Góp ý hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phối hợp giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế
01/06/2026
Tóm tắt: Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn điểm h khoản 1 Điều 20 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân tạo lập khuôn khổ pháp lý cho cơ chế phối hợp giám sát điều ước quốc tế, thể chế hóa đường lối đối ngoại của Đảng và quyền giám sát tối cao hiến định. Bằng phương pháp đối sánh các quy định giữa luật pháp quốc tế, Hiến pháp và các luật liên quan đối với Điều 9 và Điều 10 Dự thảo Nghị quyết, bài viết làm rõ những khoảng trống pháp lý về thủ tục hành chính, thẩm quyền bí mật nhà nước. Qua đó, đề xuất các kiến nghị để thiết lập cơ chế quản trị rủi ro, phân cấp gắn với tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát và bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia; tháo gỡ điểm nghẽn thực tiễn, kiến tạo ngoại giao số, đồng thời nâng tầm quyền giám sát thành cơ chế phòng vệ pháp lý quốc gia.
Từ khóa: Ngoại giao nghị viện; giám sát điều ước; chủ quyền dữ liệu; phòng vệ pháp lý.
Abstract: The Draft Resolution detailing Point h, Clause 1, Article 20 of the Law on Supervisory Activities of the National Assembly and People's Councils establishes a comprehensive legal framework for the coordinated monitoring mechanism of international treaties, thereby institutionalizing the Party's strategic foreign policy and substantiating the constitutional supreme supervisory power. By employing a comparative analysis of the normative intersections among international law, constitutional law, and relevant specialized legislation concerning Articles 9 and 10 of the Draft, this paper elucidates critical regulatory gaps surrounding administrative procedures and state secret jurisdiction. Consequently, it put forth targeted legislative recommendations to institute a risk-governance mechanism and structured decentralization in tandem with the optimization of control resources and the absolute safeguarding of national data sovereignty. These proposals serve to untangle practical bottlenecks and cultivate digital diplomacy, while simultaneously elevating the conventional supervisory power into a proactive national legal defense mechanism.
Keywords: Parliamentary diplomacy; treaty monitoring; data sovereignty; legal defense.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Việc thực thi cam kết quốc tế theo nguyên tắc tận tâm, thiện chí của Công ước Viên năm 1969
[1], luôn đòi hỏi một thiết chế giám sát quyền lực nhà nước hiệu quả, minh bạch. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có vai trò hiến định trong việc thực thi quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, bao gồm cả hoạt động đối ngoại và việc thực thi luật pháp quốc tế của cơ quan hành pháp.
Thể chế hóa vai trò này, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) năm 2025 tại điểm h khoản 1 Điều 20 đã lần đầu xác lập cơ sở pháp lý cho phương thức "
phối hợp giám sát việc thực hiện điều ước quốc tế (ĐƯQT), thỏa thuận quốc tế" giữa các cơ quan chuyên môn của Quốc hội Việt Nam và cơ quan tương đương thuộc Nghị viện của quốc gia đối tác. Dù đã có một số nghị quyết hướng dẫn Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2025
[2], cơ chế giám sát xuyên biên giới này vẫn bộc lộ sự thiếu hụt quy phạm, khiến thực tiễn thiếu đi một quy trình chuẩn hóa, thống nhất. Dự thảo Nghị quyết quy định chi tiết điểm h khoản 1 Điều 20 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND
[3] được xây dựng nhằm lấp đầy khoảng trống này, tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác ngoại giao nghị viện.
