Hoàn thiện các quy định về hành nghề luật sư trong Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
29/09/2026
Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, việc sửa đổi Luật Luật sư là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hành nghề luật sư, khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư. Trên cơ sở phân tích các quy định của Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)[1], bài viết chỉ ra một số bất cập liên quan đến hành nghề luật sư, đồng thời đề xuất các kiến nghị hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của Dự thảo Luật, qua đó góp phần xây dựng môi trường hành nghề luật sư ổn định, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Luật Luật sư; hành nghề luật sư; tổ chức hành nghề luật sư; luật sư; luật sư nước ngoài.
Abstract: In the context of accelerated judicial reform and international integration, amending the Law on Lawyers is an urgent requirement in order to perfect the legal framework governing legal practice, overcome the shortcomings of current law and improve the effectiveness of state management of lawyers’ activities. Based on an analysis of the provisions of the Draft Law on Lawyers (Amended), the article identifies a number of shortcomings relating to legal practice and proposes recommendations to ensure the consistency, transparency and feasibility of the Draft Law, thereby contributing to building a stable and professional environment for legal practice that meets the requirements of judicial reform in the new period.
Keywords: Law on Lawyers; legal practice; law-practicing organizations; lawyers; foreign lawyers.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật sư và hành nghề luật sư giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vừa là thiết chế bổ trợ tư pháp góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, vừa là lực lượng cung cấp dịch vụ pháp lý phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Hoạt động hành nghề của luật sư từ tư vấn pháp lý, giải quyết tranh chấp, tái cấu trúc doanh nghiệp đến giải quyết phá sản đều có những ảnh hưởng nhất định tới niềm tin của các nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam
[2]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã xác định rõ nhiệm vụ hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư
[3].
Sau gần hai mươi năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã tạo lập hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho tổ chức và hoạt động luật sư, góp phần đưa đội ngũ luật sư Việt Nam phát triển cả về số lượng và chất lượng
[4]. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi và áp dụng Luật Luật sư vẫn còn nhiều bất cập và tính khả thi chưa cao, gây khó khăn trong quá trình hoạt động nghề
[5]. Trước yêu cầu đó, thực hiện Chương trình Lập pháp năm 2026, Bộ Tư pháp đã chủ trì xây dựng Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) theo hướng sửa đổi toàn diện, dự kiến trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai.
Dự thảo Luật có nhiều điểm mới đáng ghi nhận liên quan đến hành nghề luật sư, như thiết kế lại phạm vi hành nghề, đa dạng hóa hình thức hành nghề và hình thức tổ chức hành nghề, hoàn thiện cơ chế cung cấp dịch vụ pháp lý và mở rộng sự tham gia của luật sư nước ngoài, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Định hướng mở rộng này phù hợp với xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới trong việc từng bước mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý gắn với chuẩn hóa điều kiện hành nghề và cơ chế quản lý, giám sát đối với luật sư nước ngoài
[6]. Mặc dù vậy, qua nghiên cứu, đối chiếu các quy định của Dự thảo Luật, có thể nhận thấy một số quy định về hành nghề luật sư còn thiếu thống nhất, chồng chéo hoặc chưa bảo đảm tính khả thi, có nguy cơ gây vướng mắc trong áp dụng nếu không được chỉnh lý kịp thời trước khi thông qua. Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành pháp luật thời gian qua cũng ghi nhận không ít sai phạm, vướng mắc trong hoạt động nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư, mà một trong những nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu rõ ràng, thiếu đồng bộ của khung pháp luật điều chỉnh
[7].
