Định hướng phát triển nông nghiệp chất lượng cao và bền vững trong bối cảnh mới: Từ quan điểm của Đảng đến thực tiễn chính sách, pháp luật
08/07/2026
Tóm tắt: Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế hội nhập, phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững đã trở thành yêu cầu khách quan và là nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích quá trình hiện thực hóa các định hướng lớn của Đảng vào thực tiễn chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề này. Qua việc đối chiếu giữa quan điểm và thực tiễn chính sách, pháp luật, bài viết khẳng định nông nghiệp đã và đang thực hiện tốt vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực mà còn nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật; nông nghiệp chất lượng cao; phát triển bền vững; bối cảnh mới.
Abstract: In the new era, the era of national rise, under the impact of the Fourth Industrial Revolution and global integration trends, developing high-quality and sustainable agriculture has emerged as an objective necessity and a strategic imperative for Vietnam. This article focuses on analyzing the process of translating the Party’s major orientations into the State’s practical policies and legislation. By comparing viewpoints with policy and legal practices, the article affirms that agriculture has been and continues to fulfill its role as the 'pillar' of the economy, not only ensuring food security but also enhancing productivity and competitiveness of Vietnamese agricultural products, meeting green standards, and satisfying the requirements of sustainable development in the new context.
Keywords: Perspectives of the Party; policy and legislation; high-quality agriculture; sustainable development; new context.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Mở đầu
Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật toàn diện về phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững gắn với chiến lược giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong bối cảnh mới. Nội dung quyết định trong tổ chức thực hiện là phải thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò chủ thể của chính nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp.
Quá trình đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo ra luồng sinh khí mới, làm bật dậy những tiềm năng to lớn trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững nằm trong xu thế đổi mới ấy, là phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững nằm trong tổng thể chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước của Đảng và Nhà nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành hệ thống quan điểm, chủ trương toàn diện, phù hợp; Nhà nước cũng đã có những chiến lược, chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững. Từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, sản xuất nông nghiệp nước ta có bước phát triển mạnh mẽ: Chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tiếp tục là trụ đỡ của nền kinh tế; kinh tế nông thôn tiếp tục phát triển; chương trình xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, hoàn thành sớm hơn gần hai năm so với kế hoạch đề ra, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và đời sống nông dân
[1]. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới với yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập sâu rộng, quá trình phát triển nông nghiệp chất lượng cao vẫn bộc lộ không ít hạn chế, đặc biệt là khoảng cách giữa định hướng, chủ trương của Đảng với việc thể chế hóa và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá toàn diện nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh hiện nay.
2. Quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp chất lượng cao theo hướng bền vững
Quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao và bền vững là hệ thống các định hướng toàn diện, gắn kết chặt chẽ với chiến lược giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong bối cảnh mới. Hệ thống quan điểm này đã được hình thành, bổ sung và định hình ngày càng rõ nét qua các giai đoạn của tiến trình đổi mới. Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XIV (năm 2026), diện mạo của một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững đã được Đảng cụ thể hóa bằng những chủ trương và giải pháp phù hợp, thích ứng linh hoạt với tình hình thực tiễn cũng như đặc thù của nền nông nghiệp Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm đó, những nội dung cốt lõi được thể hiện qua các phương diện sau:
Một là, về bản chất, phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững chính là sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tư duy phát triển nông nghiệp
Theo quan điểm của Đảng, nội hàm cốt lõi của quá trình này chính là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” lấy sản lượng làm mục tiêu sang “tư duy kinh tế nông nghiệp” thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Mô hình mới dựa trên nền tảng sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn kết chặt chẽ với các liên kết đa bên, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, gia tăng giá trị nội địa và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong nhiều thập kỷ, chúng ta phát triển nông nghiệp chủ yếu chú trọng lấy sản lượng làm mục tiêu, tập trung mọi biện pháp nhằm gia tăng số lượng để nằm trong nhóm đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu nông sản; trong khi đó, chất lượng và giá trị gia tăng chưa được quan tâm đúng mức. Trước đòi hỏi của tình hình mới, từ Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X và đặc biệt, đến Đại hội XIII, Đảng đã xác định rõ yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng hiện đại. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV kế thừa và làm sâu sắc hơn định hướng này, nhấn mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, hiện đại, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nông sản. Ngay từ Đại hội XI, Đảng đã chỉ rõ:
“Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững”; “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”[2]. Đến Đại hội XII, quan điểm này được mở rộng hơn:
“Bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững”[3]. Kế thừa và phát triển các giai đoạn trước, Đại hội XIV, Đảng đã xác lập chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn là những định hướng chiến lược quan trọng của mô hình tăng trưởng mới: “
Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiếp tục phát huy vai trò “trụ đỡ” trong nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”[4]. Có thể thấy, chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao và bền vững phản ánh sâu sắc sự đổi mới tư duy của Đảng đối với nông nghiệp Việt Nam. Sự đổi mới này được thể hiện qua ba bước chuyển đổi mang tính nền tảng:
Thứ nhất, chuyển đổi tư duy từ thuần túy "sản xuất nông nghiệp" sang phát triển "kinh tế nông nghiệp";
thứ hai, chuyển từ mô hình "chuỗi liên kết cung ứng nông sản" sang tư duy "liên kết giá trị ngành hàng
";thứ ba, chuyển từ nền nông nghiệp sản lượng cao sang tư duy nông nghiệp công nghệ cao, chất lượng, giá trị cao và sinh thái.