1. Cơ sở lý luận, chính trị và pháp lý của cơ chế phối hợp giám sát xuyên biên giới
1.1. Thể chế hóa chủ trương, đường lối và tầm nhìn chiến lược của Đảng
Cơ chế phối hợp giám sát trong Dự thảo Nghị quyết phản ánh sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện trên ba trụ cột chính sách lớn trong giai đoạn hiện nay:
Thứ nhất, Chỉ thị số 56-CT/TW ngày 24/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế yêu cầu: "tập trung nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện các cam kết quốc tế, bảo đảm tuân thủ đầy đủ, kịp thời, đồng bộ", đồng thời nhấn mạnh việc: "đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện, kịp thời phát hiện, xử lý khó khăn, vướng mắc". Thông qua quy định về trình tự giám sát chung, Dự thảo Nghị quyết trực tiếp thể chế hóa yêu cầu này, trao cho Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại (UBQPANĐN) cùng các Ủy ban liên quan công cụ pháp lý hữu hiệu để mở rộng không gian giám sát vượt khỏi biên giới quốc gia, bao trùm các hoạt động đối ngoại song phương và đa phương.
Thứ hai, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới quy định: "
phát huy vai trò các kênh đối ngoại, trong đó có đối ngoại nghị viện, nâng cao hiệu quả tổng thể công tác đối ngoại". Phối hợp giám sát theo Điều 9 và Điều 10 vượt khỏi vai trò của một công cụ kiểm tra cơ quan hành pháp thuần túy, vươn tầm thành thiết chế đối ngoại nghị viện cấp cao. Cơ chế này kiến tạo không gian đối thoại pháp lý song phương, củng cố tin cậy chính trị, tháo gỡ rào cản lập pháp và làm sâu sắc thêm các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện
[4].
Thứ ba, sự tương thích với cơ chế kiểm soát quyền lực theo Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại. Quy định này thiết lập nguyên tắc cao nhất về sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng đi kèm với sự phân cấp, phân nhiệm rõ ràng, đề cao trách nhiệm của từng chủ thể. Do đó, Điều 9 và Điều 10 Dự thảo Nghị quyết bắt buộc phải được thiết kế như một quy trình khép kín, tuân thủ chặt chẽ sự phê duyệt từ Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đến sự điều phối nghiệp vụ của UBQPANĐN, bảo đảm mọi hoạt động phối hợp quốc tế luôn bám sát và phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc.
1.2. Cơ sở pháp lý từ Hiến pháp, thẩm quyền lập pháp và sự tương thích với luật pháp quốc tế
Sự hình thành của cơ chế phối hợp giám sát xuyên biên giới đòi hỏi một nền tảng biện chứng vững chắc giữa Luật Hiến pháp quốc gia và luật pháp quốc tế, được đánh giá toàn diện qua hai phương diện:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế và quyền giám sát tối cao.
Cụ thể hóa Điều 12, Điều 70, Điều 77 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 7 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) Dự thảo Nghị quyết bảo đảm tuyệt đối tính hợp hiến, hợp pháp và giới hạn thẩm quyền. Về lý luận, Dự thảo Nghị quyết là bước hiến định hóa nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (Điều 26 Công ước Viên năm 1969). Qua đó, quyền giám sát tối cao vượt khỏi khuôn khổ kiểm soát quyền lực nội bộ, vươn tầm thành cơ chế phòng vệ pháp lý quốc gia từ sớm, từ xa
[5]. Bằng việc chủ động rà soát, đánh giá tiến trình thực thi của Chính phủ, cơ quan lập pháp ngăn chặn hiệu quả mọi rủi ro vi phạm hoặc chậm trễ trong việc thực hiện cam kết, qua đó bảo vệ vững chắc uy tín chính trị, vị thế pháp lý và lợi ích cốt lõi của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ hai, sự tương thích với luật pháp quốc tế trên cơ sở tự giới hạn chủ quyền và nguyên tắc phân định tài phán.
Về bản chất, giám sát việc thực hiện ĐƯQT là việc một quốc gia tự đánh giá mức độ tuân thủ cam kết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong nước. Việc mở rộng không gian giám sát có sự tham gia của Nghị viện đối tác tiềm ẩn rủi ro vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia tại Điều 2.1 và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác tại Điều 2.7 Hiến chương Liên hợp quốc
[6]. Dự thảo Nghị quyết đã nhận diện và triệt tiêu rủi ro này tại Điều 1 và Điều 3 bằng yêu cầu bắt buộc "
đã có thỏa thuận" giữa hai Nghị viện và trên nguyên tắc "
tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi".
