Bàn về Dự thảo Luật Chứng khoán (sửa đổi)

24/10/2019

ThS. Trần Linh Huân

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Luật Chứng khoán hiện hành được ban hành năm 2006 và đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010 nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, Luật này hiện đã bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập. Bài viết bàn về dự thảo Luật Chứng khoán (sửa đổi), từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện dự thảo Luật này.
Từ khóa: Dự thảo Luật chứng khoán, thị trường chứng khoán, cổ phiếu.
 
1. Về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Điều 9 dự thảo Luật Chứng khoán (Dự thảo Luật) đưa ra hai phương án về Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Theo phương án thứ nhất thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) là cơ quan thuộc Bộ Tài chính thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán, thị trường chứng khoán (TTCK), tổ chức thực thi pháp luật về chứng khoán và TTCK theo phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính[1]. Theo phương án thứ hai thì UBCKNN là cơ quan độc lập, trực thuộc Chính phủ[2].
Theo quan điểm của tác giả, việc lựa chọn phương án UBCKNN độc lập, trực thuộc Chính phủ là cần thiết. Bởi vì, vị trí độc lập sẽ giúp UBCKNN chủ động quyết định nhiều vấn đề trong tổ chức và hoạt động cũng như huy động và thúc đẩy các nguồn lực xã hội; giảm khâu trung gian chỉ đạo về nhân sự, về ban hành các văn bản hướng dẫn trong vận hành TTCK; xử lý kịp thời những bất ổn phát sinh, bảo đảm TTCK phát triển lành mạnh, năng động; phát huy tính hiệu quả trong quản lý, giám sát toàn diện đối với TTCK[3]. Bên cạnh đó, quy định UBCKNN độc lập, trực thuộc Chính phủ sẽ tăng cường trách nhiệm quản lý của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, giúp cho việc quản lý được thống nhất từ ban hành quy chế, cấp và thu hồi giấy phép, cho đến bổ nhiệm nhân sự, chủ động ngân sách và nguồn lực được hiệu quả.luat-chung-khoan-sua--doi.jpg
2. Về điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng
- Đối với công ty cổ phần: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Dự thảo Luật thì một trong những điều kiện để công ty cổ phần chào bán chứng khoán ra công chúng là mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán phải từ 30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Việc nâng điều kiện về vốn điều lệ lên 30 tỷ đồng nhằm nâng cao chất lượng, sự ổn định của công ty đại chúng. Đồng thời, điều này cũng tương thích với điều kiện niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội để gắn chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng với niêm yết chứng khoán[4] và phù hợp với thông lệ quốc tế, quy mô TTCK.  Tuy nhiên, việc quy định nâng mức vốn điều lệ lên 30 tỷ khi thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong tiếp cận vốn và thị trường (hiện nay ở Việt Nam có khoảng 98% các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ[5]).
Xuất phát từ lý do trên, theo tác giả, cần điều chỉnh quy định này trong Dự thảo Luật theo hướng quy định nâng vốn điều lệ lên ở mức 20 tỷ đồng. Việc hạ mức vốn điều lệ từ 30 tỷ như trong Dự thảo Luật xuống còn 20 tỷ đồng là hợp lý và phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện để các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn thông qua hoạt động chào bán chứng khoán và đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng, uy tín, hiệu quả của doanh nghiệp cũng như sự ổn định của công ty đại chúng trước các biến động của thị trường nhằm đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư.
 – Đối với công ty đại chúng: Điểm a khoản 2 Điều 14 Dự thảo Luật quy định một trong những điều kiện bắt buộc công ty đại chúng phải đáp ứng được khi tiến hành chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng là “có công ty chứng khoán (CTCK) tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, trừ trường hợp tổ chức phát hành là CTCK”. Theo quy định này thì các công ty muốn chào bán thêm cổ phiếu ra thị trường bắt buộc phải có các công ty tư vấn là CTCK. Việc bắt buộc các công ty muốn chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng phải thuê CTCK tư vấn sẽ phát sinh thêm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các công ty đại chúng đã thực hiện phát hành chào bán cổ phiếu ra công chúng nhiều lần. Do đó, Dự thảo Luật nên sửa đổi theo hướng: việc bắt buộc phải có CTCK tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng chỉ áp dụng cho những công ty đại chúng mới thực hiện và chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc phát hành, chào bán cổ phiếu ra công chúng. Pháp luật nên tạo không gian để các công ty đại chúng đã có kinh nghiệm chào bán chứng khoán có thể tự mình lựa chọn thuê hoặc không thuê CTCK tư vấn để góp phần hạn chế được những thủ tục và chi phí phát sinh không cần thiết khi thực hiện hoạt động chào bán thêm cổ phiếu ra thị trường.
3. Về Công ty chứng khoán
Theo quy định của Dự thảo Luật, các doanh nghiệp sau khi được UBCKNN cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ phải tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi đăng ký trụ sở chính dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp[6]. Việc quy định CTCK phải thực hiện thủ tục để được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán trước, sau đó mới đăng ký doanh nghiệp dễ dẫn đến áp dụng pháp luật chồng chéo và vướng mắc giữa Luật Chứng khoán với Luật Doanh nghiệp và Nghị định hướng dẫn. Mặt khác, điều này còn làm phức tạp thêm về thủ tục hành chính trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, CTCK vừa hoạt động môi giới chứng khoán vừa bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán[7] dễ dẫn đến xảy ra xung đột lợi ích giữa các hoạt động môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán, đồng thời không bảo đảm tính khách quan và lợi ích của nhà đầu tư.