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá ba nhóm quy định về hành nghề luật sư trong Dự thảo Luật còn tồn tại bất cập, bao gồm: (i) Quy định về phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam; (ii) Quy định về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và (iii) Quy định về đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Trên cơ sở chỉ ra những điểm mâu thuẫn, thiếu khả thi của từng nhóm quy định, bài viết đề xuất phương hướng chỉnh lý cụ thể nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của Dự thảo Luật, góp phần hoàn thiện pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
1. Quy định về phạm vi hành nghề của Luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam
Thứ nhất, theo điểm b khoản 2 Điều 16 Dự thảo Luật, luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam được thực hiện “Tư vấn pháp luật Việt Nam trong trường hợp có bằng cử nhân luật của Việt Nam và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện đối với luật sư Việt Nam quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật này, có phẩm chất đạo đức tốt, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực”. Các tiêu chuẩn tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 7 Dự thảo Luật bao gồm: “b) Có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật; c) Tốt nghiệp khoá đào tạo nghề luật sư, trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư; d) Hoàn thành việc tập sự hành nghề luật sư và đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư, trừ trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư”. Như vậy, luật sư nước ngoài phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên theo quy định của Dự thảo Luật thì mới được tư vấn pháp luật Việt Nam. Quy định này nhằm bảo đảm rằng luật sư nước ngoài khi tư vấn pháp luật Việt Nam phải có trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp tương đương luật sư Việt Nam. Tuy nhiên, cách thiết kế điều kiện theo hướng dẫn chiếu toàn bộ các tiêu chuẩn của luật sư Việt Nam lại bộc lộ sự thiếu thống nhất giữa các quy định của Dự thảo Luật và dẫn đến những yêu cầu không khả thi đối với luật sư nước ngoài.
Một là, theo khoản 3 Điều 2 Dự thảo Luật thì “Luật sư nước ngoài là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định tại Điều 13 của Luật này và được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam”. Như vậy, việc được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam đã thể hiện rằng, luật sư nước ngoài đáp ứng các điều kiện hành nghề theo cơ chế riêng mà Dự thảo Luật thiết kế đối với chủ thể này. Trong khi đó, điểm b khoản 2 Điều 16 lại tiếp tục yêu cầu họ phải tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư và hoàn thành tập sự hành nghề luật sư theo cơ chế áp dụng đối với luật sư Việt Nam. Cách quy định này dẫn đến sự chồng chéo về điều kiện hành nghề, bởi cùng một chủ thể vừa phải đáp ứng điều kiện để được cấp Giấy phép hành nghề theo Điều 13, vừa phải đáp ứng lại các yêu cầu đào tạo và tập sự vốn là các điều kiện tiền đề để hình thành tư cách luật sư Việt Nam. Điều này không chỉ làm mất đi ý nghĩa của cơ chế cấp Giấy phép hành nghề dành riêng cho luật sư nước ngoài mà còn tạo ra sự mâu thuẫn giữa Điều 13 và Điều 16 của Dự thảo Luật.
Hai là, về điều kiện “đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư”. Đây là quy định mà một luật sư nước ngoài không thể đáp ứng được. Sở dĩ như vậy là bởi vì kỳ thi quốc gia về luật sư chỉ dành cho công dân Việt Nam theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Dự thảo Luật. Điều này đồng nghĩa với việc luật sư nước ngoài không thuộc đối tượng được dự thi, nên về mặt pháp lý không có khả năng đáp ứng điều kiện mà điểm b khoản 2 Điều 16 đặt ra.
Từ bất cập này, các tác giả kiến nghị Dự thảo Luật cần sửa đổi theo hướng chỉ yêu cầu luật sư nước ngoài chứng minh năng lực về pháp luật Việt Nam thông qua các điều kiện phù hợp (chẳng hạn như có bằng cử nhân luật Việt Nam hoặc đáp ứng cơ chế kiểm tra kiến thức pháp luật Việt Nam), thay vì buộc họ phải đáp ứng toàn bộ quy trình đào tạo, tập sự và kỳ thi quốc gia vốn được thiết kế riêng cho luật sư Việt Nam. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý, vừa bảo đảm tính thống nhất, khả thi và hợp lý của Dự thảo Luật.
Thứ hai, Dự thảo Luật chưa bảo đảm sự thống nhất giữa quy định về quyền hành nghề của luật sư nước ngoài và phạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể, điểm b khoản 2 Điều 16 Dự thảo Luật thừa nhận luật sư nước ngoài được tư vấn pháp luật Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, Điều 24 lại quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
“cử luật sư Việt Nam trong tổ chức mình tư vấn pháp luật Việt Nam; ý kiến tư vấn về pháp luật Việt Nam do tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam cung cấp cho khách hàng phải được lập thành văn bản, do luật sư Việt Nam thực hiện và có chữ ký của luật sư Việt Nam”[8].
