Tín thác (Trust) do hệ quả và khả năng vận dụng vào Việt Nam
25/08/2026
Tóm tắt: Nội dung bài viết cho thấy, trong khung cảnh luật thực định, việc vận dụng tín thác (trust) vào Việt Nam gặp nhiều trở ngại do sự không tương thích giữa các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tài sản Việt Nam và các nguyên tắc cơ bản chi phối sự vận hành của tín thác. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, có thể cân nhắc khả năng áp dụng tín thác do hệ quả để xử lý một số trường hợp đặc thù được ghi nhận trong thực tiễn mà có những nét tương đồng như những trường hợp tín thác do hệ quả được áp dụng trong luật Anh - Mỹ.
Từ khóa: Tín thác; tín thác do hệ quả; sản nghiệp; sản nghiệp đặc dụng.
Abstract: The article indicates that, within the positive law framework, the application of trusts in Vietnam faces numerous obstacles due to incompatibilities between the fundamental principles of Vietnamese property law and those governing the operation of trusts. However, to a certain extent, consideration may be given to applying consequential trusts to resolve specific practical scenarios that share similarities with instances where consequential trusts are applied in Anglo-American law.
Keywords: Trust; consequential trust; property; special purpose property.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Tổng quan
Khái niệm trust. Thuật ngữ pháp lý trust không được chính thức định nghĩa trong luật thành văn của Anh, đất nước sản sinh ra chế định này hay trong luật của Hoa Kỳ hoặc Australia, những nơi mà chế định được áp dụng phổ biến trong hầu như tất cả các lĩnh vực của đời sống dân sự. Tuy nhiên, học thuyết pháp lý có những nỗ lực trong việc nhận diện những đặc điểm của quan hệ pháp lý này và sử dụng những đặc điểm đó làm chất liệu để xây dựng một định nghĩa có thể chấp nhận được.
Ở góc nhìn pháp luật tài sản, trust được hiểu là một hình thức chia cắt các quyền của chủ sở hữu và là một mối quan hệ tín thác (fiduciary relationship), theo đó quyền sở hữu đối với tài sản được thừa nhận cho một người, gọi là người nhận tín thác (trustee), trong khi việc thụ hưởng các lợi ích liên quan đến tài sản đó được thừa nhận cho một người khác, gọi là người thụ hưởng (beneficiary)
[1]. Quyền sở hữu của người nhận tín thác đối với tài sản gọi là quyền sở hữu theo luật (legal ownership); quyền của người thụ hưởng đối với tài sản tín thác gọi là lợi ích theo lẽ công bằng (equitable interest). Các thuật ngữ “legal” và “equitable” gắn với nguồn gốc lịch sử của chế định pháp lý, người nhận tín thác tiếp nhận và quản lý tài sản trong tư thế của chủ sở hữu được pháp luật thừa nhận, nghĩa là chủ sở hữu hợp pháp; trong khi đó, người thụ hưởng có được quyền đối với tài sản qua quá trình đấu tranh pháp lý để làm cho quyền của mình đối với tài sản được thừa nhận theo lẽ công bằng (equity).
Căn cứ lập trust.Trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, trust có thể được xác lập theo ý chí hoặc theo quy định của luật. Các điều kiện để quan hệ tín thác được xác lập một cách hữu hiệu được xác định tùy theo quan hệ được xác lập theo ý chí hoặc theo luật.
Theo quan niệm cổ điển
[2], một quan hệ tín thác theo ý chí được xác lập hợp lệ một khi có đủ 3 điều kiện về tính xác định: ý chí được xác định, tính chất giao dịch được xác định và đối tượng được xác định. Trừ trường hợp trust được lập vì mục đích từ thiện, việc thiếu một trong ba yếu tố này sẽ dẫn đến hậu quả là trust vô hiệu ngay từ đầu; khi đó, người nắm giữ tài sản không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ tín thác và có quyền đối với tài sản như một chủ sở hữu thông thường. Quan hệ tín thác xác lập theo luật là quan hệ tín thác được xác lập độc lập với ý chí của các bên liên quan, đặc biệt là của bên giao tài sản tín thác và bên nhận tài sản tín thác. Một khi các điều kiện do luật quy định có đủ thì quan hệ tín thác được xác lập và các bên phải vào vai mà không có sự lựa chọn.