Để khắc phục tình trạng xung đột lợi ích giữa các hoạt động môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh chứng khoán đồng thời bảo đảm tính khách quan và bảo vệ được lợi ích của nhà đầu tư, cần tách CTCK thành hai loại hình công ty hoạt động độc lập với nhau, gồm: công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán và công ty kinh doanh chứng khoán. Tương ứng với mỗi loại hình công ty sẽ có những hoạt động nghiệp vụ chứng khoán chuyên biệt khác nhau để tránh xảy ra sự xung đột về lợi ích. Đồng thời, không cho phép CTCK hoạt động cho vay và thực hiện các dịch vụ tài chính như ngân hàng. Mặt khác, để đảm bảo thuận tiện, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp của CTCK sau khi được cấp giấy phép thành lập thì Dự thảo Luật nên sửa đổi theo hướng quy định CTCK khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp chỉ cần gửi giấy phép đăng ký kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp kèm theo một công văn thông báo đến cơ quan đăng ký doanh nghiệp để cơ quan đăng ký doanh nghiệp cập nhật thông tin lên Cổng thông tin quốc gia.
4. Về quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán
Hiện nay, mặc dù đã có quy định về Quỹ hỗ trợ thanh toán và Quỹ bù trừ với mục tiêu đảm bảo khả năng thanh toán nhưng việc áp dụng quy định này vẫn còn nhiều điểm chưa khả thi và  hiệu quả. Điều này làm cho các nhà đầu tư phải chịu khá nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư, nhất là khi phát sinh tình huống xung đột lợi ích với CTCK. Để tạo niềm tin cho nhà đầu tư, đồng thời tạo thuận lợi cho các CTCK phục vụ khách hàng tốt hơn, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế, trong đó, ưu tiên sớm có các quy định hướng dẫn các CTCK trích lập Quỹ bảo vệ nhà đầu tư. Đây cũng là mong muốn của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư vào TTCKViệt Nam từ nhiều năm nay. Trong dự thảo Luật lần thứ nhất, các nhà làm luật đã đưa ra một quy định về Quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán tại Điều 91. Theo đó, “Quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán hình thành từ sự đóng góp của các CTCK là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán để hoàn trả một phần cho nhà đầu tư trong trường hợp CTCK mất khả năng hoàn trả tài sản của nhà đầu tư đã nhận quản lý hoặc phá sản. Quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán do Sở giao dịch chứng khoán quản lý và phải được tách bạch với tài sản của Sở giao dịch chứng khoán. Hình thức đóng góp, mức đóng góp, phương thức hoàn trả, phương thức quản lý quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính”. Tuy nhiên, ở những lần dự thảo tiếp theo đến nay thì quy định này đã bị bỏ đi với nhiều lý do khác nhau. Việc bỏ đi quy định về Quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán là một điều đáng tiếc bởi đây là cơ sở pháp lý đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro có thể xảy ra cũng như tạo được động lực thu hút họ tích cực tham gia đầu tư vào TTCK Việt Nam khi quyền lợi được đảm bảo.
Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, quy định về Quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán cần được tiếp tục nghiên cứu và ghi nhận trên cơ sở hoàn thiện hơn để đảm bảo tính khả thi trong quá trình áp dụng. Các vấn đề cần phải xem xét hướng dẫn cụ thể bao gồm: Các trường hợp được xem là CTCK bị mất khả năng hoàn trả tài sản cho các nhà đầu tư, vai trò đóng góp của các chủ thể có ảnh hưởng, nghĩa vụ của CTCK khi hoàn trả, hướng xử lý khi không tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến việc thành lập, vận hành, sử dụng Quỹ bảo vệ nhà đầu tư để đảm bảo tính khả thi của quỹ khi áp dụng vào thực tế… Khi ghi nhận quy định về Qũy bảo vệ nhà đầu tư trong Luật chứng khoán với sự hướng dẫn cụ thể, rõ ràng sẽ không chỉ góp phần quan trọng vào việc bảo vệ hiệu quả quyền lợi cho nhà đầu tư chứng khoán, tạo cơ sở pháp lý để các CTCK có thể căn cứ vào đó thực hiện các phương án hỗ trợ nhà đầu tư khi có rủi ro xảy ra mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế và góp phần thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn với sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư.
5. Công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình
Theo quy định tại Điều 35 Dự thảo Luật, để mua lại cổ phiếu của chính mình, công ty đại chúng phải đáp ứng một số điều kiện như: “Có nghị quyết đại hội đồng cổ đông về việc mua lại cổ phiếu để giảm vốn điều lệ, phương án mua lại, trong đó nêu rõ số lượng, thời gian thực hiện, nguyên tắc xác định giá mua lại”[8].
Có thể hiểu rằng, theo tinh thần của Dự thảo Luật, doanh nghiệp sẽ chỉ được mua lại cổ phiếu của chính mình để giảm vốn điều lệ, mà không được thực hiện các nghiệp vụ mua lại với mục đích để bán cho một nhà đầu tư tiềm năng, bình ổn giá hoặc các mục đích khác (như sử dụng để làm cổ phiếu thưởng cho cán bộ, nhân viên…). Đồng thời, khi công ty đại chúng thực hiện mua lại cổ phiếu của chính mình để giảm vốn điều lệ hoặc mua lại cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông thì phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá các cổ phiếu được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phiếu[9]. Việc quy định yêu cầu công ty đại chúng khi mua lại cổ phiếu của chính mình phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ sẽ giảm tính tự chủ, linh hoạt của các công ty đại chúng, gây phiền toái cho doanh nghiệp.
Do đó, Dự thảo Luật nên được sửa đổi theo hướng cho phép các doanh nghiệp được thực hiện việc mua lại cổ phiếu của chính mình để dùng vào mục đích làm cổ phiếu thưởng hoặc để bán cho đối tác chiến lược. Mặc khác, nhằm tránh những thủ tục phức tạp, Dự thảo Luật nên đưa ra các trường hợp cụ thể buộc công ty đại chúng phải thực hiện thủ tục giảm vốn điều lệ.