Theo điểm b khoản 2 Điều 16, một luật sư nước ngoài đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định có quyền tư vấn pháp luật Việt Nam. Đồng thời, theo điểm a khoản 2 Điều 17, luật sư nước ngoài có thể hành nghề tại tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi đối chiếu với Điều 24, quyền tư vấn pháp luật Việt Nam của chính luật sư nước ngoài lại không thể được thực hiện trong tổ chức mà họ đang hành nghề, bởi mọi ý kiến tư vấn về pháp luật Việt Nam do tổ chức này cung cấp đều bắt buộc phải do luật sư Việt Nam thực hiện và ký tên. Như vậy, mặc dù Điều 16 ghi nhận quyền tư vấn pháp luật Việt Nam của luật sư nước ngoài, nhưng Điều 24 lại loại trừ khả năng thực hiện quyền đó trong môi trường hành nghề phổ biến nhất của họ là tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài.
Sự thiếu thống nhất này dẫn đến hệ quả là quyền hành nghề được ghi nhận tại Điều 16 chỉ mang tính hình thức, bởi trên thực tế luật sư nước ngoài chỉ có thể trực tiếp thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật Việt Nam nếu làm việc tại tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam theo điểm b khoản 2 Điều 17. Nếu đây là chủ đích của nhà làm luật nhằm giới hạn hoạt động tư vấn pháp luật Việt Nam của luật sư nước ngoài trong các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam thì cần được quy định một cách minh thị ngay tại Điều 16 hoặc Điều 17 để bảo đảm tính minh bạch và tính dự đoán của pháp luật. Ngược lại, nếu mục tiêu lập pháp là cho phép luật sư nước ngoài đã đáp ứng các điều kiện theo điểm b khoản 2 Điều 16 được trực tiếp tư vấn pháp luật Việt Nam, thì Điều 24 cần được sửa đổi theo hướng tương thích với quy định này, tránh tình trạng một quy định ghi nhận quyền trong khi một quy định khác lại làm cho quyền đó không thể thực hiện trên thực tế.
2. Quy định về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
Thứ nhất, về quy định thu hồi giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân. Theo Dự thảo Luật, có 02 trường hợp thu hồi giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, đó là:
“a) Tự chấm dứt hành nghề; b) Bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Luật này”[9]. Tuy nhiên, quy định này đã bỏ sót một trường hợp có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của hình thức hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, đó là
việc chấm dứt hợp đồng lao động với cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề. Theo khoản 1 Điều 23 Dự thảo Luật thì
“Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư; trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động cho nhiều cơ quan, tổ chức thì phải được sự đồng ý của các cơ quan, tổ chức ký hợp đồng lao động”. Nói cách khác, hợp đồng lao động là căn cứ pháp lý làm phát sinh và duy trì hình thức hành nghề này. Khi hợp đồng lao động chấm dứt, điều kiện để luật sư tiếp tục hành nghề với tư cách cá nhân cũng không còn. Tuy nhiên, Dự thảo Luật lại không quy định việc chấm dứt hợp đồng lao động là căn cứ thu hồi Giấy đăng ký hành nghề. Điều này dẫn đến tình trạng tư cách hành nghề vẫn tiếp tục được duy trì trên phương diện pháp lý mặc dù căn cứ phát sinh tư cách đó đã không còn tồn tại.
Bất cập này có thể dẫn đến khoảng trống trong quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề luật sư. Trên thực tế, luật sư đã nghỉ việc hoặc bị chấm dứt hợp đồng lao động vẫn có thể tiếp tục giữ Giấy đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân trong thời gian không xác định nếu không thuộc hai trường hợp bị thu hồi theo Dự thảo Luật. Hệ quả là phát sinh tình trạng “hành nghề trên giấy”, tức chủ thể vẫn được ghi nhận là đang hành nghề mặc dù không còn đáp ứng điều kiện pháp lý để thực hiện hình thức hành nghề này.