Học thuyết ghi nhận hai nhóm quan hệ tín thác theo luật: quan hệ tín thác do hệ quả (resulting trust) và quan hệ tín thác do cấu trúc (constructive trust). Bên cạnh một số điều kiện chung, mỗi loại trust này cũng có những điều kiện riêng.
Trong bài viết này, tác giả giới hạn trình bày về trust do hệ quả.
2. Trust do hệ quả
2.1. Khái niệm, đặc điểm
Khái niệm[3]. Trust do hệ quả, như tên gọi của nó, là trust được lập như là hệ quả của một sự kiện hoặc một hành vi, mà trong đó chủ thể liên quan có tham gia vào việc chuyển giao tài sản một cách tự nguyện và hợp lệ, nhưng không hề có ý định xác lập quan hệ trust với nhau. Trong hoàn cảnh nhất định, quan hệ trust được xác lập giữa các bên và các bên phải chấp nhận điều này một cách ngoài ý muốn.
Ví dụ: A muốn mua một căn biệt thự trong khu biệt thự liền kề được xây dựng theo dự án nhà ở thương mại, do chủ đầu tư muốn tạo lập một không gian sống đặc biệt cho người đứng tuổi thuộc tầng lớp trung lưu nên rao bán sản phẩm của dự án cho riêng những người từ 55 tuổi trở lên. Trong khi đó A chỉ mới 50 tuổi. Sợ rằng khi mình đủ tuổi để được mua căn biệt thự thì không còn căn nào để mua, nên A nhờ B (56 tuổi) đứng tên mua hộ. Trong trường hợp này, B là người đứng ra mua căn biệt thự và đứng tên chủ sở hữu; tuy nhiên, B chỉ được coi là người nhận tín thác trong việc quản lý căn biệt thự vì lợi ích của người thụ hưởng là A.
Đặc điểm. Trong chừng mực nào đó, có thể hiểu rằng, trust do hệ quả được hình thành khi pháp luật thừa nhận tư cách chủ sở hữu đối với một chủ thể trên cơ sở một hành vi hoặc sự kiện chuyển dịch tài sản hợp lệ. Tuy nhiên, người có tư cách chủ sở hữu theo luật trên thực tế chỉ là người được ủy thác hoặc không đóng góp gì vào việc tạo ra giá trị của tài sản. Bởi vậy, người này bị ràng buộc vào nghĩa vụ trao trả tài sản cho chủ sở hữu ban đầu hoặc người thật sự có đóng góp trong việc tạo ra giá trị của tài sản.
2.2. Các loại trust do hệ quả
Thực tiễn và học thuyết ghi nhận ba loại trust do hệ quả phổ biến: do tạo lập tài sản dưới tên của một người khác hoặc cùng với người khác đứng tên chung; do chuyển giao một tài sản không phải là tiền cho một người khác hoặc cùng với người khác đứng tên chung; do một trust minh thị vì lý do nào đó mà thất bại hoặc không thể tiếp tục.
Trường hợp tạo lập tài sản dưới tên của người khác hoặc cùng với người khác đứng tên chung. Theo một nguyên tắc được thiết lập từ thế kỷ XVIII
[4], trường hợp một người bỏ tiền ra để mua một tài sản, nhưng lại để một người khác đứng tên hoặc cùng đứng tên chung với người khác, thì người đứng tên mà không bỏ tiền để tạo lập tài sản trở thành người nhận trust để phục vụ người thụ hưởng là người đã bỏ tiền để tạo lập tài sản.
Trường hợp A chuyển tiền cho B để mua căn biệt thự trong khu biệt thự liền kề xây dựng theo dự án nhà ở thương mại trong ví dụ trên thuộc loại trust hệ quả này. B nhận tiền của A nhưng lại không có gì để đổi lại, trong khi A chưa từng có ý định tặng cho B số tiền đó. Bởi vậy, việc B dùng tiền của A để mua căn biệt thự có tác dụng lập một trust trên tài sản mua được với B là người nhận trust, A là người thụ hưởng.