Ba thành tố này (kinh tế nông nghiệp, liên kết giá trị ngành hàng, nông nghiệp công nghệ cao và sinh thái) chính là những trụ cột cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững. Gắn liền với lộ trình đó, Đảng xác định cần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp. Đây là sự thay đổi toàn diện: từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành; từ tạo lập đơn giá trị sang tích hợp đa giá trị; từ việc chỉ tập trung hỗ trợ các yếu tố đầu vào sang kết hợp hài hòa giữa hỗ trợ đầu vào với chú trọng kết nối, mở rộng thị trường đầu ra. Đặc biệt, chiến lược phát triển thị trường phải bảo đảm tính cân bằng giữa việc vươn tầm xuất khẩu quốc tế đi đôi với việc coi trọng và khai thác hiệu quả thị trường nội địa.
Cùng với sự chuyển đổi sang tư duy kinh tế và quản trị kinh doanh nông nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp được Đảng xác định đóng vai trò là “bà đỡ” cho sự phát triển của toàn ngành. Theo quan điểm của Đảng, việc xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật tương thích là điều kiện tiên quyết để hỗ trợ các chủ thể này. Trong đó, tích tụ và tập trung đất đai; đẩy mạnh đầu tư khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiến bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng và giá trị nông sản gắn với thị trường trong nước và quốc tế được xem là những vấn đề mấu chốt. Giải quyết có hiệu quả những nội dung này chính là chìa khóa để hiện thực hóa tổng thể chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao và bền vững trong giai đoạn mới.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đảng đã xác định các định hướng chiến lược sau:
Thứ nhất, tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.
Xuyên suốt quá trình đổi mới, Đảng luôn nhấn mạnh quan điểm:
“Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được”[5]; đồng thời phải
“phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững đòi hỏi phải tập trung xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn với hiệu quả kinh tế cao. Ngay từ Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Khóa X, Đảng đã yêu cầu phải khai thác tối đa
“lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao”[6]. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, tư duy này tiếp tục được nhấn mạnh:
“Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”[7]. Kế thừa các quan điểm đó, Đại hội XIVtiếp tục khẳng định rõ yêu cầu:“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả”[8].
Điều này cho thấy, tư duy phát triển nông nghiệp không ngừng được nâng cao, từ chú trọng quy mô và sản lượng sang phát triển toàn diện, bền vững và dựa trên giá trị.
Thứ hai, phát triển nông nghiệp theo chiều sâu trên cơ sở ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới, tiên tiến, gắn với nhu cầu thị trường, kinh tế xanh và bảo vệ môi trường.
Theo quan điểm của Đảng, phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao và bền vững thực chất là quá trình chuyển dịch sang phát triển theo chiều sâu. Trong đó, việc tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với nhu cầu thị trường được xác định là khâu đột phá chiến lược.