Đáng chú ý hơn, khoảng trống này còn có thể làm suy giảm hiệu quả của cơ chế quản lý Chứng chỉ hành nghề luật sư. Theo điểm c khoản 3 Điều 11 Dự thảo Luật, Chứng chỉ hành nghề luật sư bị thu hồi trong trường hợp luật sư không hành nghề trong thời hạn 24 tháng liên tục, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Tuy nhiên, nếu Giấy đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân không bị thu hồi sau khi hợp đồng lao động chấm dứt, thì trên hồ sơ quản lý, luật sư vẫn được ghi nhận là đang hành nghề với tư cách cá nhân. Điều này có thể làm phát sinh cách hiểu rằng, họ vẫn đang trong tình trạng hành nghề hợp pháp, từ đó không có căn cứ thu hồi Chứng chỉ hành nghề do không hành nghề liên tục trong 24 tháng. Nói cách khác, việc thiếu quy định về thu hồi Giấy đăng ký hành nghề khi hợp đồng lao động chấm dứt có thể vô hiệu hóa một phần cơ chế kiểm soát được thiết lập tại điểm c khoản 3 Điều 11, làm ảnh hưởng đến tính thống nhất và hiệu quả của hệ thống quản lý hành nghề luật sư.
Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất và khả thi của Dự thảo Luật, cần bổ sung trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động với cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề là một căn cứ thu hồi Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của luật sư hoặc của cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư trong việc thông báo sự kiện chấm dứt hợp đồng lao động cho cơ quan có thẩm quyền, nhằm bảo đảm thông tin đăng ký hành nghề phản ánh đúng tình trạng hành nghề thực tế của luật sư và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề luật sư.
Thứ hai, theo quy định của Dự thảo Luật thì luật sư hành nghề với tư cách cá nhân đăng ký hành nghề tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nơi có Đoàn Luật sư mà luật sư đó là thành viên
[10]. Tuy nhiên, Dự thảo Luật chỉ quy định các trường hợp thu hồi Giấy đăng ký hành nghề mà không có quy định về việc cấp lại giấy này trong trường hợp bị mất, bị rách, bị hư hỏng hoặc bị cháy. Đây là khoảng trống pháp lý có thể gây khó khăn cho quá trình hành nghề của luật sư, bởi Giấy đăng ký hành nghề là căn cứ pháp lý chứng minh tư cách hành nghề hợp pháp của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân. Đáng lưu ý, Dự thảo Luật cũng không giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Cụ thể, điều khoản giao Chính phủ quy định chi tiết chỉ bao gồm các Điều 5, 7, 8, 9, 10, 11, 14, 19, 20, 24, 25, 29 và 32 của Dự thảo Luật
[11], trong khi Điều 23 về luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không thuộc phạm vi được giao hướng dẫn. Do đó, nếu Dự thảo Luật được thông qua theo hướng hiện nay, sẽ thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết các trường hợp cấp lại Giấy đăng ký hành nghề, ảnh hưởng đến tính thống nhất, đầy đủ và khả thi của hệ thống pháp luật.
Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung quy định về các trường hợp, điều kiện, trình tự, thủ tục cấp lại Giấy đăng ký hành nghề của luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngay trong Luật hoặc giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính đầy đủ của cơ chế pháp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động hành nghề của luật sư và hạn chế khoảng trống pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành.