6. Về Ngân hàng thanh toán
Khoản 1 Điều 70 Dự thảo Luật quy định: “Ngân hàng thanh toán là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc Ngân hàng thương mại thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán”. Việc quy định Ngân hàng thương mại tham gia vào việc cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán là chưa đảm bảo an toàn và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài khi lựa chọn đầu tư tại TTCK Việt Nam. Mặc dù các ngân hàng thương mại muốn được cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán thì phải đáp ứng đủ điều kiện[10], tuy nhiên không ngoại trừ khả năng xảy ra trường hợp các Ngân hàng thương mại lâm vào tình trạng khó khăn hoặc phá sản và không có khả năng thanh toán. Hơn nữa, việc cho phép các Ngân hàng thương mại tham gia vào việc cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán là chưa phù hợp, thống nhất, đồng bộ với thông lệ quốc tế và bộ các nguyên tắc hoạt động của Cơ sở thị trường tài chính (CPSS-IOSCO)[11].
Do đó, cần điều chỉnh quy định tại khoản 1 Điều 70 của Dự thảo Luật theo hướng sau: “Ngân hàng thanh toán là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán”. Quy định như vậy sẽ vừa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư vừa đảm bảo tính thống nhất với các thông lệ quốc và bộ các nguyên tắc hoạt động của Cơ sở thị trường tài chính (CPSS-IOSCO). Việc loại bỏ đi vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tham gia cung cấp dịch vụ thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán và tập trung chức năng thanh toán này về cho Ngân hàng nhà nước Việt Nam với vai trò là Ngân hàng trung ương sẽ đảm bảo tính thống nhất một đầu mối, giảm thiểu rủi ro, tạo niềm tin cho nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, theo Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành, Ngân hàng Nhà nước mới chỉ cung ứng dịch vụ thanh toán cho các ngân hàng (không có các đối tượng khác như CTCK, tổ chức, cá nhân khác). Do vậy, Chính phủ cần phải xem xét xây dựng lộ trình đối với việc chuyển giao các chức năng thanh toán chứng khoán từ Ngân hàng thương mại tập trung về Ngân hàng Nhà nước và xem xét nội dung này khi đề xuất sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới[12].
7. Về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán
Điều 133 Dự thảo Luật quy định:
“ … 3. Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi giao dịch nội bộ và thao túng TTCK quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 11 của Luật này là 10 lần khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 4 Điều này. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp tính khoản thu trái pháp luật có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán.
4. Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực chứng khoán là 3.000.000.000 đồng.
5. Mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này được áp dụng đối với tổ chức; cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền tối đa bằng một phần hai mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức…”
Với mức xử phạt như trên là chưa đủ sức ngăn ngừa, răn đe hành vi vi phạm và biến động trượt giá theo tỷ lệ lạm phát bình quân trong tương lai. Hiện nay, tính chất, mức độ vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán nói riêng và lĩnh vực tài chính nói chung ngày càng phức tạp và tinh vi, có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của TTCK, đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích của nhà đầu tư. Khi mức xử phạt còn thấp thường dẫn đến hệ quả là các chủ thể sẵn sàng thực hiện các hành vi vi phạm bởi những khoản lợi bất chính thu lại được từ những hành vi vi phạm.
Theo tác giả, nên sửa lại khoản 3, 4, 5 Điều 133 Dự thảo Luật theo hướng quy định mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi giao dịch nội bộ và thao túng TTCK là 20 lần khoản thu trái pháp luật có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu trái pháp luật hoặc mức phạt tính theo khoản thu trái pháp luật thấp hơn mức phạt tiền tối đa thì áp dụng mức phạt tiền tối đa là 10 tỷ đối với tổ chức và 05 tỷ đối với cá nhân. Còn đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực chứng khoán thì mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính là 10.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 5.000.000.000 đồng đối với cá nhân. Về hình thức xử phạt bổ sung, cần quy định tăng cường các hình thức xử phạt bổ sung mà thị trường quốc tế, trong đó, có các thị trường lân cận Việt Nam đã áp dụng hiệu quả, có tác dụng tốt trong xử lý và phòng ngừa vi phạm, như: Treo giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp công bố thông tin gian dối, ban lãnh đạo công ty giao dịch nội gián; nhà đầu tư thao túng cổ phiếu bị cấm giao dịch trong một thời gian nhất định; rút giấy phép hành nghề của các chức danh nghề nghiệp trên TTCK khi bị kết luận là có hành vi thao túng giá chứng khoán, giao dịch nội gián, công bố thông tin sai sự thật, tịch thu các khoản thu lợi bất chính…[13]
 Bên cạnh đó, cần tăng cường thẩm quyển xử phạt vi phạm hành chính của UBCKNN trong lĩnh vực chứng khoán. UBCKNN cần được trao thêm thẩm quyền như: Được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra cung cấp thông tin, tài liệu, đó hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân giải trình, đối chất liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra; yêu cầu tổ chức tín dụng cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch trên tài khoản của khách hàng đối với các trường hợp có dấu hiệu nghi vấn sau khi được Chủ tịch UBCKNN phê duyệt; yêu cầu doanh nghiệp viễn thông cung cấp tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, thời gian gọi để xác minh, xử lý các hành vi bị cấm theo quy định./.
 
