Bàn về việc áp dụng thời hiệu trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

27/06/2026

Tóm tắt: Thời hiệu giữ vai trò trọng yếu trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tố tụng trọng tài liên quan đến thời hiệu khởi kiện tại Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Một số vấn đề xoay quanh thời hiệu trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 được đặt ra như khả năng thống nhất áp dụng thời hiệu được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cho giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại; khả năng đặt ra quy định thời hiệu cho từng loại tranh chấp thương mại; hay khả năng các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện cho tranh chấp thương mại của mình. Trong bài viết, các tác giả đề cập và phân tích các quy định có liên quan đến vấn đề thời hiệu trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn liên quan, từ đó đề xuất hướng sửa đổi nhằm thống nhất nguyên tắc giải quyết, phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội mới của Việt Nam.
Từ khóa: Thời hiệu; trọng tài; giải quyết tranh chấp.
Abstract: Statutes of limitations play a pivotal role in the resolution of civil and commercial disputes. However, current legal provisions regarding arbitration proceedings related to the statute of limitations for lawsuits in Vietnam still contain certain limitations. Several issues surrounding the 2010 Law on Commercial Arbitration are raised, such as: the possibility of uniformly applying the statutes of limitations prescribed in the 2015 Civil Code to commercial arbitration; the feasibility of establishing specific statutes of limitations for different types of commercial disputes; and whether parties can agree to extend the statute of limitations for their commercial disputes. In this article, the authors analyze relevant provisions in the 2015 Civil Procedure Code, the 2015 Civil Code, the 2010 Law on Commercial Arbitration, and guiding documents, thereby proposing amendments to unify resolution principles in line with Vietnam’s new socio-economic context.
Keywords: Statute of limitations; arbitration; dispute resolution.
Nguôn-AI-Gemini-Bai-so-4-cua-Tap-chi-so-6.png
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Dẫn nhập
Chế định về thời hiệu là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự nói chung, đặc biệt trong hoạt động tố tụng nói riêng. Từ xa xưa, quy định về thời hiệu được xây dựng và điều chỉnh phục vụ hai mục đích có mối liên quan với nhau, ở góc độ xã hội và góc độ pháp lý. Ở góc độ xã hội, thời hiệu nhằm mục đích hướng tới sự ổn định các hoạt động giao dịch dân sự từ đó ổn định trật tự kinh tế và trật tự công. Về mặt pháp lý, nó giúp ngăn chặn các vụ kiện tụng vô thời hạn, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án do bất cập trong xác định chứng cứ của vụ kiện.
Trong pháp luật phong kiến Việt Nam, ngay từ thời Lý, thời hiệu được ghi nhận nhằm bảo vệ nông dân nghèo khỏi sự truy đòi của chủ nợ và giúp khuyến khích nông nghiệp[1]. Dưới thời nhà Lê, tranh chấp đất đai có thể xảy ra trong vòng năm đến mười năm, hay những người đưa đất không sử dụng của mình cho người khác canh tác có thể kiện đòi lại trong vòng một năm[2].Bộ luật Gia Long của triều Nguyễn có quy định thời hạn thu hồi đất đã bán nhưng chưa rõ ràng. Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1839), đã bổ sung thêm thời hiệu cho các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán đất đai[3].
Thời kỳ Pháp thuộc, Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ đều có quy định về thời hiệu, đó là “thời hiệu thụ đắc” và “thời hiệu tiêu diệt” (thời hạn người mắc nợ được thoát nợ nếu chủ nợ không đòi lại trong thời hạn pháp luật quy định).
Sang thời Việt Nam hiện đại, Bộ luật Dân sự (BLDS) qua các năm 1995, 2005, 2015 luôn có quy định về thời hiệu với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm việc hưởng các quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự và khởi kiện. Điểm tiến bộ của BLDS năm 2015 so với các BLDS trước đó là bổ sung thêm một quy định mang tính đột phá, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng: Tòa án chỉ được áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của một hoặc nhiều bên đương sự với điều kiện yêu cầu đó phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án[4]. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong các giao dịch dân sự cũng như trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án[5], từ đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Song song với sự đổi mới này, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành (BLTTDS) năm 2015 tại khoản 2 Điều 184 cũng đưa ra quy định tương tự. Cùng với đó, nhằm bảo đảm sự thống nhất, tránh sự đan xen, chồng chéo không cần thiết giữa các luật với nhau, BLTTDS năm 2015 đã không còn quy định cụ thể các vấn đề về thời hiệu như BLTTDS năm 2004 trước đó[6].