Trong một ví dụ khác, A thỏa thuận với B về việc mua một mảnh đất cho B và trả bằng tiền của B, nhưng lại giao kết hợp đồng mua bán mà A là người đứng tên mua. Trong trường hợp này, B có quyền yêu cầu tuyên bố A là người nhận tín thác quản lý mảnh đất mua được vì lợi ích của B.
Để trust do hệ quả được ghi nhận trong trường hợp này, cần có hai điều kiện. Thứ nhất, người yêu cầu lập trust phải chứng minh được việc mình đã bỏ tiền ra để tạo lập tài sản. Trong trường hợp người đứng tên tài sản thừa nhận nguồn tiền không phải của mình mà do người yêu cầu lập trust chuyển giao, nhưng lại cho rằng đây là một vụ tặng cho thì phải chứng minh. Nếu không chứng minh được tính chất tặng cho của việc chuyển giao tiền, mà vẫn khẳng định đó là tiền được chuyển cho mình với trọn quyền sở hữu thì phải chứng minh có vật đánh đổi. Thứ hai, người yêu cầu lập trust phải chứng minh được rằng, mình đã bỏ tiền ra để tạo lập tài sản trong tư thế người tạo lập tài sản, nghĩa là tư thế của một người mong muốn có tài sản để khai thác lợi ích từ tài sản. Trong thực tế, có những trường hợp người bỏ tiền ra để người khác tạo lập tài sản, nhưng người bỏ tiền lại không quan tâm đến tài sản mà chỉ quan tâm đến số tiền bỏ ra và mong muốn thu lại số tiền đó. Trong trường hợp này, việc chuyển giao tiền mang tính chất đặc trưng của một vụ cho vay. Cũng có trường hợp một người tự bỏ tiền ra mua một tài sản và đứng tên sở hữu, nhưng lại tuyên bố thực hiện việc đó thay mặt một người khác. Đây cũng được coi là một quan hệ cho vay: người cho vay là người mua và người vay chính là người khác đó. Việc người bỏ tiền để mua tài sản rồi đứng tên được coi là việc xác lập một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: người mua tài sản thay mặt người khác để mua tài sản và thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với người bán; nếu người khác đó trả lại cho người mua tiền mua tài sản, kèm theo tiền lãi, thì người mua tài sản chuyển quyền sở hữu tài sản cho người này.
Trong một trường hợp khác, khi hai người cùng bỏ tiền để mua một tài sản nhưng chỉ một người đứng tên. Khi đó, người đứng tên được coi là người nhận trust đối với phần tài sản mua được bằng tiền của người kia. Ví dụ điển hình là trường hợp vợ chồng cùng bỏ tiền tạo lập một tài sản, nhưng chỉ người chồng đứng tên chủ sở hữu: người đứng tên là người nhận trust đối với phần tài sản được mua bằng tiền của vợ mình. Trong điều kiện người chồng không tự nguyện vào vai người nhận trust vì lợi ích của người vợ, trust được lập với hàm ý nhắc nhở người chồng về thái độ ứng xử cho đúng mực trong quá trình quản lý, khai thác tài sản.
Chuyển giao tài sản không phải là tiền cho một người khác hoặc cho người khác cùng với mình đứng tên chủ sở hữu tài sản[5]. Một loại trust hệ quả hình thành từ việc tự nguyện chuyển giao tài sản cho một người trong điều kiện bên chuyển giao không có ý định tặng cho và bên được chuyển giao không có gì để đánh đổi (consideration) cho việc nhận chuyển giao tài sản.
Theo án lệ
[6], trong điều kiện việc chuyển giao không bị coi là bất hợp pháp, người nhận một tài sản do người khác chuyển giao mà không có vật đánh đổi được suy đoán là người quản lý tài sản như một người nhận trust vì lợi ích của người khác. Đây chỉ là sự suy đoán đơn giản và có thể bị phản bác nếu người nhận tài sản chứng minh được rằng mình nhận tài sản do hiệu lực của một giao dịch tặng cho (gift).
