điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, các tầng lớp dân cư có khả năng tích lũy lớn lượng tài sản nhất là nhà ở không ngừng gia tăng. Họ sở hữu với số lượng nhiều căn hộ nhưng lại không có nhu cầu sử dụng và ở một diễn biến khác theo chiều ngược lại, người cần sử dụng thì không thể mua nhà trực tiếp, làm giảm cơ hội tiếp cận tài sản của họ vì giá nhà đất tăng cao gấp nhiều lần so với giá trị thực tế. Từ đó xảy ra tình trạng bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nhà ở, một quyền rất cơ bản của con người. Hay nói cách khác, khi tài sản không được đưa vào sử dụng tạo ra lợi nhuận mà chỉ sử dụng để nhằm duy trì sự tồn tại của nó, có nghĩa là không làm tăng thêm giá trị[16]. Bởi vậy, chống đầu cơ bất động sản là một trong các vai trò quan trọng, là vấn đề cấp bách và có thể sử dụng công cụ thuế tài sản đánh trên đối tượng chịu thuế là bất động sản như công cụ chống lại thực trạng trên.
3.3 Thuế tài sản góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Đây vừa là vai trò cũng đồng thời là mục tiêu của pháp luật thuế tài sản nhằm đảm bảo công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Động viên về thuế để không tạo ra sự bất hợp lý giữa người có nhiều tài sản và người có ít tài sản[17]. Công bằng ở đây không có nghĩa là mọi người sở hữu tài sản phải nộp số thuế giống nhau. Tùy vào từng loại tài sản có thể chịu thuế và số lượng, giá trị tài sản của mỗi chủ sở hữu mà số thuế phải nộp cho NSNN là khác nhau.
Xét về mặt kinh tế học, công bằng xã hội được thể hiện qua hai khía cạnh: công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc. Trong xã hội hiện nay có không ít cá nhân sở hữu nhiều tài sản có giá trị ngang nhau và đạt được một số lợi ích nhất định từ sự an toàn đối với tài sản. Do vậy, công bằng theo chiều ngang đòi hỏi các chủ thể có điều kiện, hoàn cảnh như nhau thì sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế tài sản cho NSNN giống nhau. Ngược lại hệ thống thuế công bằng theo chiều dọc được hiểu là các chủ thể có điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì thực hiện nghĩa vụ thuế khác nhau, người có điều kiện hơn sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế cao hơn người có điều kiện kém thuận lợi hơn[18]. Đây là điều hợp lý, công bằng, phù hợp với khả năng đóng góp cụ thể của từng người. Mặt khác, những đối tượng được ưu đãi, miễn giảm thuế khi có đầy đủ điều kiện thì họ cũng được hưởng sự đối xử ưu đãi tương ứng.
Vai trò thực thi công bằng xã hội được thể hiện khá nõ nét trong từng loại thuế. Tính công bằng xã hội trong pháp luật thuế tài sản được hiểu là những định hướng cho việc xác định nội dung, yêu cầu trong các quy định pháp luật về thu thuế đối với tài sản nhằm đảm bảo việc thu nộp thuế là hợp lý dựa trên khả năng chi trả của người nộp thuế và cần xem xét, cân nhắc, tính toán đến các yếu tố hoàn cảnh, điều kiện của người nộp thuế.