Vận dụng lý thuyết về sự tự giới hạn chủ quyền trong Luật Quốc tế
[7], việc tự nguyện mở rộng không gian giám sát song hành trong Dự thảo Nghị quyết hoàn toàn không cấu thành sự suy giảm chủ quyền. Ngược lại, đây là biểu hiện cao nhất của việc chủ động thực thi quyền chủ quyền, cho phép quốc gia định đoạt việc chia sẻ không gian quản trị nhằm tối ưu hóa hiệu quả hội nhập và định hình quy tắc ứng xử toàn cầu.
Cuối cùng, cần khẳng định rõ rằng, cơ chế này hoàn toàn độc lập với các thiết chế giám sát chuyên trách của các công ước quốc tế hoặc hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)
[8]. Hoạt động phối hợp giám sát của Quốc hội mang bản chất chính trị - pháp lý, không làm phát sinh nghĩa vụ quốc tế mới mà đóng vai trò đôn đốc, thúc đẩy tích cực Chính phủ hai nước thực thi thiện chí các cam kết hiện hành.
2. Góp ý Điều 9 về xây dựng kế hoạch phối hợp giám sát chi tiết
Mặc dù cấu trúc Điều 9 cơ bản bao quát các thành tố cần thiết của một kế hoạch giám sát, một số quy định vẫn tiềm ẩn rủi ro thiếu khả thi, dễ tạo ra điểm nghẽn hành chính, đòi hỏi phải tinh chỉnh kỹ lưỡng.
2.1. Về khoản 2 Điều 9
Khoản 2 Điều 9 Dự thảo Nghị quyết liệt kê một hệ thống gồm 8 nhóm nội dung (từ điểm a đến điểm h) bắt buộc phải có trong một kế hoạch phối hợp giám sát chi tiết, bao gồm: mục tiêu, phạm vi giám sát; nội dung, hình thức phối hợp; cơ quan phối hợp; thời gian, địa điểm, chương trình; thành phần tham gia cụ thể; phân công trách nhiệm; hình thức văn bản ghi nhận kết quả; và dự trù kinh phí cùng điều kiện bảo đảm. Thiết kế này bảo đảm tính minh bạch, chuyên nghiệp trong khâu chuẩn bị, tương thích với mô hình quản trị công hiện đại định hướng kết quả.
Tuy nhiên, Dự thảo Nghị quyết lại chưa thể hiện rõ yếu tố quan trọng trong lý luận và thực tiễn ngoại giao là quản trị rủi ro. Hoạt động phối hợp quốc tế vốn mang tính bất định cao, phụ thuộc lớn vào ý chí và bối cảnh chính trị của đối tác
[9]. Trong quá trình triển khai, việc phát sinh rủi ro là tất yếu như thay đổi đột ngột lịch trình, bất đồng ngôn ngữ chính trị, hoặc rào cản từ luật bảo mật thông tin của nước sở tại. Nếu kế hoạch không dự liệu một biên độ linh hoạt cho các tình huống này, các đoàn công tác của Quốc hội sẽ rơi vào thế bị động, cứng nhắc và có nguy cơ vi phạm quy trình khi buộc phải điều chỉnh kế hoạch trên thực tế.
Do đó, kiến nghị cơ quan soạn thảo bổ sung điểm (i) vào khoản 2 Điều 9 với nội dung cụ thể: "Các rủi ro phát sinh, phương án dự phòng và cơ chế xử lý khác biệt trong quá trình triển khai giám sát". Việc luật hóa phương án dự phòng ngay từ khâu lập kế hoạch sẽ tối ưu hóa tính chủ động cho các cơ quan của Quốc hội, đồng thời bảo đảm sự thống nhất logic với nguyên tắc tại khoản 5 Điều 3 của chính Dự thảo Nghị quyết về "giải quyết khác biệt thông qua trao đổi, tham vấn trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau".