Tương tự, trong trường hợp một người chuyển giao một phần tài sản của mình cho người khác để cùng với mình đứng tên chung mà người đứng tên chung không có gì để đánh đổi, thì người đứng tên chung trở thành người nhận trust do hệ quả đối với phần tài sản chung có được. Người này chỉ trở thành chủ sở hữu với quyền sở hữu trọn vẹn khi chứng minh được rằng người có tài sản đã tặng cho mình phần tài sản đó. Việc chứng minh tài sản được tặng cho có thể được thực hiện thông qua nhiều loại chứng cứ khác nhau, bao gồm chứng cứ bằng văn bản hoặc bằng lời nói, thậm chí bằng việc chỉ ra những yếu tố của hoàn cảnh đặc thù cho phép ghi nhận một vụ tặng cho. Chẳng hạn, B đã có vợ nhưng lại kết hôn với A; B mua căn nhà và để mình đứng tên trong khi người trả tiền là A; B chết và những người thừa kế của B tiếp quản tài sản thì A phản đối, đòi thiết lập trust do hệ quả đối với tài sản. Tòa án bác bỏ yêu cầu của A với lý do có đầy đủ yếu tố của hoàn cảnh cho phép ghi nhận một vụ tặng cho. Cụ thể, B đã chủ động đề nghị để mình đứng tên mua nhà và A không phản đối; đồng thời, A vẫn tiếp tục trả tiền mua nhà theo cam kết sau khi đã biết B có vợ. Những yếu tố này được xem là đã thiết lập bằng chứng đầy đủ về một vụ tặng cho.
Việc suy đoán trust do hệ quả cũng bị loại bỏ trong trường người chuyển giao và người được chuyển giao có quan hệ thân thuộc để cho phép thiết lập sự suy đoán về một quan hệ tặng cho (presumption of advancement)
[7]. Tuy nhiên, suy đoán tặng cho cũng có thể bị bác bỏ một khi có bằng chứng thuyết phục cho thấy, dù có quan hệ thân thuộc giữa các bên, việc chuyển giao tài sản là để phục vụ lợi ích của người chuyển giao hoặc một người khác chứ không phải người nhận tài sản.
Việc suy đoán tặng cho được áp dụng một cách phổ biến trong trường hợp các bên giao dịch là cha và con. Trong trường hợp các bên giao dịch là mẹ và con, đã từng có thời kỳ các thẩm phán
không chấp nhận suy đoán tặng cho một cách đương nhiên mà có xem xét hoàn cảnh của từng vụ[8]. Riêng trong trường hợp giao dịch giữa vợ và chồng (mở và sử dụng tài khoản ngân hàng chung; cùng nhau tạo lập tài sản để một người đứng tên hoặc hai người cùng đứng tên…), án lệ có xu hướng thừa nhận người đứng tên mà không phải là người trực tiếp tạo ra tài sản bằng công sức của mình là người nhận trust do hệ quả đối với tài sản hoặc phần tài sản đó.
Trust minh thị không thực hiện được hoặc không có điều kiện để được tiếp tục thực hiện. Một loại trust hệ quả khác hình thành từ việc thiết lập một trust minh thị, nhưng vì những lý do nhất định lại không được vận hành suôn sẻ và thất bại, trong khi người nhận trust vẫn nắm giữ tài sản thuộc trust. Tất nhiên, người này không thể trở thành chủ sở hữu theo nghĩa đầy đủ đối với tài sản. Vấn đề đặt ra là xác định địa vị pháp lý của người nhận trust trong quan hệ với tài sản như thế nào cho hợp lý. Việc thừa nhận trust do hệ quả được cho là giải pháp đối với vấn đề này.
