Phản biện đề xuất phát triển Quyết định Giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT thành án lệ về “hợp đồng hứa thưởng”

14/09/2026

Tóm tắt: Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT xác định một “hợp đồng hứa thưởng” giữa văn phòng luật sư và khách hàng vô hiệu do vi phạm điều cấm. Quyết định này đã được đề xuất phát triển thành án lệ. Bài viết cho rằng đề xuất đó chưa nên được chấp nhận vì lập luận của Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT chưa đáp ứng đầy đủ ba tiêu chí lựa chọn án lệ: chưa làm rõ đúng căn cứ “điều cấm của luật”; chưa hình thành một quy tắc có tính chuẩn mực và khái quát; chưa đủ khả năng hướng dẫn áp dụng thống nhất. Đặc biệt, giải pháp pháp lý được đề xuất có nguy cơ được hiểu theo hướng coi mọi thỏa thuận mang tên “hợp đồng hứa thưởng” với luật sư là giao dịch vô hiệu, trong khi hồ sơ chưa giải quyết thỏa đáng việc định danh giao dịch, quan hệ giữa quy tắc nghề nghiệp và hiệu lực dân sự, quyền hưởng và mức thù lao, hậu quả chấm dứt dịch vụ và hậu quả giao dịch vô hiệu. Bài viết đề xuất khung phân tích ba tầng và kiến nghị hoàn thiện Luật Luật sư theo mô hình cho phép có điều kiện đối với thù lao theo kết quả.

Từ khóa: Án lệ; luật sư; thù lao theo kết quả; phí thành công; hợp đồng hứa thưởng.
Abstract: Cassation Decision No. 271/2024/DS-GĐT treated a “reward-promise contract” between a law office and its clients as void and has been proposed for development into a precedent. This article argues that the proposal should not be accepted in its current form. The decision does not adequately identify the statutory prohibition required for civil invalidity, formulate a sufficiently general and normative rule, or provide reliable guidance for uniform adjudication. The proposed legal solution risks being read as treating all agreements labelled as reward-promise contracts with lawyers as categorically void while leaving unresolved the transaction’s legal classification, the relationship between professional discipline and civil validity, fee entitlement and the amount payable, termination, and restitution. The article proposes a three-stage framework—classification, validity, and determination of the fee payable—and recommends conditional statutory recognition of outcome-based fees with appropriate safeguards.
Keywords: Precedent; lawyer; outcome-based fee; success fee; reward promise.
HỢP-ĐỒNG.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Thù lao luật sư phụ thuộc kết quả đặt ra một lựa chọn chính sách khó. Cấm tuyệt đối có thể thu hẹp khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý của người không đủ khả năng trả phí trước. Cho phép không giới hạn lại có thể làm phát sinh xung đột lợi ích, khuyến khích luật sư đặt lợi ích kinh tế của mình lên trên phương án hòa giải hoặc quyền thay đổi luật sư của khách hàng. Vì vậy, câu hỏi đúng không chỉ là có cho phép hay không, mà là cho phép loại thỏa thuận nào, trong vụ việc nào, với điều kiện và chế tài nào.
Luật Luật sư hiện hành thừa nhận phương thức tính thù lao theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện, giá trị hợp đồng hoặc dự án, đồng thời cấm luật sư nhận, đòi hỏi khoản tiền hoặc lợi ích ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý[1]. Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) ngày 08/6/2026 tiếp tục hai định hướng này nhưng chưa phân biệt rõ thù lao theo tỷ lệ với thù lao phụ thuộc kết quả; chưa quy định tiêu chí về tính hợp lý, hậu quả chấm dứt dịch vụ và quan hệ giữa kỷ luật nghề nghiệp với hiệu lực hợp đồng[2].
Khoảng trống đó bộc lộ tập trung trong Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (Quyết định 271). Quyết định xác định một văn bản mang tên “Hợp đồng hứa thưởng” giữa khách hàng và văn phòng luật sư vô hiệu từ thời điểm ký kết[3]. Quyết định này sau đó được đề xuất phát triển thành án lệ, với giải pháp pháp lý khái quát rằng Tòa án phải xác định hợp đồng hứa thưởng cho luật sư vi phạm điều cấm và tuyên vô hiệu[4].