2.2. Về thời hạn gửi kế hoạch và thủ tục lễ tân ngoại giao tại khoản 3 Điều 9
Khoản 3 Điều 9 quy định: "Kế hoạch phối hợp giám sát phải được gửi tới UBQPANĐN chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành phối hợp giám sát. UBQPANĐN gửi công hàm, công điện cho Cơ quan đại diện nước sở tại tại Việt Nam và Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước sở tại thông báo về hoạt động phối hợp giám sát".
Đây là quy định gây ra quan ngại về tính khả thi, đồng thời có thể tạo ra sự xung đột với các quy định về hành chính và ngoại giao hiện hành của Việt Nam.
Thứ nhất, về thời hạn "05 ngày làm việc" trước một sự kiện ngoại giao quốc tế
Hoạt động giám sát ĐƯQT với đối tác nước ngoài là một hoạt động đối ngoại có tính chất đặc biệt phức tạp, liên quan nhiều đến chủ quyền quốc gia. Việc Dự thảo Nghị quyết ấn định thời hạn gửi kế hoạch chi tiết tới cơ quan đầu mối là UBQPANĐN chỉ có trong 05 ngày làm việc trước khi sự kiện chính thức diễn ra là một quy định chưa thực sự phù hợp hoàn toàn với thực tiễn lễ tân ngoại giao và quy trình tham mưu của Đảng, Nhà nước.
Để triển khai một đoàn khảo sát liên quốc gia hoặc hội nghị nghị sĩ, công tác bảo đảm an ninh, hậu cần và thẩm định nhân sự cần từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Riêng thủ tục lãnh sự xin cấp hộ chiếu ngoại giao, công vụ và công hàm đề nghị thị thực tại các cơ quan đại diện nước ngoài đã kéo dài từ ba đến năm ngày làm việc
[10]; quá trình xét duyệt thị thực của các nước đối tác thường chiếm hàng tuần
[11]. Thời hạn 05 ngày khiến UBQPANĐN không đủ thời gian rà soát yếu tố chính trị đối ngoại, phối hợp cùng Bộ Ngoại giao và xin ý kiến Lãnh đạo Quốc hội, dễ gây đình trệ các hoạt động đối ngoại của Quốc hội.
Thứ hai, về quy định thẩm quyền phát hành công hàm
Quy định giao
"UBQPANĐN gửi công hàm..." chưa thật sự đồng bộ với Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 và Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961
[12]. Theo đó, Bộ Ngoại giao là đầu mối chuyên trách đại diện cho Nhà nước trong việc phát hành, chuyển giao công hàm ngoại giao. Quy định của Dự thảo Nghị quyết gây chồng chéo chức năng và chưa tương thích với nguyên tắc quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại theo Quy định số 392-QĐ/TW. Thực tế đối ngoại nghị viện cho thấy, UBQPANĐN chuyển điện thông qua hệ thống cơ yếu bảo mật của Bộ Ngoại giao để cơ quan đại diện ngoại giao phát hành công hàm chính thức tại nước sở tại.
Dưới góc độ bảo đảm khả năng thực thi và tuân thủ Quy định số 392-QĐ/TW, tác giả đề xuất Ban soạn thảo có thể cân nhắc thiết kế lại khoản 3 Điều 9 Dự thảo Nghị quyết như sau:
"Kế hoạch phối hợp giám sát chi tiết phải được gửi tới UBQPANĐN chậm nhất là 30 ngày (hoặc ít nhất 15 ngày làm việc đối với trường hợp đột xuất) trước khi tiến hành phối hợp giám sát để theo dõi, điều phối chung. Chậm nhất 10 ngày làm việc trước khi tổ chức hoạt động, UBQPANĐN có trách nhiệm thông báo bằng hình thức văn bản ngoại giao phù hợp tới Cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; đồng thời chủ trì, đề nghị Bộ Ngoại giao chỉ đạo Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thông qua hệ thống cơ yếu để bảo đảm các điều kiện triển khai, lễ tân và an ninh tại nước sở tại".