3. Quy định về đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư
Dự thảo Luật hiện nay còn bộc lộ sự thiếu thống nhất trong quy định về địa điểm đăng ký hoạt động của công ty luật do các luật sư thuộc nhiều Đoàn Luật sư khác nhau cùng thành lập. Cụ thể:
Khoản 5 Điều 19 Dự thảo Luật quy định: “Trường hợp các luật sư ở các Đoàn Luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật thì được lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên”. Theo quy định này, tiêu chí xác định địa điểm đăng ký hoạt động được gắn với Đoàn Luật sư mà một trong các luật sư sáng lập là thành viên, đồng thời trao cho các luật sư quyền lựa chọn địa phương đăng ký.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 20 Dự thảo Luật lại quy định: “Tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nơi có Đoàn Luật sư mà người đứng đầu tổ chức hành nghề luật sư là thành viên. Công ty luật do các luật sư ở các Đoàn Luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nơi có trụ sở của công ty”. Như vậy, đối với cùng một trường hợp, Điều 20 lại xác định thẩm quyền đăng ký dựa trên địa điểm đặt trụ sở của công ty, thay vì dựa trên Đoàn Luật sư của các thành viên sáng lập như Điều 19 và thỏa thuận lựa chọn của các luật sư thành viên. Sự khác biệt này dẫn đến mâu thuẫn trong tiêu chí xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký hoạt động. Theo Điều 19, việc đăng ký được thực hiện tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà một trong các luật sư sáng lập là thành viên; trong khi theo Điều 20, việc đăng ký lại phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở của công ty. Mâu thuẫn này gây khó khăn trong thực tiễn, cơ quan có thẩm quyền có thể vận dụng quy định này để từ chối đăng ký hoạt động cho công ty. Ví dụ, Luật sư A là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư B là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. Hai luật sư cùng thành lập Công ty Luật X và thống nhất đặt trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo khoản 5 Điều 19 Dự thảo Luật, hai luật sư được lựa chọn đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà một trong hai luật sư là thành viên. Do đó, họ có thể lựa chọn đăng ký hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 20 Dự thảo Luật, đối với công ty luật do các luật sư ở các Đoàn Luật sư khác nhau cùng thành lập thì việc đăng ký hoạt động phải được thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nơi đặt trụ sở của công ty. Vì Công ty Luật X đặt trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh nên hồ sơ đăng ký chỉ có thể được nộp tại cơ quan có thẩm quyền ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc sử dụng đồng thời hai tiêu chí khác nhau để điều chỉnh cùng một vấn đề không chỉ làm giảm tính minh bạch của quy định mà còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh cách hiểu và cách áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền. Điều này ảnh hưởng đến yêu cầu về tính rõ ràng, tính thống nhất và tính dự đoán của pháp luật, vốn là những tiêu chí quan trọng trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, Dự thảo Luật cần được chỉnh lý theo hướng thống nhất một tiêu chí duy nhất để xác định thẩm quyền đăng ký hoạt động của công ty luật do các luật sư thuộc nhiều Đoàn Luật sư cùng thành lập.
Kết luận
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) là bước đi quan trọng trong quá trình thể chế hóa chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động bổ trợ tư pháp và nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Qua phân tích có thể thấy một số quy định về hành nghề luật sư vẫn còn tồn tại những điểm thiếu thống nhất, chồng chéo, chưa bảo đảm tính khả thi, làm giảm hiệu quả điều chỉnh của văn bản nếu được ban hành mà không được chỉnh lý. Bài viết đã chỉ ra ba nhóm bất cập chủ yếu, gồm: (i) Sự thiếu thống nhất trong quy định về phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài; (ii) Khoảng trống pháp lý trong cơ chế quản lý luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; và (iii) Mâu thuẫn giữa các quy định về thẩm quyền đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất sửa đổi các quy định theo hướng bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của Dự thảo Luật. Việc tiếp thu và hoàn thiện các nội dung này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng kỹ thuật lập pháp mà còn tạo lập khuôn khổ pháp lý ổn định, đồng bộ cho hoạt động hành nghề luật sư, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới./.
[1] Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) kèm theo Tờ trình số 597/TTr-CP ngày 21/8/2026 của Chính phủ về Dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
[2] Nguyễn Hưng Quang,
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của luật sư Việt Nam,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8, năm 2026, tr. 52.
[3] Mục IV.7 Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[4] Bộ Tư pháp, Tờ trình dự án Luật Luật sư (sửa đổi), năm 2026, tr. 6.
[6] Ngô Hoàng Oanh,
Hành nghề luật sư ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 1, năm 2021, tr. 85.
[7] Đỗ Thị Thu Hằng - Đỗ Thị Hồng Nhung,
Nhận diện các sai phạm, vướng mắc trong hoạt động nhận, thực hiện dịch vụ pháp lý của luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam, Tạp chí Nghề luật, số 9, năm 2021, tr. 46 - 51.
[8] Điểm b khoản 5 Điều 24 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
[9] Khoản 3 Điều 23 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
[10] Khoản 2 Điều 23 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
[11] Khoản 2 Điều 35 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).