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng không chỉ điều chỉnh bởi duy nhất BLTTDS và những văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Ở đây, trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, còn tìm thấy vai trò giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại (TTTM), được điều chỉnh bởi Luật TTTM năm 2010 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Tuy nhiên, vấn đề về thời hiệu còn tồn tại một số bất cập nhất định khi xem xét trong mối tương quan giữa các văn bản luật khác nhau, dẫn đến việc áp dụng thời hiệu trong giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài còn gặp nhiều tranh luận trái chiều.
2. Quy định về thời hiệu khởi kiện
2.1. Quy định về thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự
Như đã đề cập ở trên, BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện mà giao về cho BLDS năm 2015 quy định.
Cụ thể, tại BLDS năm 2015, thời hiệu được phân thành bốn loại khác nhau: thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự[7]. Liên quan đến thời hiệu khởi kiện, quy định trong BLTTDS năm 2015 cũng thống nhất với BLDS năm 2015 khi chia thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự khác với thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự[8].
Theo quy định tại BLDS năm 2015, thời hiệu được định nghĩa “là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định”[9]. BLDS năm 2015 cũng quy định nhiều loại thời hiệu khởi kiện khác nhau cho các loại tranh chấp khác nhau, nằm rải rác trong BLDS.
Các trường hợp thời hiệu áp dụng khác bao gồm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, không áp dụng thời hiệu, và thời gian không tính vào thời hiệu cũng được quy định minh thị trong BLDS năm 2015. Trường hợp thứ nhất, dù thời hiệu khởi kiện đã hết, nhưng nếu bị đơn thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình thì thời hiệu được bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo ngày bị đơn thừa nhận[10]. Trường hợp thứ hai liên quan đến yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu bằng cách “yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản"[11]Khi quyền sở hữu được yêu cầu bảo vệ, thì thời hiệu khởi kiện không được áp dụng. Trường hợp khác là thời gian không tính vào thời hiệu khi có “trở ngại khách quan” xảy ra, khiến cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu” và “không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình"[12].
Tuy nhiên, thời hiệu không đương nhiên được áp dụng bởi Tòa án, bởi lẽ như đã đề cập ở trên, “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc[13].
Như vậy, khi hết thời hiệu khởi kiện, cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn có thể gửi đơn kiện lên Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Trong trường hợp người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu khởi kiện không yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Trường hợp người được hưởng lợi có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, thì Tòa án mới căn cứ quy định tại BLTTDS năm 2015[14] để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Có thể thấy, Tòa án không được tự ý viện dẫn lý do đã hết thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, nhằm bảo vệ gần như tuyệt đối quyền khởi kiện cho chủ thể có quyền. Nguyên tắc trên cũng được thể hiện rõ trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 (UNIDROIT 2004)[15]:
1. Việc hết thời hiệu không chấm dứt quyền.
2. Việc hết thời hiệu chỉ có hiệu lực nếu bên có nghĩa vụ viện dẫn việc hết thời hiệu như là một biện pháp tự vệ.
3. Ngay cả khi việc hết thời hiệu được nêu ra, một quyền vẫn có thể được viện dẫn đến như là một biện pháp tự vệ.
Tòa án Phúc thẩm Ontario, Canada trong án lệ Beardsley v. Ontario đã giải thích: “Việc hết thời hiệu khởi kiện không khiến nguyên nhân khởi kiện trở nên vô hiệu; đúng hơn, đó là một biện pháp tự vệ và phải được tự vệ[16]. Nói chung, theo luật của Ontario (áp dụng án lệ)[17], thời hiệu thường chỉ có xu hướng cản trở việc sử dụng các biện pháp xử lý tư pháp chứ không phải để loại bỏ quyền khởi kiện.