Tính bền vững của nền nông nghiệp chất lượng cao đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai: đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm của thế hệ hôm nay nhưng không làm tổn hại đến nguồn lực và khả năng đáp ứng cho các thế hệ mai sau. Điều này chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo tồn hệ sinh thái. Tức là, phát triển nông nghiệp phải: “
Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh”
[9]; đồng thời
“bảo đảm chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”
[10].
Phát triển nông nghiệp chất lượng cao và phát triển nông nghiệp bền vững có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng trong tổng thể chiến lược phát triển; đồng thời nằm trong chỉnh thể thống nhất của việc giải quyết vấn đề “Tam nông” nhằm hướng tới mục tiêu: nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nông thôn văn minh, hiện đại. Kết luận số 54-KL/TW ngày 07/8/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã nhấn mạnh yêu cầu:
“Phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao”;
“bảo đảm hiệu quả cả về kinh tế, xã hội, môi trường, phát triển bền vững”. Đại hội XIII, Đảng khẳng định những định hướng mang tính nền tảng: Thúc đẩy
“phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao”;
“nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”,
“xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị”
[11]. Tiếp nối tinh thần đó, Đại hội XIV, Đảng nhấn mạnh: “…
phát triển các hình thức tổ chức và liên kết sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và nông thôn; mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, xây dựng các chuỗi sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm”[12].
Những định hướng nhất quán và xuyên suốt này chính là kim chỉ nam cho việc đề ra các chính sách, đồng thời xác định những nội dung, giải pháp tổ chức thực hiện trong thực tiễn.
Hai là, cơ cấu lại nông nghiệp; ứng dụng khoa học, công nghệ; tích tụ, tập trung ruộng đất và thu hút đầu tư là những nội dung, giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững
Theo quan điểm của Đảng, để phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao và bền vững, cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả tổng thể các chủ trương và giải pháp trong một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, các giải pháp trọng tâm bao gồm:
i) Cơ cấu lại nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Về vấn đề này, Đại hội XII của Đảng xác định rõ mục tiêu:
“Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất”
[13]. Đại hội XIII, Đảng tiếp tục định hướng rõ:
“Chú trọng phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương”[14]. Tại Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả”[15].
Điều này không chỉ thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu mà còn là lời giải cho bài toán nâng cao giá trị gia tăng của nông sản Việt Nam.
ii) Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới, tiến bộ. Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới được coi là vấn đề then chốt và là động lực chính của sự phát triển nông nghiệp chất lượng cao. Không thể có một nền nông nghiệp hiện đại nếu việc ứng dụng tiến bộ khoa học không được coi trọng đúng mức. Theo quan điểm của Đảng, ứng dụng công nghệ cao phải kết hợp với những công nghệ tiên tiến để tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của thị trường và bảo đảm sự phát triển bền vững. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu:
“Thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”[16]. Tại Đại hội lần thứ XIV, quan điểm này được nâng tầm khi Đảng chỉ rõ phải:
“Đẩy mạnh ứng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và giá trị tăng cao, gắn với chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sản phẩm”[17].
Thực hiện chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút đầu tư. Không tập trung ruộng đất, không thu hút được các nguồn lực đầu tư cho sự phát triển cả về nguồn vốn, khoa học công nghệ và nguồn lực con người, thì không thể thực hiện được phát triển nông nghiệp hàng hoá tập trung lớn gắn với nhu cầu thị trường, không thể hình thành được các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao. Nhận thức rõ vấn đề, Đảng đặc biệt nhấn mạnh phải: “
Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp; từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao”
[18]. Đồng thời, xác định rõ yêu cầu tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa cho từng cây, con, từng vùng, nhằm mục tiêu nâng tỷ trọng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng hóa xuất khẩu.