 

 


[1] Khoản 1 Điều 9 Dự thảo Luật.
[2] Xem thêm Điều 9 Dự thảo Luật.
[3] Báo cáo số 3002/BC-TTKQH của Tổng thư ký Quốc hội về tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi), tr.7.
[4] Báo cáo số 1516/BC-UBKT14 của Ủy ban kinh tế về một số vấn đề lớn về Dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi), tr1-2.
[5] Báo cáo số 3002/BC-TTKQH của Tổng thư ký Quốc hội về tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi), tr.4.
[6] Xem thêm Điều 71, Điều 72 Dự thảo Luật.
[7]Xem thêm Điều 73 Dự thảo Luật.
[8] Xem thêm khoản 1 Điều 35 Dự thảo Luật.
[9] Xem thêm khoản 5 Điều 35 Dự thảo Luật.
[10] Xem thêm Khoản 2 Điều 70 Dự thảo Luật.
[11] Nguyên tắc số 9 trong Bộ nguyên tắc hoạt động của Cơ sở thị trường tài chính (CPSS-IOSCO) khuyến nghị Cơ quan tổ chức cơ sở hạ tầng thị trường tài chính (FMI) nên để ngân hàng trung ương thực hiện việc thanh toán tiền. Nếu không sử dụng tiền tại ngân hàng trung ương thì FMI cần phải giảm thiểu và kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng và thanh khoản từ việc sử dụng tiền của ngân hàng thương mại.
[12] Báo cáo số 1516/BC-UBKT14 của Ủy ban kinh tế về một số vấn đề lớn về dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi), tr.8.
[13] Trương Thị Thùy Dương, “Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trên thị trường chứng khoán”, http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/xu-ly-nghiem-cac-hanh-vi-vi-pham-tren-thi-truong-chung-khoan-302759.html, truy cập ngày 19/09/2019.

Ý kiến bạn đọc