Một trường hợp khác liên quan đến thời hiệu thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự là khi tranh chấp phát sinh và được giải quyết tại Trọng tài thông qua một quyết định của Hội đồng trọng tài. Sau đó đương sự khởi kiện ra Tòa án do rơi vào các trường hợp như tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì thời hiệu được xác định theo quy định của pháp luật. Thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Tòa án ra quyết định thụ lý giải quyết vụ tranh chấp không tính vào thời hiệu khởi kiện[18].
2.2. Quy định về thời hiệu khởi kiện áp dụng trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Các nguyên tắc xây dựng Luật TTTM bao gồm việc bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên trong việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp, đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội, cũng như phù hợp với nhu cầu hội nhập thế giới của Việt Nam.
Luật TTTM năm 2010 áp dụng cho các tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, và tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài[19]. Như vậy, theo phạm vi tố tụng này, TTTM theo Luật TTTM năm 2010 có phạm vi thẩm quyền mở rộng hơn nhiều so với luật trước đây, từ đó cho thấy các đương sự trong các tranh chấp về dân sự theo nghĩa rộng đã có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc quyết định khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài, phù hợp với nhu cầu của mình.
Đối với thời hiệu khởi kiện, Luật TTTM năm 2010 chỉ đưa ra một quy định, đó là “trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”[20]. Quy định trên tuân theo nguyên tắc luật thủ tục (lex arbitri), giới hạn thời hiệu 02 năm cho bất kể các vụ kiện nào thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Trọng tài với nguyên nhân phát sinh tranh chấp khác nhau.
Các trường hợp thời hiệu áp dụng khác 02 năm bao gồm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, không áp dụng thời hiệu, và thời gian không tính vào thời hiệu, không được quy định cụ thể trong Luật TTTM mà áp dụng quy định chung của BLDS năm 2015[21].
Như vậy, có thể thấy rằng, thời hiệu theo Luật TTTM năm 2010 và BLDS năm 2015 có sự khác nhau nhất định. Tuy nhiên, nhìn ra thế giới, ở một số khu vực pháp lý, chẳng hạn Anh và xứ Wales, Singapore, Hồng Kông, đều có luật chung về thời hiệu một cách rõ ràng và thống nhất đề áp dụng cho cả tố tụng Tòa án và Trọng tài. Chẳng hạn, Đạo luật Thời hiệu năm 1980 (Limitation Act năm 1980) tại Anh quy định thời hiệu liên quan tới hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng “không vượt quá 06 năm kể từ ngày phát sinh nguyên nhân vụ kiện”, hay thời hiệu khởi kiện liên quan đến mặt hàng lỗi là 15 năm[22]. Qua ví dụ trên có thể thấy, Tòa án hoặc Trọng tài khi giải quyết vụ việc sẽ tuân theo luật nội dung (lex causae), tức là sẽ xét đến loại vụ việc thông qua các điều khoản trong hợp đồng để giải quyết tranh chấp, và mỗi vấn đề tranh chấp sẽ có các quy định thời hiệu liên quan.
Cũng nói thêm rằng, tại Mỹ,vấn đề về áp dụng thời hiệu trong trọng tài đang  có nhiều quan điểm trái chiều. Tại bang Connecticut, Tòa án trong vụ Skidmore, Owings and Merrill v. Connecticut General Life Insurance Co. cho rằng, việc nộp đơn yêu cầu bồi thường tại trọng tài không cấu thành một "vụ kiện" (action) theo luật thời hiệu hiện hành[23]. Điều này dẫn đến quá trình tố tụng trọng tài vẫn được tiến hành mặc dù thời hạn khởi kiện về thiết kế bị lỗi đã hết hạn 04 năm trước khi đưa ra Hội đồng trọng tài. Tại các bang khác, chẳng hạn như New York, đã ban hành các đạo luật quy định trọng tài có thể áp dụng thời hiệu, nhưng những đạo luật này không mạnh mẽ và không thể xem xét hoặc kháng cáo được[24]. Tòa án tối cao của Washington cũng đã cho rằng, các đạo luật về thời hiệu không áp dụng trong trọng tài, nhưng vào năm 2010, Washington đã ban hành một đạo luật giúp cho các quy định về thời hiệu có thể áp dụng được[25].