Ví dụ 1: A lập một ngân quỹ dùng để cấp dưỡng cho X và giao quỹ này giao cho B quản lý theo hợp đồng tín thác. Sau một thời gian vận hành, X chết trong khi quỹ vẫn còn một khoản tiền chưa sử dụng hết. Khi đó, vấn đề đặt ra là B quản lý số tiền còn lại trong quỹ vì mục đích gì? Một cách hợp lý, A có quyền đòi lại số tiền đã được chuyển giao cho B mà không được sử dụng cho mục đích đã được xác định. Tuy nhiên, nếu A không đòi lại số tiền, đồng thời cũng không có ý định tặng cho B, thì B chỉ có thể quản lý số tiền đó như là người nhận tín thác và người thụ hưởng bây giờ là A.
Ví dụ 2
[9]: Công ty Rolls Razor vay của công ty
Quistclose một số tiền để trả cổ tức cho cổ đông. Theo hợp đồng vay, số tiền phải được dùng để trả cổ tức trước ngày 24/7. Số tiền vay được chuyển vào tài khoản của Rolls Razor tại ngân hàng Barclays. Tuy nhiên, trước thời hạn trả cổ tức, Rolls Razor bị tuyên bố phá sản và phải tiến hành thanh lý tài sản. Vấn đề đặt ra là liệu các chủ nợ của Rolls Razor có quyền coi số tiền này là tài sản của Rolls Razor để đưa vào khối tài sản thanh lý hay không.
Trong vụ việc này, theo một ý kiến
[10], cần ghi nhận sự tồn tại của hai quan hệ tín thác kế tiếp nhau: một quan hệ tín thác sơ cấp với người lập trust là công ty cho vay và người nhận trust là công ty vay, có trách nhiệm dùng số tiền gửi vào tài khoản để chi trả cổ tức cho cổ đông, là những người thụ hưởng; một quan hệ tín thác thứ cấp hình thành theo logic của tình hình, do sự thất bại của quan hệ tín thác sơ cấp: người nhận trust là ngân hàng, còn người thụ hưởng bây giờ là bên cho vay trước đây. Nếu ý kiến này được chấp nhận, thì trust sơ cấp được coi là trust minh thị; còn trust thứ cấp là trust hệ quả của trust minh thị được lập một cách hợp lệ, nhưng cuối cùng không được vận hành vì người nhận trust không còn hiện hữu. Tuy nhiên, một ý kiến khác không cho rằng trong trường hợp này có thể lập trust thứ cấp, bởi ngân hàng giữ tiền với tư cách người nhận trust vì mục đích gì thì không thể làm rõ. Giải pháp duy nhất hợp lý là để cho công ty cho vay rút lại số tiền gửi vào tài khoản trước đây và khôi phục đầy đủ quyền sở hữu đối với số tiền này. Chừng nào ngân hàng còn giữ số tiền này, ngân hàng được coi là người nhận tín thác theo một quan hệ tín thác do hệ quả. Mặc dù còn tồn tại tranh luận về cách lý giải, án lệ cuối cùng đã thừa nhận trust thứ cấp đã được thiết lập trong trường hợp này và trở thành án lệ nguyên tắc, gọi là nguyên tắc Quistclose.
2.3. Điều kiện xác lập quan hệ tín thác do hệ quả
2.3.1. Điều kiện chung đối với việc xác lập quan hệ tín thác theo luật.
Có đủ các yếu tố của quan hệ tín thác. Quan hệ tín thác được xác lập theo luật, như đã biết, thuộc một trong hai nhóm: quan hệ tín thác do hệ quả và quan hệ tín thác do cấu trúc. Tuy nhiên, các điều kiện cụ thể để xác lập quan hệ này không mang tính cố định hay đóng khung, giới hạn, mà có thể được điều chỉnh, bổ sung, mở rộng tùy theo sự nhận định, đánh giá của thẩm phán trong quá trình giải quyết các yêu cầu của bên đi kiện. Tư tưởng chủ đạo là quan hệ tín thác theo luật có thể được xác lập một khi người nắm giữ tài sản ở trong tình trạng không thể được thừa nhận là chủ sở hữu đầy đủ đối với tài sản. Việc người này nắm giữ tài sản có thể từ nguồn gốc hợp lệ, như trường hợp vợ, chồng quản lý tài sản của nhau, hoặc bất hợp lệ như trường hợp người được chuyển tiền nhầm vào tài khoản. Mặt khác, người chuyển giao tài sản không có ý định tặng cho tài sản, nhưng cũng không có ý định đòi lại tài sản. Hậu quả là người nắm giữ tài sản chỉ có thể được thừa nhận có quyền sở hữu theo luật để quản lý tài sản liên quan nhằm thực hiện mục tiêu nào đó được xác định tùy trường hợp, phục vụ cho lợi ích của một người nào đó được xác định.