Quy định này vừa tạo lập một khoảng thời gian thỏa đáng để các cơ quan có thẩm quyền chủ động xử lý tài liệu bảo mật và thẩm tra nhân sự, vừa bảo đảm tính chuẩn mực trong ngôn ngữ ngoại giao quốc tế. Qua đó, thể hiện sự tuân thủ chặt chẽ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2025 và Nghị quyết số 124/2026/UBTVQH15 về Quy chế hoạt động đối ngoại của Quốc hội.
3. Góp ý Điều 10 về quy trình triển khai hoạt động phối hợp giám sát
Điều 10 Dự thảo Nghị quyết giữ vai trò trọng tâm thể chế hóa cơ chế phối hợp trực tiếp giữa Quốc hội Việt Nam và Nghị viện đối tác, tạo ra sự giao thoa trực tiếp giữa pháp luật quốc gia và Luật Quốc tế.
3.1. Về cơ chế đoàn phối hợp giám sát, khảo sát chung tại khoản 1 Điều 10
Điểm c và điểm d khoản 1 Điều 10 Dự thảo Dự thảo Nghị quyết quy định việc tổ chức đoàn ra, đoàn vào phải "thống nhất với cơ quan có liên quan của Quốc hội của quốc gia cùng ký kết ĐƯQT, thỏa thuận quốc tế thông qua văn kiện ghi nhận kết quả của Đoàn phối hợp giám sát".
Mô hình này là bước tiến đột phá trong lý luận và thực tiễn về ngoại giao nghị viện tại Việt Nam. Trước đây, thẩm quyền giám sát ĐƯQT của Quốc hội chủ yếu tập trung vào việc đánh giá mức độ tuân thủ của cơ quan hành pháp ở phạm vi lãnh thổ quốc gia
[13]; hay nói cách khác chuyển từ giám sát đơn lập trong nước sang phối hợp xuyên biên giới. Mặc dù kết quả rà soát cho thấy thực tiễn đã ghi nhận một số hoạt động phối hợp khảo sát
[14], song các hoạt động này vẫn đang vận hành trong bối cảnh thiếu vắng một khuôn khổ pháp lý đồng bộ và xuyên suốt.
Dưới góc độ Luật Quốc tế, sự hiện diện của cơ quan lập pháp nước ngoài tại Việt Nam đòi hỏi bảo vệ tuyệt đối nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ theo Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc. Nhằm loại trừ rủi ro này, thiết chế phối hợp bắt buộc vận hành theo nguyên tắc song song và hoàn toàn độc lập. Cần khẳng định rõ ranh giới thẩm quyền cơ quan lập pháp nước ngoài tuyệt đối không có thẩm quyền tài phán, phán quyết hay thanh tra đối với bộ máy hành chính Việt Nam và ngược lại. Sự phân định này ngăn chặn triệt để mọi diễn dịch sai lệch cho rằng, Quốc hội Việt Nam đang ủy quyền hay chia sẻ quyền giám sát tối cao hiến định. Ban soạn thảo đã xác lập một cơ chế phòng ngừa rủi robằng cách quy định hoạt động giám sát chung bắt buộc phải được thực hiện trên cơ sở "đã có thỏa thuận".
Tại điểm d khoản 1 Điều 10, thuật ngữ "
văn kiện ghi nhận kết quả" tiềm ẩn rủi ro pháp lý. Trong Luật Quốc tế, một văn kiện hoàn toàn có thể cấu thành ĐƯQT nếu nội dung chứa đựng ý chí ràng buộc pháp lý và được ký kết giữa đại diện có thẩm quyền của hai quốc gia
[15]. Nếu văn kiện giám sát này đưa ra các yêu cầu bắt buộc với Chính phủ hai nước, nó có thể tạo ra các "
nghĩa vụ quốc tế mới"
[16]; vượt quá nguyên tắc thẩm quyền tại điểm 4 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết và xung đột với nguyên tắc không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ quốc gia theo Luật Thỏa thuận quốc tế năm 2020.