3. Bàn luận và đề xuất sửa đổi quy định pháp luật liên quan đến thời hiệu khởi kiện
Tố tụng trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp mang lại nhiều lợi ích cho các bên trong tranh chấp thương mại. Một trong những ưu việt của phương thức này là tiết kiệm thời gian và chi phí của các bên phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, từ các quy định pháp luật được trình bày ở trên, có một số vấn đề được đặt ra:
Thứ nhất là sự thống nhất khi áp dụng quy định về thời hiệu trong giải quyết tranh chấp giữa BLDS năm 2015 và Luật TTTM, cũng như tính khả thi của việc đặt ra quy định thời hiệu cho từng loại tranh chấp thương mại.
Các tác giả nhận thấy rằng, hiện Luật TTTM năm 2010 quy định một thời hiệu khởi kiện tại Trọng tài duy nhất cho tất cả các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài. Điều này mang đến mặt tích cực đó là rất dễ tìm thấy quy định về thời hiệu để áp dụng, tránh sự tản mạn. Tuy nhiên, mặt khác nó lại tạo ra sự không đồng nhất trong quy định về thời hiệu giữa BLDS và Luật TTTM, bởi lẽ Luật TTTM là luật hình thức còn BLDS là luật nội dung có thể được áp dụng khi Trọng tài giải quyết một vụ việc cụ thể.
Cụ thể, với phạm vi thẩm quyền mở rộng của Trọng tài theo Luật TTTM năm 2010 như đã đề cập ở phần trên, một tranh chấp về hợp đồng có thể xảy ra: (i) Giữa các bên có hoạt động thương mại với nhau, hoặc (ii) Giữa một bên có hoạt động thương mại với bên bất kỳ. Theo đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà BLDS năm 2015 hoặc Luật Thương mại năm 2005 sẽ được áp dụng để tính thời hiệu khởi kiện.
Nếu áp dụng Luật Thương mại năm 2005 (trường hợp i), thời hiệu khởi kiện là 02 năm theo Điều 319. Ở điểm này, Luật Thương mại năm 2005 và Luật TTTM năm 2010 đang tương thích với nhau về cách quy định thời hiệu.
Trong khi đó, nếu các bên thỏa thuận áp dụng BLDS năm 2015 trong hợp đồng (trường hợp ii) thì thời hiệu sẽ như thế nào? Như đã nói, thời hiệu trong Luật TTTM năm 2010 là 02 năm trong khi quy định về thời hiệu tại BLDS năm 2015 với thời gian khác nhau, tùy thuộc vào các loại nội dung tranh chấp, riêng thời hiệu khởi kiện hợp đồng là 03 năm. Vậy nếu một tranh chấp về hợp đồng có thỏa thuận trọng tài, thì thời hiệu khởi kiện sẽ là 02 năm hay 03 năm? Liệu rằng BLDS năm 2015 có được xem là “luật chuyên ngành có quy định khác” để viện dẫn BLDS năm 2015 thay vì Luật TTTM năm 2010 không[26]? Một điều chắc chắn rằng, BLDS là bộ luật chung điều chỉnh về nội dung các quan hệ dân sự, nên để tán thành ý kiến đây là luật chuyên ngành nhằm từ chối áp dụng thời hiệu theo Luật TTTM năm 2010 là điều bất khả thi.
Từ phân tích trên, có thể kết luận rằng, khi các bên đưa vụ việc tranh chấp ra trước Trọng tài thì thời hiệu khởi kiện sẽ là 02 năm. Tuy nhiên, lại phát sinh một vấn đề khác, đó là nếu quá 02 năm thì vụ việc có thể được xét xử bởi Tòa án hay không trong trường hợp vẫn còn trong thời hiệu 03 năm của BLDS năm 2015? Theo quy định được ghi nhận tại Điều 6 Luật TTTM năm 2010, trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được[27]. Từ đây, có thể trả lời rằng nếu quá thời hiệu 02 năm, người dân có thể bị thiếu hụt quyền khởi kiện theo tố tụng trọng tài so với lựa chọn khởi kiện bằng con đường Tòa án. Vô hình trung, đây có thể là hạn chế làm phương thức tố tụng trọng tài còn khiêm tốn so với Tòa án tại Việt Nam. Vì thế, sự thống nhất trong quy định về thời hiệu của hai văn bản này cũng cần được đặt ra, tương tự như trường hợp của BLDS và BLTTDS.