Có đơn kiện của người có lợi ích liên quan. Người có lợi ích liên quan có thể là người trực tiếp thụ hưởng lợi ích. Ví dụ điển hình là trường hợp một người chuyển tiền nhầm vào tài khoản của người khác và yêu cầu Tòa án tuyên bố người nhận tiền là người nhận tín thác. Trong một số trường hợp, người khởi kiện cũng có thể là người đại diện của người được cho là có lợi ích liên quan. Ví dụ điển hình là người giám hộ của người hưởng lợi ích là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi. Ngoài ra, cũng có trường hợp người có lợi ích liên quan là Nhà nước, do tài sản bị chiếm giữ là tài sản công, bên khởi kiện phải là đại diện cơ quan công tố, kiện nhân danh Nhà nước.
Có bản án của Tòa án. Khi có đơn kiện yêu cầu lập trust, Tòa án thụ lý và xem xét các chứng cứ liên quan. Việc xem xét, đánh giá chứng cứ được thực hiện theo thủ tục chung về tố tụng. Và có một điều chắc chắn là không thể có trust do hệ quả hoặc trust do cấu trúc nếu không có bản án của Tòa án xác nhận quan hệ trust giữa các bên liên quan.
2.3.2. Điều kiện riêng đối với trust do hệ quả.
Nhận diện.Một cách tổng quát, có thể định nghĩa quan hệ tín thác do hệ quả (resulting trust) là quan hệ tín thác được xác lập một cách tự động và đương nhiên do hệ quả tất yếu của một hành vi hoặc một sự kiện. Ở góc độ pháp luật tài sản, quan hệ tín thác do hệ quả được hiểu là quan hệ hình thành từ việc chuyển giao tài sản cho một người và khiến người nhận tài sản trở thành người nhận tín thác đối với tài sản đó ngay cả trong trường hợp không muốn đảm nhận vai trò này.
Trong quan hệ tín thác do hệ quả, người nhận tín thác bị buộc phải chấp nhận vai trò này mà không được lựa chọn. Tuy nhiên, quan hệ chỉ được xác lập và vận hành một khi người thụ hưởng chấp nhận.
Các tình huống dẫn đến sự hình thành trust do hệ quả rất đa dạng. Tuy nhiên, như đã phân tích, có thể quy về hai nhóm tình huống cơ bản. Trong nhóm thứ nhất, người nhận trust không thành công (thất bại) trong việc xây dựng hình ảnh trust cho việc chuyển giao tài sản cho người nhận trust. Ở đây, việc chuyển giao tài sản là có thật và hợp lệ, nhưng bản chất của việc chuyển giao bị làm sai lệch và phải dùng trust để chấn chỉnh. Trong nhóm thứ hai, trust không được tuyên bố, nhưng tài sản được chuyển giao từ X sang Y hoặc X bỏ tiền ra mua tài sản nhưng người đứng tên để mua là Y. Học thuyết và án lệ đều thừa nhận rằng, quan hệ tín thác do hệ quả xác lập đối với tài sản mua dưới tên của một người khác kể từ ngày bên mua (đứng tên hộ) được thừa nhận có quyền sở hữu đối với tài sản. Điểm chung của tất cả các quan hệ tín thác theo hệ quả được thừa nhận, như đã nêu, là tài sản được chuyển giao cho người nhận tín thác một cách hợp lệ. Tuy nhiên, người nhận tín thác trong các trường hợp này thường không tự nguyện vào vai nhận tín thác hoặc ít nhất là không tự nguyện vào vai nhận tín thác để phục vụ cho một người thụ hưởng không được chờ đợi.