Ba là, phát huy vai trò chủ thể của nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp trong phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững
Phát huy vai trò của các chủ thể, đặc biệt là vai trò trung tâm của nông dân và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nông nghiệp, vừa là quan điểm cốt lõi, vừa là giải pháp then chốt. Hiện nay, nông dân Việt Nam chiếm khoảng 70% dân số cả nước với khoảng 8 triệu hộ, trong đó có tới 3,5 triệu hộ sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp
[19]. Đây là lực lượng hùng hậu, là chủ thể trực tiếp và không thể thay thế trong tiến trình hiện đại hóa nông nghiệp. Thực tế cho thấy, không thể phát triển nông nghiệp chất lượng cao nếu thiếu sự chủ động và khát vọng vươn lên của chính người nông dân. Do đó, cần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần làm giàu, đồng thời ban hành những cơ chế, chính sách thiết thực để hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp cùng đồng hành phát triển. Theo quan điểm của Đảng, sự nghiệp phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên ba trụ cột: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Trong mối quan hệ này,
nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp là trung tâm, là chủ thể; nông thôn là nền tảng; và nông nghiệplà động lực. Mọi hoạt động phát triển nông nghiệp phải xoay quanh người nông dân, nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chất lượng sống cho cư dân nông thôn. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong việc
“gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị”[20]. Để thực hiện được điều này, cần vận hành hiệu quả mối quan hệ liên kết
"sáu nhà" (Nhà nông - Nhà nước - Nhà doanh nghiệp - Nhà ngân hàng - Nhà khoa học - Nhà phân phối). Đây là mô hình cộng sinh tất yếu, giúp nông dân tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ và thị trường, từ đó khẳng định vị thế chủ thể trong nền nông nghiệp chất lượng cao.
Bên cạnh vai trò của nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp được xác định là "đầu tàu" đưa khoa học - công nghệ và quản trị hiện đại vào sản xuất. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ cần:
“Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu”[21]. Tại Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định: “
Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam văn minh, phát triển toàn diện, có ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên; phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới”
[22].
Sự cộng hưởng giữa sức mạnh của doanh nghiệp và kinh nghiệm, sự cần cù của nông dân, dưới sự điều tiết của Nhà nước bằng luật pháp và chính sách, sẽ tạo ra xung lực mới để nền nông nghiệp Việt Nam bứt phá bền vững trong kỷ nguyên mới.
Tóm lại, hệ thống các quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững qua các kỳ Đại hội, đặc biệt là Đại hội lần thứ XIV của Đảng, với định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đai, nông dân văn minh, đã thể hiện một bước tiến dài về tư duy lý luận và thực tiễn. Đó không chỉ là sự thay đổi về quy mô sản xuất hay ứng dụng công nghệ, mà là một cuộc cách mạng trong phương thức tiếp cận: Chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Sự thống nhất trong các quan điểm từ việc xác định nông nghiệp là lợi thế quốc gia, lấy người nông dân làm trung tâm, đến việc coi khoa học - công nghệ là khâu đột phá, đã tạo ra một nền tảng tư tưởng vững chắc. Những quan điểm này không chỉ định hướng cho sự phát triển của ngành nông nghiệp trong ngắn hạn mà còn là kim chỉ nam để Nhà nước thể chế hóa thành các chính sách, pháp luật phù hợp, nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh trong kỷ nguyên mới.
3. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững
Quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật, đồng thời xây dựng các cơ chế nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết cho phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững. Chính sách, pháp luật phát triển nông nghiệp bao gồm hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp được Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các quan hệ sản xuất và hoạt động nông nghiệp. Tất cả tạo thành một hành lang pháp lý toàn diện để điều tiết, định hướng các nguồn lực xã hội vào việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, tăng trưởng xanh và bền vững. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực này là một chỉnh thể thống nhất, tập trung vào những hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, chính sách, pháp luật về đất đai hướng tới sử dụng đất bền vững, tập trung ruộng đất, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp chất lượng cao và bền vững.
Chính sách, pháp luật về đất đai là cơ sở, nền tảng và là yếu tố quyết định hàng đầu cho phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững. Trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, việc tạo hành lang pháp lý để nông dân và doanh nghiệp tiếp cận đất đai thuận lợi là yêu cầu cấp thiết. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020. Bên cạnh đó, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 2013 với nhiều điểm đột phá tại thời điểm đó. Luật đã nâng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu tích tụ, tập trung đất đai. Luật cũng cho phép các hộ gia đình, cá nhân tích tụ đất đai với diện tích lớn hơn (không quá 10 lần hạn mức giao đất). Mặc dù còn những hạn chế về khả năng tích tụ quy mô lớn, nhưng Luật Đất đai năm 2013 đã tạo cơ sở pháp lý thiết yếu để phát triển thị trường đất đai, bảo đảm quyền lợi và sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực đất lực đất đai của cư dân nông thôn.