Ngoài ra, có thể đặt vấn đề thêm rằng, trong trường hợp tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, thời hiệu được áp dụng trong giải quyết tranh chấp bằng TTTM sẽ như thế nào? Dưới góc độ lý luận, có thể thấy trên thế giới tồn tại nhiều hệ thống pháp luật đa dạng khác nhau, nhưng có hai hệ thống pháp luật chiếm đa số, đó là hệ thống pháp luật dân sự (civil law) và hệ thống thông luật (common law). Theo hệ thống pháp luật dân sự, thời hiệu được coi là vấn đề nội dung (luật nội dung), tập trung vào quyền chủ quan đối với yêu cầu bồi thường. Trong hệ thống thông luật, thời hiệu hoặc thời hạn tập trung chủ yếu vào quy trình (luật thủ tục) chứ không phải vào vấn đề hoặc khiếu nại được đưa ra[28]. Khi các bên chọn luật áp dụng cho giao dịch của mình, nghĩa là họ chọn luật nội dung để điều chỉnh khi có xung đột về cách hiểu hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ xảy ra liên quan đến giao dịch đó. Luật nội dung này có thể khác hẳn với luật thủ tục được áp dụng bởi bất kỳ một trung tâm trọng tài nào mà các bên đã lựa chọn. Do đó, việc thống nhất về thời hiệu giữa luật hình thức và luật nội dung một lần nữa được các tác giả cho là cần thiết để hợp lý hóa việc áp dụng.Theo thời gian, học thuyết và án lệ về Trọng tài đã củng cố và xác định rằng trong trọng tài quốc tế, thời hiệu phải tuân theo luật nội dung áp dụng đối với tranh chấp, bất kể các điều khoản bắt buộc của luật thủ tục của Trọng tài[29].
Thứ hai là khả năng thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện cho tranh chấp thương mại giữa các bên. Nói cách khác, khả năng các bên được quyền thỏa thuận từ chối áp dụng thời hiệu khởi kiện ra Trọng tài khi hết thời hiệu khởi kiện 02 năm theo luật định, để bảo đảm rằng nếu một bên đưa vụ việc ra trọng tài thì vụ việc vẫn được thụ lý, do không bên nào được viện dẫn thời hiệu theo luật nữa.
Khi nghiên cứu vấn đề này, các tác giả nhận thấy có hai luồng quan điểm đối lập nhau:
Quan điểm tán thành cho rằng, khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định cá nhân, pháp nhân được quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận[30]. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. Điều này có nghĩa là nếu các bên có thỏa thuận về từ chối áp dụng thời hiệu khi vụ kiện được một bên đưa ra sau khi hết thời hiệu khởi kiện thì vẫn được chấp nhận do cần tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt, thỏa thuận của đương sự. Thỏa thuận này cũng không vi phạm điều cấm của luật[31], và như thế cần được các chủ thể khác tôn trọng, bao gồm cả Trọng tài.
Thêm vào đó, BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 đều quy định rằng, Tòa án không được tự ý áp dụng thời hiệu khởi kiện nếu không có đề nghị từ một trong các bên đương sự trước khi ra bản án sơ thẩm. Và người hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ[32]. Đó cũng chính là lý do mà Tòa án không được quyền trả lại đơn khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện, theo Điều 192 BLTTDS năm 2015, và chỉ được quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án liên quan đến hết thời hiệu khi có yêu cầu áp dụng của đương sự[33]. Nói cách khác, điều kiện hết thời hiệu không còn là nguyên nhân dẫn đến việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định này.