Vấn đề có ý nghĩa vượt ra ngoài một tranh chấp 1,44 tỷ đồng. Nếu trở thành án lệ, phần khái quát của Quyết định 271 sẽ được dùng làm chuẩn đối chiếu cho các vụ việc có tình huống pháp lý tương tự. Theo quy định hiện hành, án lệ phải chứa lập luận làm rõ quy định còn có cách hiểu khác nhau, có tính chuẩn mực và có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật[5]. Bài viết cho rằng Quyết định 271 nêu ra một vấn đề cần được hướng dẫn, nhưng chưa cung cấp một giải pháp đủ chính xác để trở thành án lệ. Phản biện đề xuất án lệ không nhằm hợp pháp hóa mọi khoản “hứa thưởng”, mà nhằm tránh nâng một chuỗi lập luận còn thiếu mắt xích thành quy tắc xét xử chung.
1. Quyết định 271 và nội dung được đề xuất làm án lệ
1.1. Tình huống tranh chấp và tình trạng tố tụng
Ngày 05/6/2020, vợ chồng ông Q, bà D được phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ 4.143.911.937 đồng. Ngày 14/8/2020, do chưa đồng ý với phương án này, họ ký với Văn phòng luật sư L văn bản mang tên “Hợp đồng hứa thưởng”. Văn phòng luật sư nhận thực hiện việc làm việc, khiếu nại, khởi kiện; khách hàng trả 20% tổng giá trị tài sản hoặc tổng số tiền được hưởng. Văn phòng luật sư đã tư vấn, soạn và gửi đơn khiếu nại. Khách hàng sau đó rút đơn, yêu cầu chấm dứt quan hệ và cho rằng công việc của văn phòng luật sư không tạo ra kết quả. Ngày 23/12/2020, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bồi thường, hỗ trợ bổ sung 7.200.280.000 đồng. Văn phòng luật sư yêu cầu thanh toán 1.440.000.000 đồng[6].
Hai cấp xét xử năm 2022 chấp nhận yêu cầu này. Quyết định 271 hủy cả hai bản án để xét xử sơ thẩm lại. Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa án khi chứng cứ đầy đủ, rõ ràng theo khoản 5 Điều 343 và Điều 347 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng Quyết định 271 không sử dụng quyền đó: phần nhận định coi hợp đồng vô hiệu; phần quyết định chỉ hủy án và giao xét xử lại, chưa tuyên nghĩa vụ hoàn trả, giá trị dịch vụ hoặc hậu quả về tài sản[7].
Khi xét xử lại, Bản án số 78/2025/DS-ST buộc phía văn phòng luật sư hoàn trả 1,27 tỷ đồng trong số 1,3 tỷ đồng đã nhận qua thi hành án. Bản án phúc thẩm số 239/2026/DS-PT ngày 02/4/2026 tiếp tục hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và giao giải quyết lại[8]. Như vậy, Quyết định 271 có ảnh hưởng lớn đối với vụ án, nhưng việc định danh giao dịch và hậu quả về tài sản vẫn chưa được giải quyết triệt để trong chuỗi phán quyết đã công bố.
1.2. Chuỗi suy luận của Hội đồng giám đốc thẩm
Lập luận cốt lõi của Quyết định 271 gồm ba bước: từ điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư và Quy tắc 9.2 Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, Hội đồng rút ra mệnh đề “luật sư không được ký hợp đồng hứa thưởng với khách hàng”; tiếp đó, coi việc ký văn bản này là vi phạm điều cấm; sau đó áp dụng Điều 117 và Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định hợp đồng vô hiệu.
Chuỗi suy luận trên chưa giải thích bốn vấn đề. Thứ nhất, điểm đ khoản 1 Điều 9 chỉ cấm khoản tiền, lợi ích nằm ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận, không cấm bằng câu chữ “hợp đồng hứa thưởng” hoặc “thù lao theo kết quả”. Thứ hai, Quy tắc 9.2 điều chỉnh việc luật sư gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản; tặng cho không đồng nhất với thù lao trả cho dịch vụ. Thứ ba, Quyết định chưa giải thích vì sao một quy tắc do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành có thể tự thân trở thành “điều cấm của luật” theo Điều 123. Thứ tư, Quyết định dẫn “Luật Luật sư năm 2015”, trong khi văn bản áp dụng là Luật số 65/2006/QH11, được sửa đổi năm 2012[9].