3. Vận dụng trust do hệ quả vào Việt Nam
Trong khuôn khổ pháp luật thực định, việc vận dụng trust vào Việt Nam gặp không ít trở ngại, chủ yếu do sự không tương thích giữa các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tài sản Việt Nam và các nguyên tắc cơ bản chi phối sự vận hành của trust. Một trong những trở ngại đáng chú ý là nguyên tắc mỗi chủ thể có một và chỉ một sản nghiệp. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể cân nhắc khả năng áp dụng trust do hệ quả để xử lý một số trường hợp đặc thù được ghi nhận trong thực tiễn, vốn có những nét tương đồng như những trường hợp trust do hệ quả được áp dụng trong luật Anh - Mỹ. Cụ thể, trust do hệ quả có thể được vận dụng để xử lý một số trường hợp tranh chấp đặc thù được ghi nhận trong thực tiễn Việt Nam như đứng tên hộ để mua bất động sản và quản lý, khai thác tài sản của vợ chồng.
3.1. Đứng tên hộ để mua bất động sản
Việc một người nhờ người khác đứng ra mua một bất động sản có thể được ghi nhận trong nhiều hoàn cảnh khác nhau trong khuôn khổ pháp luật hiện hành: do người có tiền là người nước ngoài, không thể tự mình đứng ra nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên phải nhờ người khác đứng tên thay; hoặc do doanh nhân nông nghiệp muốn tích tụ ruộng đất để làm ăn lớn trong điều kiện bị trói buộc bởi quy định về hạn điền.
Việc nhờ đứng tên hộ không phải là hành vi trái luật. Tuy nhiên, trong trường hợp người đứng tên hộ muốn chiếm đoạt tài sản thì người nhờ đứng tên hộ có thể gặp khó khăn trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình. Trong trường hợp người đứng tên hộ tự ý chuyển nhượng tài sản mà mình đứng tên hộ và thu được một số tiền, thì việc phân chia số tiền này được giải quyết theo một án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
[11].
Trong những trường hợp đứng tên hộ, việc vận dụng mô hình trust do cấu trúc có thể được xem là một hướng tiếp cận hợp lý hơn. Theo đó, tài sản được tạo lập là tài sản thuộc trust; người đứng tên là trustee và có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu, đồng thời có trách nhiệm quản lý tài sản vì lợi ích của người nhờ đứng tên hộ. Người quản lý tài sản có thể được nhận một khoản thù lao cho công việc của mình và mức thù lao do người lập trust quyết định hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên. Trong trường hợp không có thỏa thuận mà người lập trust yêu cầu người nhận trust giao trả tài sản nhưng người này không đồng ý với lý do chưa nhận được thù lao thỏa đáng, thì mức thù lao do Tòa án quyết định.
3.2. Định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Dùng tài sản chung để tu bổ tài sản riêng. Thực tiễn ghi nhận không ít trường hợp vợ hoặc chồng tu bổ tài sản riêng bằng tiền chung của vợ chồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản được tu bổ vẫn là tài sản riêng. Tuy nhiên, công sức đóng góp của khối tài sản chung được ghi nhận và người không phải là chủ sở hữu có quyền đối với một nửa giá trị phần công sức đóng góp đó khi thanh toán chế độ tài sản vợ chồng. Có thể sử dụng chế định trust để xử lý trường hợp này. Theo đó, đối với phần giá trị tài sản được hình thành từ tài sản chung mà về nguyên tắc thuộc sở hữu của người còn lại, người đứng tên sở hữu tài sản riêng có thể được xem là người nhận tín thác. Người này quản lý phần giá trị đó không phải với tư cách chủ sở hữu trọn vẹn, mà vì lợi ích của người kia, là người có quyền lợi tiềm năng đối với phần giá trị tài sản đã đóng góp.