Tiếp nối đà đổi mới, Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt "Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" đã thể chế hóa sâu sắc quan điểm của Đảng. Chiến lược xác định mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiện đại, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao, bảo đảm an ninh lương thực và ứng phó với biến đổi khí hậu. Về khía cạnh đất đai, Quyết định này nêu rõ yêu cầu phát triển thị trường quyền sử dụng đất như một loại thị trường quyền tài sản, mở rộng đối tượng nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp nhằm hướng tới quy mô sản xuất lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp chất lượng cao trong tình hình mới.Đặc biệt, sự ra đời của Luật Đất đai năm 2024 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về nông nghiệp chất lượng cao. Luật đã bãi bỏ quy định về khung giá đất, thay bằng bảng giá đất hằng năm sát với giá thị trường; đồng thời quy định thông thoáng hơn về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất lúa, tạo điều kiện cho nông nghiệp đa giá trị. Điểm nhấn quan trọng là Luật đã mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa cho cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp và tổ chức kinh tế, từ đó khơi thông nguồn lực đầu tư từ các doanh nghiệp công nghệ cao vào khu vực nông thôn.
Thứ hai, chính sách, pháp luật về ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững.
Khoa học, kỹ thuật và công nghệ ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố chủ chốt giúp tăng năng suất, giảm giá thành và nâng cao giá trị gia tăng của nông sản. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều chuyên gia kinh tế đã nhận định: Nếu thương mại là đôi chân đưa nông sản Việt Nam tiến xa trên thị trường thế giới, thì khoa học công nghệ chính là xương sống bảo đảm cho sự phát triển vững chắc và bền vững của ngành nông nghiệp.Thấy rõ tầm quan trọng đó, quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn 2008 - 2018, “Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan xây dựng và trình Quốc hội ban hành 04 Luật, trình Chính phủ 03 Nghị định, 17 Quyết định về Chương trình, Đề án; Bộ đã ban hành 28 Thông tư hướng dẫn thực hiện các hoạt động Khoa học và Công nghệ liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
[23]. Hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ
trong phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững hiện nay bao gồm 08 nhóm cơ bản: 1) Chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng và sử dụng đất đai cho nghiên cứu;
2) Chính sách hỗ trợ liên kết thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ;
3) Chính sách đặc thù đối với nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao;
4) Chính sách hỗ trợ hình thành các tổ chức khoa học công nghệ chuyên nghiệp;
5) Chính sách hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; 6
) Chính sách đầu tư phát triển tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia;
7) Chính sách ưu đãi doanh nghiệp khoa học công nghệ;
8) Chính sách phát triển thị trường khoa học công nghệ.
Các văn bản quy phạm pháp luật trọng tâm thể hiện rõ định hướng này bao gồm: Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025; Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012 về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 về việc phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển; và Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN ngày 14/03/2017 về Tiêu chí xác định chương trình, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, danh mục công nghệ cao ứng dụng trong nông nghiệp.
Những chính sách này không chỉ đẩy mạnh việc ứng dụng các thành tựu mới mà còn khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào đầu tư nghiên cứu, phát triển thị trường khoa học công nghệ và đặc biệt là thúc đẩy công nghệ số trong nông nghiệp. Toàn bộ hệ thống chính sách, pháp luật này đã và đang tạo ra động lực mạnh mẽ, hình thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững tại Việt Nam.
Thứ ba, chính sách tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh nông sản.
Chính sách tái cơ cấu nông nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành các chính sách nhằm tái thiết lập hệ thống sản xuất nông nghiệp phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Định hướng trọng tâm là chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng, lấy số lượng làm mục tiêu sang phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng, hiệu quả, giá trị và lợi nhuận làm thước đo; bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và an sinh xã hội.