1.3. Nội dung được đề xuất phát triển thành án lệ
Bản đề xuất giữ nguyên các đoạn nhận định nêu trên và khái quát tình huống là khách hàng hứa thưởng cho luật sư sau khi hoàn thành công việc nhưng không trả; giải pháp là Tòa án xác định hợp đồng hứa thưởng vi phạm điều cấm và tuyên vô hiệu[10]. Cách khái quát này bỏ khỏi tình huống án lệ nhiều dữ kiện có thể quyết định kết quả: khoản tiền có được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hay nằm ngoài hợp đồng; văn bản là giao dịch đơn phương hay hợp đồng song vụ; toàn bộ hay chỉ một phần thù lao phụ thuộc kết quả; công việc đã thực hiện; thời điểm và hậu quả chấm dứt; cơ sở tính trên toàn bộ 7,2 tỷ đồng hay phần tăng thêm; cùng yêu cầu hoàn trả và định giá dịch vụ.
Việc Quyết định 271 chỉ hủy án và giao xét xử lại không tự thân loại trừ khả năng lựa chọn làm án lệ. Tuy nhiên, phần khái quát án lệ không nên trình bày như một phán quyết dứt điểm về hiệu lực và hậu quả pháp lý khi quyết định nguồn chưa trực tiếp giải quyết các vấn đề đó. Sự khác nhau giữa phần nhận định, phần quyết định và phần khái quát cần được lưu ý, nhưng không phải là lý do tự thân để bác việc lựa chọn án lệ.
2. Vì sao Quyết định 271 chưa phù hợp để phát triển thành án lệ?
2.1. Chưa làm rõ quy định còn có cách hiểu khác nhau
Quyết định 271 đúng khi nhận diện nhu cầu kiểm soát việc luật sư nhận lợi ích từ khách hàng, nhưng chưa chỉ ra quy phạm nào cấm loại thỏa thuận đang tranh chấp. Điều 123 Bộ luật Dân sự đòi hỏi “điều cấm của luật”, trong khi Quyết định sử dụng cụm từ “điều cấm của pháp luật” và dựa đồng thời vào Quy tắc 9.2. Tính bắt buộc nghề nghiệp của Bộ Quy tắc không làm mọi vi phạm quy tắc đương nhiên trở thành căn cứ vô hiệu giao dịch.
Việc Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng thuật ngữ “điều cấm của luật” thay cho “điều cấm của pháp luật” trong Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy yêu cầu phải xác định chính xác căn cứ cấm, nhưng chỉ riêng khác biệt thuật ngữ chưa giải quyết được vấn đề thứ bậc văn bản[11]. Điểm quyết định là Tòa án phải nhận diện điều cấm trong luật và chứng minh mục đích hoặc nội dung của giao dịch cụ thể thuộc đúng phạm vi của điều cấm đó. Quy tắc 9.2 có giá trị bắt buộc trong nghề nghiệp, nhưng không phải quy phạm pháp luật về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; không thể dùng quy tắc này để bù cho mắt xích còn thiếu trong việc áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư hiện hành.
Điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư hiện hành cũng không giải quyết được khoảng trống này nếu khoản 20% đã được thỏa thuận trước trong văn bản có quan hệ hữu cơ với dịch vụ pháp lý. Muốn áp dụng điều cấm đó, Tòa án phải xác định trước khoản tiền nằm ngoài hợp đồng hoặc vượt quá thù lao, chi phí đã thỏa thuận. Quyết định 271 lại lấy kết luận cần chứng minh làm tiền đề: gọi khoản tiền là “hứa thưởng”, rồi từ tên gọi suy ra nó không phải thù lao hợp pháp. Vì vậy, Quyết định chưa đạt tiêu chí làm rõ quy định còn có cách hiểu khác nhau; nó lựa chọn một kết quả nhưng chưa hoàn thiện cầu nối từ quy phạm đến kết quả.