Đưa tài sản vào kinh doanh. Tình huống dự kiến là vợ hoặc chồng thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở khai thác một số tài sản chung, trong khi người còn lại thực hiện hoạt động nghề nghiệp khác. Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản”.
Trên thực tế, quy định này hầu như không được áp dụng, đặc biệt về phần liên quan đến thỏa thuận giữa vợ và chồng. Lý do chính có lẽ do tính hiệu quả không cao. Cụ thể, hiện chưa có hệ thống đăng ký cho phép công khai thỏa thuận giữa vợ, chồng, do đó không thể có quy định thừa nhận hiệu lực đối kháng của thỏa thuận này với người thứ ba, thỏa thuận chỉ có ý nghĩa đối với vợ, chồng.
Trong khi đó, điều cần thiết, một khi tài sản chung được một bên đưa vào hoạt động kinh doanh, người trực tiếp quản lý, khai thác tài sản cần được thừa nhận như một chủ thể có toàn quyền đối với tài sản, bao gồm quyền định đoạt. Về phần mình, chủ nợ của người này cũng cần có khả năng xử lý tài sản kinh doanh theo cơ chế áp dụng đối với tài sản riêng, mà không bị cản trở bởi quyền lợi của người vợ hoặc chồng còn lại. Có thể đạt được tất cả những điều đó bằng cách lập trust đối với tài sản. Cụ thể, vợ, chồng thỏa thuận về việc người kinh doanh có quyền sở hữu riêng đối với tài sản kinh doanh vốn thuộc khối tài sản chung của vợ, chồng. Việc thừa nhận tài sản kinh doanh thuộc sở hữu riêng cho phép vợ hoặc chồng quản lý, khai thác tài sản với quyền hạn rộng rãi được thừa nhận cho chủ sở hữu. Các chủ nợ trong hoạt động kinh doanh của người này cũng không gặp khó khăn, trở ngại khi tiến hành xử lý tài sản trong khuôn khổ thực hiện quyền đòi nợ.
Tất nhiên, để thỏa thuận này có hiệu lực đối kháng với người thứ ba, điều cần thiết là thỏa thuận phải được công bố bằng cách đăng ký tại một cơ quan cung ứng dịch vụ công, như cơ quan hộ tịch, cơ quan đăng ký tài sản./.
[2] Nguyên tắc ba yếu tố được xác định (three certainties) trở thành nguyên tắc nền tảng trong hệ thống quy định về điều kiện xác lập quan hệ trust do hiệu lực của Án lệ Knight chống Knight thiết lập năm 1840. Xem thêm tại:
https://en.wikipedia.org/wiki/Knight_v_Knight, truy cập ngày 10/02/2024.
[3] D. Waters,
The Doctrine of Resulting Trust in Common Law Canada,
McGill Law Journal, quyển 16, số 2, 1970, tr. 189 - 261.
[4] D. Waters,
The Doctrine of Resulting Trust in Common Law Canada,
McGill Law Journal, quyển
16, số 2, 1970, tr. 189 - 261.
[5] R. Chambers,
The Presumption of Resulting Trust: Nishi v. Rascal Tracking Ltd, Alberta Law Review, quyển 51, số 3, 2014, tr. 667 - 676.
[6] D. Waters,
The Doctrine of Resulting Trust in Common Law Canada,
McGill Law Journal, quyển
16, số 2, 1970, tr. 189 - 261.
[7] Về suy đoán tặng cho xem: Catherine Mc Millan,
Illegality, Implied Trust and Presumption of Advancement, Cambridge Law Journal, quyển 52, số 3, 9/1993, tr. 394 - 396; Emitis Mosali
, An Exercise of Restraint: Amendment of Presumption of Advancement, Trusts and Trustees, quyển
29, số 4, 2023, tr. 299 - 307.
[9] Ph. Pettit,
Equity and the Law of Trust, Oxford University Press, London, 2009, tr. 176 - 179.
[10] Ph. Pettit,
Equity and the Law of Trust, Oxford University Press, London, 2009, tr. 177.
[11] Xem Án lệ số 02/2016/AL, được công bố tại Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.