3.4 Thuế tài sản là công cụ quan trọng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Ngày nay, các sắc thuế nói chung và thuế tài sản nói riêng không chỉ có vai trò là nguồn thu quan trọng cho NSNN mà còn góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau trong đó thuế được xem là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất. Nhà nước sử dụng các sắc thuế như một bàn tay vô hình để quản lý điều tiết vĩ mô kinh tế và thông qua hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước thể hiện ý chí của mình, điều hành mọi hoạt động kinh tế xã hội một cách gián tiếp góp phần thực hiện công bằng xã hội. Cụ thể hơn, với tài sản, Nhà nước có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp vào các hành vi sở hữu, sử dụng tài sản, quyết định đầu tư của các tổ chức cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của Nhà nước mà không cần sử dụng các biện pháp mệnh lệnh hành chính. Chẳng hạn, việc quy định các đối tượng chịu thuế hay không chịu thuế, mức thuế suất khác nhau đối với từng loại tài sản đều sẽ ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận tài sản của một số tầng lớp dân cư trong xã hội, quá trình phân phối của cải và nhu cầu thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh. Qua đó có thể làm thay đổi luồng chu chuyển vốn từ một số người giàu có sang cho người nghèo, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để phục vụ cho các vấn đề an sinh xã hội, an ninh trật tự và dịch vụ chung cho cộng đồng. Vì vậy, có thể thấy trên thực tế, giữa thu thuế nói chung và thuế tài sản nói riêng với quản lý nền kinh tế xã hội luôn song hành cùng nhau, sẽ không thể thu được thuế tài sản nếu chưa thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước và ngược lại.
4. Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật về thuế tài sản Việt Nam
Thứ nhất, nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách tài chính đối với tài sản và thực hiện tái cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước[19].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã nêu: “Nghiên cứu ban hành thuế bất động sản (đối tượng chịu thuế phải bao gồm cả đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất)”.
Tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững đã đề ra một trong những giải pháp thực hiện là: “Tập trung cơ cấu lại nguồn thu, phù hợp với thông lệ quốc tế;… khai thác tốt thuế thu từ tài sản, tài nguyên, bảo vệ môi trường”.
Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 09/22/2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 đề ra một trong các giải pháp là: “Nghiên cứu bổ sung thuế tài sản phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam”.
Các nghị quyết trên cho thấy vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các chính sách thuế của nước ta trong giai đoạn phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hiện đại. Đảng lãnh đạo thông qua việc đề ra những chủ trương, đường lối chính sách và hoạt động của Đảng phải dựa trên khuôn khổ pháp luật, vậy nên để những chủ trương này đi vào thực tiễn thì với vai trò quản lý của mình, Nhà nước sẽ cụ thể hóa bằng những biện pháp cụ thể trong đó có việc thực hiện ban hành các chính sách pháp luật.
Thứ hai, góp phần xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế
Thuế tài sản là khái niệm ra đời rất sớm và phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, đến thời điểm hiện tại tuy chưa có sắc thuế nào mang tên thuế tài sản nhưng trên thực tế, dựa vào cơ sở lý luận về thuế tài sản ở một số quốc gia thì nước ta có một số loại thuế mang tính chất là thuế tài sản điển hình như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp. Tuy nhiên, nguồn thu thuế hằng năm từ hai loại thuế này chỉ chiếm khoảng 0, 036% GDP. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải ban hành Luật Thuế tài sản chung thống nhất, điều chỉnh các đối tượng chịu thuế và bổ sung đối tượng là nhà ở nhằm bao quát được nguồn thu cho NSNN, góp phần xây dựng hệ thống thuế đồng bộ.
Bên cạnh đó, việc xây dựng Luật Thuế tài sản không chỉ đáp ứng yêu cầu, thực tiễn trong nước mà còn đảm bảo được sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Bởi lẽ, trên thế giới hiện nay, hầu hết các quốc gia đều thực hiện thu thuế đối với tài sản mà đối tượng đánh thuế chủ yếu là nhà và đất.
Thứ ba, việc xây dựng các chính sách thuế tài sản nhằm đảm bảo nguồn thu cho NSNN.
Thuế tài sản khi được xây dựng cần phải hết sức thận trọng trong việc nghiên cứu bổ sung thu thuế với nhà ở và các tài sản khác sao cho phù hợp. Bởi vì hiện nay, người dân sở hữu nhà ở của nước ta chưa phải chịu thuế tài sản, gây nên sự thất thoát nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, đây là một loại thuế mang tính ổn định, dễ thu và dễ kiểm tra, giám sát hơn so với các sắc thuế khác nên có khả năng mang lại nguồn thu lớn và ổn định cho ngân sách. Mặt khác, khi Việt Nam gia nhập vào các hiệp định thương mại tự do, thực hiện những cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nên nguồn thu cho ngân sách cũng sẽ bị ảnh hưởng, nguồn thu từ thuế nhập khẩu của nước ta sẽ giảm nhiều. Vậy nên, các sắc thuế nội địa, trong đó có các sắc thuế liên quan đến tài sản cần được cải cách để bù đắp khoản thu bị giảm sút, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng, bảo đảm mối quan hệ hữu cơ trong hệ thống chính sách thuế mới[20]./.