2.2. Chưa hình thành quy tắc có tính chuẩn mực và khái quát
Một án lệ về vấn đề này phải phân biệt ít nhất ba cấu trúc: hứa thưởng là hành vi pháp lý đơn phương theo Điều 570 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản tặng cho hoặc lợi ích ngoài hợp đồng bị cấm; và thù lao dịch vụ pháp lý được tính hoặc phát sinh theo kết quả. Quyết định 271 chưa thực hiện sự phân loại đó. Mệnh đề “luật sư không được ký hợp đồng hứa thưởng” phụ thuộc vào tên gọi của văn bản, nên vừa có thể phủ nhận thỏa thuận thù lao hợp pháp bị đặt sai tên, vừa tạo động cơ né tránh bằng cách đổi tên “hứa thưởng” thành “phí thành công”.
Quy tắc được đề xuất cũng quá rộng so với dữ kiện nguồn. Nó không cho biết trường hợp nào toàn bộ giao dịch vô hiệu, trường hợp nào chỉ điều khoản phí không được thực thi, và trường hợp nào vi phạm chỉ dẫn tới kỷ luật hoặc giảm phí. Một quy tắc chuẩn mực phải điều chỉnh hành vi theo bản chất và chỉ rõ hậu quả tương xứng; không nên biến mọi sai sót về tên gọi, hình thức hoặc đạo đức nghề nghiệp thành vô hiệu toàn bộ.
2.3. Chưa đủ khả năng hướng dẫn áp dụng thống nhất
Việc một quyết định giám đốc thẩm hủy án để xét xử lại không tự nó loại trừ khả năng được chọn làm án lệ. Tuy nhiên, trong vụ án được nêu ở Quyết định 271, chính những vấn đề cần thiết để hình thành hướng dẫn chung vẫn chưa được giải quyết: quan hệ giữa văn bản “hứa thưởng” và hợp đồng dịch vụ pháp lý; chủ thể, phạm vi, quyền và nghĩa vụ; giá trị phần việc đã thực hiện; tác động của việc khách hàng chấm dứt; cơ sở tính phí; lỗi và hậu quả hoàn trả. Bản án 239/2026/DS-PT tiếp tục hủy án càng cho thấy tranh chấp chưa đạt tới một lời giải ổn định.
Nếu áp dụng phần khái quát được đề xuất, các Tòa án có thể tuyên vô hiệu chỉ vì văn bản mang tên “hợp đồng hứa thưởng”, mà không kiểm tra khoản tiền có thật sự nằm ngoài hợp đồng hay không. Ngược lại, những thỏa thuận có cùng bản chất nhưng mang tên khác có thể thoát khỏi án lệ. Kết quả đó không tạo thống nhất mà thay sự bất định về nội dung bằng sự lệ thuộc vào tên gọi. Vì vậy, hướng xây dựng là chưa lựa chọn Quyết định 271 ở dạng hiện nay, nên chờ một phán quyết có dữ kiện đầy đủ và lập luận kín kẽ hơn, hoặc để Luật Luật sư quy định trực tiếp ranh giới của thù lao theo kết quả.
2.4. Một án lệ phù hợp hơn cần giải quyết những gì?
Nếu thực tiễn vẫn cần một án lệ trước khi Luật Luật sư hiện hành được sửa đổi, tình huống án lệ phải được giới hạn bằng những dữ kiện có ý nghĩa pháp lý, thay vì chỉ dựa vào tên “hợp đồng hứa thưởng”. Ít nhất phải xác định: (i) Khoản tiền được thỏa thuận trước hay bị đòi thêm sau đó; (ii) Văn bản có ghi nhận nghĩa vụ dịch vụ cụ thể và có phải là hợp đồng, phụ lục hoặc sửa đổi hợp đồng dịch vụ pháp lý hay không; (iii) Khoản tiền là tặng cho, thù lao cơ bản, phí bổ sung theo kết quả hay toàn bộ thù lao phụ thuộc kết quả; (iv) Sự kiện làm phát sinh phí và cơ sở tính; và (v) Việc chấm dứt dịch vụ ảnh hưởng thế nào đến quyền hưởng phí.