Nhằm thiết lập cơ chế phòng ngừa rủi ro hữu hiệu và tránh chồng chéo thẩm quyền ký kết điều ước, kiến nghị sửa đổi cụm từ tại điểm d khoản 1 Điều 10 Dự thảo Nghị quyết thành: "thống nhất với cơ quan có liên quan... thông qua báo cáo chung, biên bản ghi nhớ làm việc hoặc bản ghi nhận kết quả hoạt động của Đoàn, các văn bản này không phải là một ĐƯQT và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ ràng buộc theo pháp luật quốc tế đối với quốc gia". Điều này sẽ thiết lập một cơ chế phòng ngừa rủi ro hữu hiệu, bảo đảm cơ quan lập pháp hoạt động đúng khuôn khổ chức năng, tránh nguy cơ chồng chéo về thẩm quyền đàm phán, ký kết ĐƯQT.
3.2. Về cơ chế các cuộc họp, hội nghị phối hợp giám sát tại khoản 2 Điều 10
Khoản 2 Điều 10 Dự thảo Nghị quyết quy định về cơ chế họp trực tiếp hoặc trực tuyến. Điểm c (bị đánh máy lỗi thành b) quy định: "Chương trình, kịch bản chi tiết Hội nghị do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và cơ quan có liên quan của Quốc hội... thống nhất và phải được sự nhất trí của Lãnh đạo Quốc hội phụ trách".
Quy định này nhằm thể chế hóa Quy định số 392-QĐ/TW về sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với công tác đối ngoại. Sự thận trọng này có cơ sở do đối ngoại nghị viện đặc biệt nhạy cảm, có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế viện dẫn và quy kết thành thực tiễn quốc gia, từ đó phát sinh những hệ lụy pháp lý phức tạp.
Tuy nhiên, quy định này bộc lộ sự can thiệp mang tính vi mô, thiếu linh hoạt và chưa phản ánh đúng nguyên tắc phân cấp, phân quyền, chưa thật sự phù hợp với định hướng giảm đầu mối, hạn chế thủ tục trung gian mà Tờ trình Dự thảo Nghị quyết đã xác định. Từ thực tiễn, việc áp dụng đồng nhất một quy trình phê duyệt cho mọi hội nghị sẽ dẫn đến tình trạng hành chính hóa quá mức, chưa phản ánh đúng tư duy quản trị nhà nước hiện đại. Hệ quả tất yếu là sẽ tạo ra nút thắt về quy trình, làm chậm trễ tiến độ công việc, suy giảm tính chủ động, linh hoạt trong ngoại giao và làm phát sinh chi phí tuân thủ thủ tục hành chính không đáng có.
Để hài hòa giữa kiểm soát rủi ro và hiệu năng quản lý, kiến nghị cơ quan soạn thảo áp dụng nguyên tắc phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực của Nghị quyết số 27-NQ/TWngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc giao quyền cho Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban chủ động phê duyệt các cuộc họp kỹ thuật thông thường tuyệt đối không phải là buông lỏng quản lý, mà là quá trình tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát. Cơ chế này giúp giải phóng các cấp Lãnh đạo Quốc hội khỏi sự vụ vi mô để tập trung chỉ đạo các vấn đề chiến lược về an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Cụ thể, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm c khoản 2 Điều 10 Dự thảo Nghị quyết như sau:
"Chương trình, kịch bản chi tiết của Hội nghị cấp cao hoặc Hội nghị có nội dung phức tạp, liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia do Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và cơ quan đối tác thống nhất, phải được báo cáo xin ý kiến nhất trí của Lãnh đạo Quốc hội phụ trách. Đối với các cuộc họp, hội thảo trao đổi thông tin, kỹ thuật thông thường phục vụ công tác giám sát, Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chủ động quyết định việc tổ chức, phê duyệt nội dung và chịu trách nhiệm trước pháp luật".