 

 


[1] Quách Đức Pháp và Dương Thị Ninh (2003), Thuế tài sản – Kinh nghiệm thế giới và hướng vận dụng tại Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 29.
[2] Hoàng Văn Bằng, Cải cách thuế tài sản: Những vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số 6/2009, tr. 38.
[3] Phan Huy Hồng, Thuế tài sản: Quan niệm và xu hướng áp dụng, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 14/2018, tr. 24.
[4] OECD Data, Tax on Property: “Tax on property is defined as recurrent and non-recurrent taxes on the use, ownership or transfer of property. These include taxes on immovable property or net wealth, taxes on the change of ownership of property through inheritance or gift and taxes on financial and capital transactions”., https://data.oecd.org/tax/tax-on-property.htm, [truy cập ngày 18/01/2019].
[5] Theo Từ điển Cambridge Dictionary, “Property Tax is a tax on building and land that is based its value”.
[6] The Property Tax [article] Tax Executive, Vol. 33, Issue 1 (October 1980), pp. 55-74 33 Tax Executive 55 (1980-1981), “Property taxes are those taxes imposed on the ownership of property. Merely owning the property is the prerequisite for taxpayer to be liable for property taxes”, https://heinonline.org/HOL/Page?public=true&handle=hein.journals/taxexe33&div=12&start_page=55&collection=journals&set_as_cursor=4&men_tab=srchresults , [truy cập ngày 19/01/2019].
[7] Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Văn Hiệu (2007), Giáo trình thuế, Nxb. Tài chính, Hà Nội, tr. 7.
[8] Nguyễn Thị Thủy, Giáo trình Luật Thuế (tái bản có bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.21.
[9] Phạm Thị Giang Thu (2014), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.11.
[10] Quách Đức Pháp (1999), Thuế công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, tr.5.
[11]Nguyễn Chiến, Cơ sở thuế tài sản và những khoảng trống pháp lý cần lắp đầy, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/co-so-thue-tai-san-va-nhung-khoang-trong-phap-ly-can-lap-day-138098.html, [truy cập ngày 11/02/2019].
[12] Nguyễn Đình Chiến, Thuế tài sản và những khoảng trống cần lấp đầy, tlđd.
[13] Nguyễn Thị Thủy, Giáo trình Luật Thuế (tái bản có bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 23.
[14] Bạch Dương, Bộ Tài chính đề xuất đánh thuế tài sản với nhà trên 700 triệu, ôtô giá trên 1,5 tỷ, http://vneconomy.vn/bo-tai-chinh-de-xuat-danh-thue-tai-san-voi-nha-tren-700-trieu-oto-gia-tren-15-ty-20180413172632669.htm, truy cập 18/01/2019.
[15] Nguyễn Thị Thu Trung, Thuế tài sản: Cần thiết, nhưng phải phù hợp và đúng đối tượng, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/thue-tai-san-can-thiet-nhung-phai-phu-hop-va-dung-doi-tuong-138229.html, truy cập ngày 18/01/2019.
[16] Nguyễn Thị Lan Hương, Hoàn thiện pháp luật thuế tài sản ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4/2009, tr. 41.
[17] Nguyễn Thị Lan Hương, tlđd.
[18] Phan Phương Nam, Vận dụng nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế tài sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 15/2018, tr. 37.
[19] Bộ Tài chính, Tờ trình về đề nghị xây dựng dự án Luật Thuế tài sản ngày 17/04/2018.
[20] Huỳnh Huy Quế, Thuế tài sản ở Việt Nam nên xây dựng theo hướng nào, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 40/2006, tr7.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 19 (395), tháng 10/2019.)


Ý kiến bạn đọc