Giải pháp pháp lý cũng không nên dừng ở mệnh đề “hợp đồng hứa thưởng vô hiệu”. Tòa án phải chỉ ra điều cấm cụ thể; giải thích vì sao mục đích hoặc nội dung giao dịch thuộc phạm vi điều cấm; phân biệt hiệu lực của giao dịch với kỷ luật nghề nghiệp; và xác định hậu quả tương ứng. Nếu chỉ điều khoản về phí vi phạm mà phần dịch vụ có thể tồn tại độc lập, cần xem xét cơ chế vô hiệu từng phần theo Điều 130 Bộ luật Dân sự năm 2015 thay vì mặc nhiên xóa bỏ toàn bộ quan hệ. Nếu giao dịch vô hiệu, án lệ cần hướng dẫn việc xử lý dịch vụ đã thực hiện và không thể hoàn trả bằng hiện vật trong khuôn khổ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nếu giao dịch có hiệu lực, vẫn phải tách câu hỏi về mức phí, điều kiện hưởng và nghĩa vụ chứng minh.
Cách thiết kế này sẽ tạo ra một quy tắc có thể áp dụng cho cùng bản chất giao dịch, bất kể các bên đặt tên là “hứa thưởng”, “phí thành công” hay “thù lao theo tỷ lệ”. Nó cũng tránh hai hệ quả trái chiều: bảo vệ một khoản lợi ích ngoài hợp đồng chỉ vì đổi tên; hoặc phủ nhận thù lao hợp pháp chỉ vì dùng thuật ngữ không chuẩn. Quyết định 271 hiện chưa chứa đầy đủ các mắt xích đó, nên phù hợp hơn với tư cách là tài liệu khởi phát tranh luận và thúc đẩy hoàn thiện pháp luật, chưa phải nguồn án lệ đã chín muồi.
3. Khung phân tích ba tầng đối với thù lao theo kết quả
3.1. Tầng thứ nhất: định danh theo bản chất
Hứa thưởng theo Điều 570 Bộ luật Dân sự năm 2015 là cam kết công khai và có cấu trúc hành vi pháp lý đơn phương. Văn bản trong vụ án được nêu ở Quyết định 271 được ký giữa hai chủ thể xác định, mô tả dịch vụ pháp lý và khoản tiền khách hàng phải trả. Tên “Hợp đồng hứa thưởng” chỉ là một dữ kiện giải thích; việc định danh phải dựa vào ý chí chung, mục đích và toàn bộ quyền, nghĩa vụ[12].
Cần phân biệt “thù lao theo kết quả” với phương thức tính thù lao theo tỷ lệ. Thù lao theo tỷ lệ chỉ mô tả cách tính bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị làm căn cứ; cách tính này không cho biết quyền hưởng thù lao có phụ thuộc vào kết quả hay không. Ở đây, khoản thù lao bổ sung chỉ phát sinh khi đạt kết quả được gọi là “phí thành công”; còn “thù lao phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả” là trường hợp quyền hưởng toàn bộ thù lao chỉ phát sinh nếu đạt kết quả đó. Điều 55 Luật Luật sư hiện hành thừa nhận cách tính theo tỷ lệ nhưng chưa trả lời đầy đủ liệu quyền hưởng có thể phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả hay không. Quy tắc 9.2 cấm việc gợi ý, đặt điều kiện tặng cho[13].Việc xác định khoản tiền là tặng cho hay thù lao phải căn cứ vào nội dung thỏa thuận và nghĩa vụ dịch vụ tương ứng của luật sư. Tên gọi “thưởng” không đủ để xác định đó là khoản tặng cho; tên gọi “phí thành công” cũng không đủ để coi một khoản lợi ích ngoài thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý là thù lao hợp pháp.
Do đó, không thể xác định bản chất pháp lý của văn bản chỉ từ tên gọi do các bên sử dụng. Cần làm rõ văn bản có thiết lập nghĩa vụ cung cấp dịch vụ pháp lý và nghĩa vụ trả thù lao hay không; văn bản tồn tại độc lập hay bổ sung cho một hợp đồng dịch vụ pháp lý đã có; và khoản tiền được ghi nhận là thù lao cho dịch vụ hay lợi ích nằm ngoài thỏa thuận về thù lao. Việc định danh phải dựa vào nội dung quyền và nghĩa vụ, thời điểm và mục đích giao kết, mối liên hệ với hợp đồng dịch vụ pháp lý khác và quá trình thực hiện của các bên.