Để cụ thể hóa Kết luận số 54-KL/TW ngày 07/8/2019 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 - 2025 tại Quyết định số 255/QĐ-TTg. Quyết định này xác định rõ mục tiêu: Tiếp tục cơ cấu lại ngành theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh; đồng thời đẩy mạnh nông nghiệp hiện đại gắn với công nghiệp chế biến, thích ứng với biến đổi khí hậu và kết nối sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong giai đoạn này, Nhà nước ưu tiên phát triển các mô hình nông nghiệp tiên tiến như: Nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, nông nghiệp giảm phát thải và thông minh. Nhiều mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới được khuyến khích triển khai như: “Cánh đồng mẫu lớn”, “Chuỗi sản xuất - chế biến - phân phối khép kín”, và nhất là cơ chế nông dân góp cổ phần với doanh nghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất. Đặc biệt, Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 về Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là văn bản pháp lý trực tiếp hiện thực hóa tư duy đổi mới của Đại hội XIII. Chiến lược khẳng định: “Nông nghiệp là lợi thế, nền tảng bền vững của quốc gia”. Điểm đột phá của Chiến lược chính là sự chuyển dịch mạnh mẽ: Từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, tích hợp các giá trị văn hóa, xã hội và môi trường vào từng sản phẩm.
Hệ thống giải pháp trong Chiến lược tập trung vào thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và tuần hoàn, phát thải carbon thấp. Đồng thời, gắn phát triển kinh tế nông thôn với quá trình đô thị hóa, xây dựng cộng đồng vững mạnh làm nòng cốt để bảo vệ cảnh quan và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Thứ tư, chính sách, pháp luật thu hút các nguồn lực, thúc đẩy thị trường đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp chất lượng cao, bền vững.
Chính sách về lao động nông nghiệp. Đây là chính sách rất quan trọng, bao gồm: Chính sách thu hút lao động, chính sách phát triển thị trường lao động và nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, đào tạo nghề nông nghiệp. Hiện nay, Việt Nam đang thiếu lao động nông nghiệp có trình độ cao và kỹ năng chuyên nghiệp để đáp ứng nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Bên cạnh đó, năng lực về quản lý, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và tuân thủ quy trình sản xuất nông sản an toàn còn hạn chế dẫn đến giá trị gia tăng của nông sản chưa cao, gây khó khăn trong tiêu thụ, mở rộng thị trường quốc tế, do vậy, nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp là một yêu cầu rất cấp thiết. Nhận thức rõ vấn đề, quán triệt quan điểm của Đảng, Chính phủ đã ban hành Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 đề cập nhiều đột phá chính sách trong chính thức hóa lao động phi chính thức, tạo điều kiện phát triển thị trường lao động công bằng; đổi mới tổ chức nông dân và nghiệp đoàn lao động; tạo điều kiện để các hợp tác xã và tổ chức của nông dân tham gia cung cấp dịch vụ công cho thành viên, trong đó có dịch vụ tín dụng. Ngày 05/02/2021, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 176/QĐ-TTg về ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030, xác định mục tiêu chung: Tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường lao động, góp phần huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, bảo đảm kết nối thị trường lao động trong nước với thị trường lao động của các nước trong khu vực và trên thế giới.
Chính sách, pháp luật thu hút các nguồn lực, thúc đẩy thị trường và các chính sách khác về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững. Bao gồm các chính sách: thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp; hỗ trợ tài chính, tín dụng; bảo hiểm nông nghiệp; hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp; quản lý sản xuất, sử dụng đầu vào, nhất là phân bón, hướng tới sản xuất có trách nhiệm; cơ giới hóa nông nghiệp; hợp tác, liên kết, phát triển chuỗi giá trị ngành hàng, thu hút doanh nghiệp đầu tàu dẫn dắt chuỗi giá trị, liên kết với các hợp tác xã, tổ hợp tác; phát triển thị trường, xuất nhập khẩu nông sản; bảo vệ môi trường, sinh thái. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định việc đánh thuế một số sản phẩm mà quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, lưu trữ và tiêu dùng có tác hại nhất định đến môi trường, sinh thái.
Có thể khẳng định, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp thời gian qua đã tạo ra hành lang pháp lý ngày càng đồng bộ, minh bạch và hiệu quả. Trong tiến trình đó, nông dân Việt Nam không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn đóng vai trò chủ thể quyết định sự thành công của các chủ trương, chính sách. Với ý chí không cam chịu đói nghèo, vươn lên khắc phục mọi khó khăn, người nông dân đã và đang trực tiếp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại và chuyên nghiệp. Đây chính là lực lượng then chốt đưa nền nông nghiệp nước ta từ trình độ thấp, lạc hậu bước sang kỷ nguyên nông nghiệp thông minh, chất lượng cao; đồng thời đóng vai trò quyết định trong các chương trình xây dựng nông thôn mới và xóa đói, giảm nghèo. Việc thực thi hiệu quả các chính sách, pháp luật nêu trên đã giúp thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng “vừa giữ gìn bản sắc, vừa phát triển văn minh, hiện đại”, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững.