Do Luật TTTM năm 2010 không đề cập gì đến những nội dung trên, nên theo nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại Điều 14 Luật TTTM năm 2010, BLDS năm 2015 sẽ được áp dụng để điều chỉnh. Bên cạnh đó, Luật TTTM năm 2010 khi đề cập đến vấn đề khởi kiện và thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài cũng không có quy định nào cho thấy Trọng tài có nghĩa vụ phải xem xét đến thời hiệu mới thụ lý đơn khởi kiện:
Điều 31. Thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài
1. Trường hợp tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.
2. Trường hợp tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Và cuối cùng, Điều 13 Luật TTTM năm 2010 đã quy định về mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài như sau: Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án”. Điều này có nghĩa là nếu bên kia không viện dẫn thời hiệu khởi kiện theo quy định thì Trọng tài vẫn sẽ tiến hành giải quyết vụ việc và ra phán quyết có hiệu lực chung thẩm đối với các bên.
Như vậy, nếu có thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện của các bên thì thỏa thuận này cần được tôn trọng và áp dụng bởi các bên trong thỏa thuận đó và các chủ thể khác, bao gồm cả Trọng tài.
Quan điểm không tán thành cho rằng, nếu các bên thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện, ví dụ từ 02 năm thành 03 năm để tiếp tục thương lượng, hòa giải đồng nghĩa với việc từ chối áp dụng thời hiệu theo luật định, là vi phạm quy định về thời hiệu của Luật TTTM năm 2010. Do đây là quy định “cứng” của luật, không cho phép tồn tại của sự thỏa thuận dân sự nào khác với luật.
Ngoài ra, quy định tại BLDS năm 2015 hay BLTTDS năm 2015 chỉ quy định một loại chủ thể duy nhất là Tòa án không đương nhiên áp dụng thời hiệu, chứ không đề cập đến chủ thể Trọng tài, hay đề cập chủ thể chung chung[34]. Nói cách khác, vấn đề về thời hiệu đã được minh thị rõ ràng trong Luật TTTM, và BLDS cũng chỉ quy định cho Tòa án, nên Trọng tài phải có nghĩa vụ áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Đối với vấn đề này, các tác giả đồng ý với quan điểm đầu tiên. Bởi lẽ, bên cạnh những lập luận theo quan điểm thứ nhất nêu trên, nếu căn cứ vào nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật tại Điều 6 BLDS năm 2015, trường hợp điều luật áp dụng cho Tòa án cũng có thể áp dụng cho Trọng tài nếu Luật TTTM năm 2010 không quy định cụ thể về nội dung đó.
Tuy nhiên, dù đồng ý, các tác giả vẫn cảm thấy rằng, Luật TTTM năm 2010 đang vừa thừa vừa thiếu những quy định phù hợp nhằm làm cho tổng thể hoạt động tố tụng trọng tài được nhất quán. Bởi lẽ, mặc dù có quy định về thời hiệu khởi kiện nhưng Trọng tài sẽ không xem xét thời hiệu và vẫn thụ lý giải quyết. Nhưng nếu trong quá trình giải quyết, có bên viện dẫn thời hiệu thì Trọng tài cũng không có căn cứ để đình chỉ giải quyết tranh chấp như Tòa án được làm, bởi lẽ hết thời hiệu khởi kiện không phải là căn cứ để Trọng tài đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 59 Luật TTTM năm 2010. Từ đó làm dấy lên một sự hoài nghi về sự cần thiết của quy định về thời hiệu trong Luật TTTM năm 2010. 
Tóm lại, những lập luận trên cho thấy rằng, vẫn còn những quan điểm trái chiều và những tranh luận nhất định về thời hiệu và áp dụng thời hiệu theo thủ tục tố tụng trọng tài, do sự thiếu vắng quy định cụ thể trong Luật TTTM năm 2010, cũng như mối quan hệ giữa Luật này với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.  
Vì thế, để quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra thuận lợi và hiệu quả trong các khu vực tài phán khác nhau, vấn đề thời hiệu cần bảo đảm tính đồng nhất, tránh những quy định chồng chéo, gây khó hiểu và nhầm lẫn về mặt nội dung và thủ tục trong các quy định pháp luật liên quan. Theo đó, sự thống nhất giữa các luật nội dung với nhau như BLDS hay Luật Thương mại, giữa các luật hình thức như BLTTDS và Luật TTTM, hay giữa luật nội dung và hình thức về thời hiệu được xem là cần thiết và cần được quan tâm./.