3.2. Tầng thứ hai: kiểm soát hiệu lực
Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 coi giao dịch có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội là vô hiệu. Quy phạm nghề nghiệp và quy phạm về hiệu lực có thể giao nhau nhưng không đồng nhất. Luật Luật sư hiện hành giao Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành Bộ Quy tắc và yêu cầu luật sư tuân thủ, điều đó tạo nên tính ràng buộc về mặt nghề nghiệp nhưng không biến mọi quy tắc thành điều cấm của luật[14]. Chính Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cũng thể hiện sự phân biệt đó khi xác định việc vi phạm Bộ Quy tắc là một căn cứ để xem xét trách nhiệm kỷ luật đối với luật sư[15].
Điểm đ khoản 1 Điều 9 cần được hiểu trong mối liên hệ với Điều 26, Điều 55 và Điều 56 Luật Luật sư hiện hành: hợp đồng phải ghi phương thức tính, mức thù lao; thù lao có thể tính theo tỷ lệ và do các bên thỏa thuận[16]. Mục tiêu hợp lý của lệnh cấm là ngăn đòi thêm lợi ích ngoài thỏa thuận, không phải loại bỏ mọi cách tính phụ thuộc kết quả. Tuy nhiên, một văn bản riêng cũng không tự động là bộ phận hợp lệ của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Tòa án phải kiểm tra chủ thể, phạm vi công việc, cơ sở tính, thông tin đã cung cấp và thời điểm giao kết.
Vi phạm Bộ Quy tắc có thể là chứng cứ về lạm dụng quan hệ tin cậy, xung đột lợi ích, thiếu thiện chí hoặc lỗi; nhưng trách nhiệm kỷ luật chỉ làm ảnh hưởng đến hiệu lực của giao dịch khi đồng thời thỏa mãn căn cứ vô hiệu do luật quy định. “Đạo đức nghề nghiệp” cũng không tự động đồng nhất với “đạo đức xã hội” tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.3. Tầng thứ ba: xác định quyền hưởng và mức thù lao
Hợp đồng có hiệu lực chưa có nghĩa toàn bộ số tiền yêu cầu đã đến hạn. Theo pháp luật hiện hành, bên yêu cầu thanh toán phải chứng minh thỏa thuận, phạm vi dịch vụ, sự kiện phát sinh nghĩa vụ và số tiền đến hạn. Các yêu cầu về cung cấp thông tin, mối liên hệ hợp lý giữa cơ sở tính với công việc, hoặc ưu tiên phần tăng thêm hơn toàn bộ số tiền chưa được luật hóa thành phép kiểm tra riêng. Đây là những tiêu chí Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) nên bổ sung để khách hàng có thể dự liệu nghĩa vụ. Đối với yêu cầu tăng bồi thường, phần tăng thêm có thể là mốc tham chiếu hợp lý, nhưng không phải quy tắc mặc định hiện hành.
Điều 520 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng khi việc tiếp tục thực hiện không có lợi, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý, trả tiền công cho phần dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại nếu có. Việc chấm dứt không đương nhiên làm phát sinh toàn bộ phí kết quả. Khi xác định tiền công cho phần dịch vụ đã thực hiện và thiệt hại, cần xem xét thời điểm, lý do chấm dứt, mức độ hình thành kết quả, lỗi và việc tuân thủ nghĩa vụ báo trước. Điều khoản bảo lưu phí, nếu có, chỉ nên được xem xét trong phạm vi đã được giải thích minh bạch và không tước bỏ quyền đơn phương chấm dứt theo luật.
Nếu giao dịch vô hiệu, Tòa án giải quyết hậu quả theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 trên cơ sở yêu cầu hợp lệ. Dịch vụ đã thực hiện không thể hoàn trả bằng hiện vật, nhưng luật sư không đương nhiên được hưởng mức phí thỏa thuận và giá trị dịch vụ cũng không mặc nhiên bằng không. Tòa án phải xem xét công việc hợp pháp, khả năng hoàn trả bằng tiền, lỗi, thiệt hại và căn cứ định giá.