Thiết kế này vừa bảo đảm sự chỉ đạo chiến lược đối với các vấn đề trọng yếu quốc gia, vừa trao quyền tự chủ cho cơ quan chuyên môn, tương thích hoàn toàn với chủ trương cải cách hành chính và tinh gọn quy trình của Quốc hội.
3.3. Về cơ chế các hoạt động giám sát chủ động và trao đổi thông tin tại khoản 3 Điều 10
Khoản 3 Điều 10 Dự thảo Nghị quyết trao quyền cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tiến hành các phương thức giám sát trong nước liên quan đến thực hiện ĐƯQT, làm cơ sở để "trao đổi thông tin, tài liệu, kết quả giám sát" với đối tác nước ngoài. Về lý luận, quy định này thiết lập một cơ chế giám sát chủ động, độc lập từ phía Việt Nam trong tổng thể mô hình giám sát song hành, bám sát Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2025.
Tuy nhiên, nút thắt rủi ro lớn nhất nằm ở thiết chế bảo vệ bí mật nhà nước. Bản chất của việc chia sẻ kết quả giám sát cho chủ thể nước ngoài chính là hành vi chuyển giao dữ liệu quốc gia xuyên biên giới. Thực tiễn cho thấy, tài liệu giải trình từ cơ quan hành pháp trong các chuyên đề trọng điểm như tài chính chiến lược, an ninh mạng, biên giới thường xuyên chứa đựng thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước. Việc Dự thảo Nghị quyết khuyết thiếu các điều kiện ràng buộc an ninh khi cung cấp thông tin tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Nhằm giải quyết rủi ro nêu trên, kiến nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần thể chế hóa nguyên tắc bảo vệ an ninh thông tin ngay tại khoản 3 Điều 10 Dự thảo Nghị quyết. Đây là điều kiện tiên quyết nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước trong quá trình triển khai các hoạt động ngoại giao nghị viện. Cụ thể:
"Việc trao đổi thông tin, tài liệu, kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội với cơ quan có liên quan của Quốc hội nước ngoài phải được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại, đồng thời tuân thủ tuyệt đối hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và thông tin đối ngoại”.
Việc xác lập lằn ranh pháp lý này không những ngăn ngừa nguy cơ xâm phạm chế độ bảo mật thông tin quốc gia, mà còn minh chứng cho tư duy lập pháp thận trọng và toàn diện là luôn đặt an ninh quốc gia làm nền tảng cho mọi tiến trình hội nhập và phát triển.
3.4. Hiện thực hóa quy trình ngoại giao số trong cơ chế hội nghị trực tuyến
Mặc dù khoản 6 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết đã xác lập nguyên tắc về việc ứng dụng công nghệ thông tin và đẩy mạnh chuyển đổi số, việc triển khai thực hiện quy định tại Điều 9 và Điều 10 vẫn chưa phản ánh toàn diện tinh thần này, khi các thủ tục lưu chuyển tờ trình, phát hành công hàm hay xây dựng kịch bản hội nghị vẫn phụ thuộc chủ yếu vào phương thức hành chính bằng văn bản giấy truyền thống.
Trước yêu cầu xây dựng Quốc hội điện số và xu thế ngoại giao số hiện nay, kiến nghị UBTVQH xem xét bổ sung vào quy trình thực thi tại Điều 10 Dự thảo Nghị quyết các giải pháp công nghệ cao, điển hình như cơ chế chia sẻ dữ liệu số đã được hóa mã hóa và kết nối thông qua các hệ thống hội nghị trực tuyến bảo mật cấp quốc gia. Việc hoàn thiện quy phạm theo hướng này không chỉ góp phần tối ưu hóa và tiết kiệm nguồn lực, chi phí hành chính và hậu cần cho các đoàn giám sát mà còn thể hiện sự thể chế hóa kịp thời, triển khai có hiệu lực Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và chuyển đổi số trong quản trị hành chính nhà nước.