[1] Phan Huy Chú, Lch triều hiến chương loại c, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1992, tr. 289.
[2] Viện Lịch sử, Quốc triều Hình luật, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, năm 1991.
[3] Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế, năm 1993, tập 11, tr. 296.
[4] Khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015.
[5] Điều 3 BLDS năm 2015; Điều 5 BLTTDS năm 2015.
[6] Điều 185 BLTTDS năm 2015; xem thêm: Nguyễn Thị Hồng Nhung (chủ biên), Sách chuyên khảo Bình luận khoa học về những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr. 59 và tiếp theo.
[7] Điều 150 và 154 BLDS năm 2015.
[8] Khoản 1 Điều 184 BLTTDS năm 2015; xem thêm: https://toaanduyxuyen.gov.vn/thoi-hieu-va-mot-so-bat-cap-ve-ap-dung-thoi-hieu.html, truy cập ngày 07/06/2024.
[9] Khoản 1 Điều 149 BLDS năm 2015.
[10] Điều 157 BLDS năm 2015.
[11] Điều 155, 163, khoản 2 Điều 164 BLDS năm 2015.
[12] Khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015.
[13] Khoản 2 Điều 184 BLTTDS năm 2015.
[14] Điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.
[15] Khoản 1 Điều 10.9, UNIDROIT 2004.
[17] Quy tắc tố tụng dân sự, Đạo luật Tòa án Tư pháp, R.R.O. 1990, Quy định 194.
[18] Khoản 6 Điều 44 Luật TTTM năm 2010.
[19] Điều 2 Luật TTTM năm 2010.
[20] Điều 33 Luật TTTM năm 2010.
[21] Điều 14 Luật TTTM năm 2010.
[22] Khoản 3 Điều 11A và Điều 2, 5 Đạo luật Thời hiệu 1980.
[23]Skidmore, Owings and Merrill v. Connecticut General Life Insurance Co.”, https://www.casemine.com/judgement/us/5914c8f2add7b049347ee450, truy cập ngày 06/06/2024.
[24] Điều 75, Quy tắc và Pháp vụ dân sự, Luật New York 2022, https://law.justia.com/codes/new-york/cvp/article-75/7502/, truy cập ngày 17/6/2024.
[25] Đạo luật Trọng tài thống nhất, Luật Washington, https://app.leg.wa.gov/rcw/default.aspx?cite=7.04A.090, truy cập ngày 17/6/2024.
[26] Điều 33 Luật TTTM năm 2010.
[27] Để thấy việc Tòa án tôn trọng nội dung phán quyết của Trọng tài liên quan đến thời hiệu, xem bản án số 11/2018/QĐ-PQTT của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ngày 12/10/2018 liên quan đến việc không hủy phán quyết trọng tài (https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta278925t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 23//7/2024).
[28] Tưởng Duy Lượng, Thời hiệu khởi kiện thuộc pháp luật nội dung hay pháp luật tố tụng - Đôi điều kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/thoi-hieu-khoi-kien-thuoc-phap-luat-noi-dung-hay-phap-luat-to-tung-doi-dieu-kien-nghi, truy cập ngày 13/6/2024.
[29] Thiago Marinho Nunes, Statute of Limitations and International Arbitration, http://cbar.org.br/site/statute-of-limitations-and-international-arbitration/, truy cập ngày 14/6/2024.
[30] Xem thêm: Huỳnh Thị Kim Thoa, Khả năng thỏa thuận về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/kha-nang-thoa-thuan-ve-thoi-hieu-khoi-kien-giai-quyet-tranh-chap-bang-trong-tai-kinh-nghiem-quoc-te-va-kien-nghi-hoan-thien-phap-luat-viet-nam-7537.html, truy cập ngày 25/9/2025.
[31] Quy định về thời hiệu không được xem là điều cấm của luật.
[32] Khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015; Điều 184 BLTTDS năm 2015.
[33] Khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.
[34] Xem: khoản 2 Điều 149 BLDS năm 2015.