4. Áp dụng khung ba tầng vào vụ án theo Quyết định 271
Ở tầng định danh, văn bản ngày 14/8/2020 gần với hợp đồng dịch vụ pháp lý có thù lao phụ thuộc kết quả hơn là hứa thưởng điển hình, nhưng hồ sơ công bố chưa đủ để khẳng định văn bản này tự nó đáp ứng các nội dung bắt buộc hoặc có quan hệ thế nào với hợp đồng dịch vụ khác. Ở tầng hiệu lực, điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư hiện hành không chứa lệnh cấm mọi phí kết quả; Quy tắc 9.2 điều chỉnh việc tặng cho, không trực tiếp điều chỉnh thù lao đã thỏa thuận. Quyết định 271 chuyển quá nhanh từ khả năng vi phạm nghề nghiệp sang vô hiệu giao dịch.
Ở tầng xác định quyền hưởng và mức thù lao, văn phòng luật sư không đương nhiên có quyền yêu cầu thanh toán toàn bộ khoản 1,44 tỷ đồng. Cần làm rõ quan hệ giữa 4,143 tỷ đồng đã được phê duyệt trước giao kết với 7,2 tỷ đồng hỗ trợ bổ sung; thời điểm chấm dứt; đóng góp của dịch vụ; sự kiện phát sinh phí và cơ sở tính. Không thể suy thẳng từ 7,2 tỷ đồng đến nghĩa vụ trả 20%, cũng không thể coi toàn bộ công việc bằng không chỉ vì khách hàng rút đơn.
Khi xét xử lại, trình tự phù hợp là: định danh giao dịch; kiểm tra từng căn cứ vô hiệu; nếu có hiệu lực, xác định điều kiện hưởng và phần phí; nếu vô hiệu, giải quyết hậu quả theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 dựa trên yêu cầu, chứng cứ, công việc, lỗi, thiệt hại và căn cứ định giá. Cách này không mặc định bên nào thắng, nhưng tránh cả hai cực công nhận toàn bộ hoặc vô hiệu toàn bộ.
5. Hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
Điều 18 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã yêu cầu hợp đồng được ký trước, mô tả phạm vi công việc và thừa nhận cách tính theo tỷ lệ; Điều 6 cấm đòi lợi ích ngoài thỏa thuận. Luật Luật sư hiện hành đồng thời đã có một nền tảng cần được kế thừa: khoản 1 Điều 55 xác định mức thù lao dựa trên nội dung, tính chất dịch vụ; thời gian, công sức; kinh nghiệm và uy tín của luật sư[17]. Tuy nhiên, Dự thảo Luật sư (sửa đổi) cần bổ sung khái niệm: “Thù lao theo kết quả là toàn bộ hoặc một phần thù lao mà quyền được hưởng hoặc mức hưởng phụ thuộc vào kết quả khách quan, xác định được của dịch vụ pháp lý”, và ghi nhận đây là một phương thức riêng.
Thỏa thuận phải lập thành văn bản trước khi kết quả phát sinh; nêu rõ sự kiện thành công, cơ sở và thời điểm tính, tỷ lệ hoặc số tiền, chi phí, thuế, kết quả một phần, hòa giải, chấm dứt và thay luật sư. Luật nên loại trừ ít nhất bào chữa hình sự và khoản phí phụ thuộc vào việc xác lập, chấm dứt hôn nhân hoặc quyền nuôi con. Tỷ lệ trần khác, nếu có, cần dựa trên đánh giá tác động.
Trong tranh chấp thù lao giữa khách hàng và tổ chức hành nghề luật sư, Tòa án hoặc trọng tài nên có quyền từ chối hoặc giảm phần phí kết quả rõ ràng bất hợp lý dựa trên công việc, độ khó, rủi ro không được trả, giá trị lợi ích, đóng góp của dịch vụ và thông tin đã cung cấp. Vi phạm Bộ Quy tắc là căn cứ kỷ luật; chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực khi đồng thời thỏa mãn căn cứ vô hiệu do luật quy định. Nếu phần phí bị giảm hoặc vô hiệu, giá trị hợp lý của dịch vụ hợp pháp đã thực hiện vẫn phải được xem xét. Đây không phải quyền can thiệp tùy nghi vào mọi hợp đồng: người yêu cầu giảm phải chứng minh dấu hiệu bất hợp lý rõ ràng và cơ quan giải quyết phải giải thích tiêu chí can thiệp.