Kết luận
Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn điểm h khoản 1 Điều 20 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND mang giá trị chính trị, pháp lý rất lớn. Văn bản này thể chế hóa toàn diện đường lối đối ngoại của Đảng như: Chỉ thị số 56-CT/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW, Quy định số 392-QĐ/TW và cụ thể hóa quyền giám sát tối cao hiến định, bảo đảm kiểm soát quyền lực chặt chẽ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Dưới góc độ Luật Quốc tế, quy trình phối hợp chuyển dịch quyền lực lập pháp từ thụ động nội luật hóa sang chủ động thiết lập cơ chế giám sát song hành. Cơ chế tác động kép này trực tiếp thúc đẩy cơ quan hành pháp thực thi thiện chí Công ước Viên năm 1969, đồng thời vận hành độc lập, không chồng chéo thẩm quyền với các thiết chế quốc tế khác hiện hành.
Nhằm bảo đảm tính khả thi, các kiến nghị đối với Điều 9 và Điều 10 Dự thảo Nghị quyết tập trung khắc phục triệt để các điểm nghẽn quy định. Việc ràng buộc điều kiện bảo vệ bí mật nhà nước giúp ngăn chặn chuyển giao dữ liệu trái phép xuyên biên giới, bảo vệ vững chắc chủ quyền dữ liệu quốc gia. Phân cấp thẩm quyền theo mức độ rủi ro giúp giải quyết xung đột, tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát. Đồng thời, ứng dụng chia sẻ dữ liệu mã hóa sẽ xóa bỏ tư duy hành chính giấy tờ truyền thống, đặt nền móng vững chắc kiến tạo ngoại giao số. Dự thảo Nghị quyết sau khi được hoàn thiện và bàn hành sẽ là sự đột phá về thực hiện quyền giám sát trong ngoại giao nghị viện. Đây vừa là công cụ kiểm soát quyền lực hữu hiệu, vừa là cơ chế phòng vệ pháp lý quốc gia, bảo vệ tối đa lợi ích dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập toàn diện./.
[2] Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND về hoạt động giám sát của Quốc hội; Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND về giám sát văn bản quy phạm pháp luật; Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND.
[4] Tính đến nay, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 15 quốc gia và tổ chức quốc tế. Đây là khuôn khổ quan hệ ngoại giao ở mức cao nhất, thể hiện sự tin cậy chính trị sâu sắc và hợp tác toàn diện: Trung Quốc (2008); Ấn Độ (2016 - được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường vào tháng 5/2026); Hàn Quốc (2022); Nhật Bản (2023); Malaysia (2024); Indonesia (2025); Singapore (2025); Thái Lan (2025); Liên bang Nga (2012); Pháp (2024); Vương quốc Anh (2025); Liên minh châu Âu (2026); Hoa Kỳ (2023); Australia (2024); New Zealand (2025).
[8] RCEP: được thực thi thông qua Ủy ban Hỗn hợp RCEP (
RCEP Joint Committee), cùng với Bộ phận hỗ trợ thực thi Hiệp định RCEP (
RCEP Support Unit, RSU); với CPTPP và EVFTA, cơ chế giám sát/thực thi thường được tổ chức qua các ủy ban hỗn hợp hoặc hội đồng chuyên trách giữa các bên tham gia hiệp định.
[16] Obligation to Negotiate Access to the Pacific Ocean (Bolivia v. Chile) (Judgment) [2018] ICJ Rep 507, Dissenting Opinion of Judge Robinson,
https://www.icj-cij.org/case/153, truy cập ngày 18/5/2026.