4. Kết luận và kiến nghị
Từ việc phân tích quan điểm của Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước có thể khẳng định phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững là chủ trương lớn, nhất quán trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trọng tâm của chủ trương này là chuyển đổi tư duy phát triển nông nghiệp từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách, pháp luật đã từng bước được thể chế hóa tương đối đồng bộ trên các lĩnh vực như đất đai, tái cơ cấu ngành, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và chuỗi giá trị, qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp, khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn cho thấy còn tồn tại một số hạn chế, tập trung ở các vấn đề như tích tụ, tập trung đất đai chưa hiệu quả; liên kết chuỗi giá trị thiếu bền vững; mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ chưa đồng đều; và thị trường nông sản chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách, bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, pháp luật và thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững.
Để thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao, bền vững trong thời gian tới, các tác giả đề xuất một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế pháp lý về tích tụ, tập trung đất đai theo hướng linh hoạt và thị trường hóa có kiểm soát. Bên cạnh việc triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Đất đai năm 2024, cần nghiên cứu thiết lập cơ chế “thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp” vận hành minh bạch, cho phép mở rộng đối tượng tham gia nhưng đồng thời phải có công cụ kiểm soát đầu cơ và bảo vệ quyền lợi của nông dân. Ngoài ra, nên thí điểm các mô hình “ngân hàng đất nông nghiệp” do Nhà nước hoặc tổ chức trung gian quản lý nhằm hỗ trợ tích tụ đất đai quy mô lớn.
Thứ hai, xây dựng khung pháp lý riêng cho liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp. Hiện nay, các quan hệ liên kết chủ yếu dựa vào hợp đồng dân sự thông thường, thiếu cơ chế bảo đảm thực thi. Do đó, cần nghiên cứu ban hành quy định chuyên biệt về hợp đồng liên kết sản xuất - tiêu thụ nông sản, trong đó quy định rõ trách nhiệm, cơ chế chia sẻ rủi ro và xử lý vi phạm giữa các bên, nhằm nâng cao tính ổn định và bền vững của chuỗi giá trị.
Thứ ba, đổi mới chính sách khoa học - công nghệ theo hướng “lấy doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm”. Chuyển mạnh từ cơ chế hỗ trợ dàn trải sang cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thị trường; khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu vào hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần có chính sách ưu đãi cụ thể cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp số, nông nghiệp thông minh và công nghệ chế biến sâu.
Thứ tư, phát triển hệ thống hạ tầng và logistics nông nghiệp theo hướng liên vùng và chuyên biệt hóa. Cần ưu tiên đầu tư các trung tâm logistics nông sản, hệ thống kho lạnh, chế biến gắn với vùng nguyên liệu; đồng thời xây dựng cơ chế liên kết vùng trong phát triển hạ tầng nhằm giảm chi phí lưu thông và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách thông qua cơ chế giám sát và đánh giá độc lập. Bên cạnh việc phân cấp quản lý, cần thiết lập cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả thực thi chính sách nông nghiệp trên cơ sở các chỉ tiêu cụ thể; đồng thời tăng cường vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, hiệp hội ngành hàng và người dân, nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong triển khai./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 61- 62.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 21.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.104.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.47-48.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, Phần I, tr. 40.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tr. 113.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tlđd, tr. 92.
[8]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tlđd, tr. 93.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tlđd, tr. 107.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tlđd, tr. 93.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tlđd, tr. 124.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tlđd, tr. 93.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tlđd, tr. 93.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tlđd, tr. 124.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tlđd, tr. 93.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tlđd, tr. 93.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tlđd, tr. 93.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[19] Thào Xuân Sùng,
Phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo định hướng Đại hội XIII của Đảng, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 12/03/2022.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tlđd, tr. 124-125.
[21] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tlđd, tr. 124.
[22] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tlđd, tr. 123.
[23] Nguyễn Hoàng Giang,
Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, Trang thông tin điện tử của Hội đồng Lý luận Trung ương, ngày 06/03/2022.