Kết luận
Quyết định 271 đã đặt ra đúng một vấn đề cần được thống nhất, nhưng chưa cung cấp một quy tắc đủ chính xác để trở thành án lệ. Quyết định chưa định danh giao dịch theo bản chất, chưa chứng minh đầy đủ “điều cấm của luật”, chưa tách kỷ luật nghề nghiệp khỏi điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; đồng thời chưa xác định quyền hưởng và mức thù lao, hậu quả của việc chấm dứt dịch vụ và hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Bản đề xuất án lệ còn khái quát rộng hơn phần quyết định của nguồn án.
Vì vậy, chưa nên phát triển Quyết định 271 thành án lệ ở dạng hiện nay. Hướng xây dựng tốt hơn là hoàn thiện Luật Luật sư theo mô hình cho phép có điều kiện và chờ một phán quyết có hồ sơ đầy đủ, lập luận đủ kín kẽ để hình thành chuẩn mực xét xử. Mục tiêu không phải bảo vệ mọi “hứa thưởng”, mà bảo đảm án lệ tương lai kiểm soát đúng bản chất thù lao, bảo vệ khách hàng và giữ vững tính liêm chính nghề nghiệp.

 


[1] Điểm đ khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 55 và Điều 56 Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 20/2012/QH13.
[2] Điểm a khoản 1 Điều 6 và khoản 3 Điều 18 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) trình Chính phủ, bản ngày 08/6/2026.
[3] Quyết định giám đốc thẩm số 271/2024/DS-GĐT ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh, phần Nhận định [3]-[4]. Xem bản công bố: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1678276t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 18/7/2026.
[4] Nguyễn Đặng Hạnh Tâm, Đề xuất án lệ về hợp đồng hứa thưởng vô hiệu, Trang tin điện tử về án lệ của Tòa án nhân dân tối cao, phần IV và phần khái quát tình huống pháp lý, giải pháp pháp lý, https://anle.toaan.gov.vn/webcenter/portal/anle/chitietnghiencuu?dDocName=TAND357244, truy cập ngày 23/7/2026.
[5] Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP).
[6] Quyết định số 271/2024/DS-GĐT, tlđd, phần Nội dung vụ án và Nhận định [1]-[2].
[7] Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 343 và Điều 347. Về thực tiễn sửa án ở thủ tục giám đốc thẩm, xem Quyết định số 40/2020/DS-GĐT ngày 06/7/2020 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta540037t1cvn/chi-tiet-ban-an ; và Quyết định số 23/2025/DS-GĐT ngày 13/6/2025 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, https://congbobanan.toaan.gov.vn/3ta1826368t1cvn/ (truy cập ngày 23/7/2026).
[8] Bản án dân sự phúc thẩm số 239/2026/DS-PT ngày 02/4/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, phần Nhận định [3] và phần Quyết định. Bản án này ghi ngày 24/12/2024; Quyết định 271 bản gốc ghi ngày 24/10/2024, là ngày dùng trong bài.
[9] Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc, Quy tắc 9.2. Xem thông tin văn bản tại: https://liendoanluatsu.org.vn/bo-quy-tac-dao-duc-va-ung-xu-nghe-nghiep-luat-su-viet-nam/, truy cập ngày 18/7/2026.
[10] Nguyễn Đặng Hạnh Tâm, tlđd.
[11] So sánh Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005 với Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[12] Xem: Điều 404 và Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[13] Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019, Quy tắc 9.2.
[14] Khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 65 Luật Luật sư năm 2006.
[15] Điều 33 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) ngày 08/6/2026.
[16] Khoản 2 Điều 26, Điều 55 và Điều 56 Luật Luật sư năm 2006.
[17] khoản 1, khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 18; điểm a khoản 1 Điều 6 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) ngày 08/6/2026. Xem thêm: khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư số 65/2006/QH11, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 20/2012/QH13.