Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
03/06/2026
Tóm tắt: Bài viết bàn luận về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công với các chủ thể khác trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, so sánh quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam với quy định của Bộ luật Dân sự một số nước về vấn đề này và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Từ khóa: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại; bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Abstract: The article discusses the joint liability for damages of contractors together with other parties in cases of compensation for damages arising from houses and other construction works. It compares the provisions of the Vietnamese Civil Code with those of the Civil Codes of several other countries on this issue, and offers recommendations to perfect the law.
Keywords: Liability for damages; joint liability for damages; non-contractual compensation for damages.
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại (BTTH) là trách nhiệm dân sự do nhiều người cùng gây ra thiệt hại và phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường. Thực tế trong nhiều sự kiện gây thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng (CTXD) gây ra tồn tại nhiều chủ thể có trách nhiệm bồi thường, vì vậy mà trách nhiệm liên đới phát sinh. Nhóm chủ thể này bao gồm chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý sử dụng nhà cửa, CTXD khác và người thi công. Vậy, luật quy định trường hợp nào người thi công phải chịu trách nhiệm liên đới BTTH cùng với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác. Liệu rằng với những quy định pháp luật hiện hành có thể giải quyết triệt để được vấn đề hay không?
1. Khái quát về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Quy định về trách nhiệm liên đới BTTH của người thi công là một quy định hoàn toàn mới của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 so với những BLDS đã ban hành trước đó. Cụ thể tại đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015 quy định: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”.
BLDS năm 2015 không định nghĩa khái niệm “
người thi công”. Tuy nhiên, dưới góc độ ngôn ngữ, “thi công” là “tiến hành xây dựng công trình theo thiết kế”
[1]. Dưới góc độ pháp lý, “thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với CTXD mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì CTXD”
[2]. Vậy “người thi công” được hiểu là người tiến hành hoạt động xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với CTXD mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì CTXD theo thiết kế.
Tuy nhiên, đối với người thi công công trình nhưng lại làm hư hỏng, sụp đổ, sụt lở… công trình lân cận thì không thuộc đối tượng áp dụng Điều 605. Thiệt hại xảy ra trong trường hợp này không phải do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công trong quá trình thi công gây ra. Do vậy, về nguyên tắc, chủ thể nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường (chứ không phải chủ sở hữu công trình). Cơ sở pháp lý áp dụng trong trường hợp này là khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015 (trách nhiệm BTTH do con người gây ra) mà không phải Điều 605 BLDS năm 2015 (BTTH do nhà cửa, CTXD gây ra).
Trách nhiệm BTTH của người thi công được xác định cụ thể như sau:
Nếu công trình đang trong quá trình thi công mà gây thiệt hại: Thiệt hại xảy ra trong trường hợp này không phải do tự thân nhà cửa, CTXD khác gây ra mà do hành vi trái pháp luật gây ra, do vậy, không áp dụng Điều 605 BLDS năm 2015 để giải quyết. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do hành vi trái pháp luật của người thi công, người thi công chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại theo khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015. Nếu thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công và chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác thì người thi công và chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH theo Điều 587 BLDS năm 2015. Nếu giữa các bên có thỏa thuận về việc bồi thường thì chủ thể chịu trách nhiệm BTTH được xác định theo sự thỏa thuận giữa các bên (với điều kiện thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ bồi thường).
Nếu công trình đã hoàn thành hoặc tuy chưa hoàn thành nhưng người thi công đã bàn giao công trình cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác (do thanh lý, chấm dứt hợp đồng thi công): trong trường hợp này chúng ta phải phân biệt: (1) Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do hành vi trái pháp luật của người thi công, người thi công chịu trách nhiệm BTTH toàn bộ theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 584 BLDS năm 2015; (2) Nếu thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công và của chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác thì khi đó người thi công và chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH theo Điều 587 BLDS năm 2015; (3) Nếu thiệt hại xảy ra do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công và do sự tác động của nhà cửa, CTXD khác thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác và người thi công phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH theo đoạn 2 Điều 605. Mặc dù trong trường hợp này, chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác không có hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưng với tư cách là người được hưởng lợi ích từ việc khai thác, sử dụng nhà cửa, CTXD khác nên khi nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại thì họ phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH cùng người thi công.
2. Một số vấn đề vướng mắc về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác
Quy định về trách nhiệm liên đới nói chung (theo Điều 587 BLDS năm 2015) và trách nhiệm liên đới BTTH của người thi công (theo đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015), còn tồn tại một số vướng mắc sau:
Thứ nhất, quy định tại đoạn 2 Điều 605 BLDS hiện hành chưa tạo được cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xác định điều kiện làm phát sinh trách nhiệm liên đới BTTH giữa người thi công với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác. Theo Điều 587, trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh khi thiệt hại là do hành vi trái pháp luật, có lỗi của nhiều người cùng gây ra. Trong khi đó, đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015 lại quy định về hành vi trái pháp luật, có lỗi của một mình người thi công, mà không đề cập đến vì sao chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH cùng người thi công. Điều này đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế.
Thứ hai, ngay cả khi đoạn 2 Điều 605 được hiểu theo cách như đã phân tích ở trên, đó là: Trách nhiệm liên đới giữa người thi công với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phát sinh khi thiệt hại xảy ra do hai nguyên nhân cùng tác động: (1) Là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công; (2) Là do sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác thì cả Điều 587 và đoạn 2 Điều 605 vẫn chưa bao quát được hết mọi trường hợp trên thực tế. Bởi lẽ, Điều 587 mới chỉ quy định về trách nhiệm liên đới BTTH trong trường hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi của nhiều người cùng gây ra và đoạn 2 Điều 605 mới chỉ quy định về trách nhiệm liên đới trong trường hợp thiệt hại vừa do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công, vừa do sự tác động nhà cửa, CTXD khác cùng gây ra mà chưa có quy định trách nhiệm liên đới trong hai trường hợp: (1) Thiệt hại do sự tác động của nhiều CTXD nói riêng (do nhiều tài sản nói chung) cùng gây ra; (2) Thiệt hại do tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người gây ra. Ví dụ: Nhà của cả A và B cùng xây mới, sau khi xây xong hai căn nhà đã tạo nên một lực ép lớn lên bề mặt đất khiến căn nhà của C bị nghiêng lún, xé tường, nứt sàn... Thiệt hại cho C trong trường hợp này là do sự cùng tác động từ cả hai căn nhà của A và B. Trong trường hợp này, chúng ta phải áp dụng quy định nào để giải quyết?
Thứ ba, đoạn 2 Điều 605 mới chỉ quy định trách nhiệm liên đới của người thi công mà không quy định về trách nhiệm liên đới của những chủ thể khác như người thiết kế, người khảo sát, người giám sát… khi những chủ thể này cũng có hành vi trái pháp luật, có lỗi gây thiệt hại.
Trong khi đó, như đã phân tích, nhà cửa, CTXD khác là sản phẩm được tạo ra bởi nhiều người, qua nhiều công đoạn, mà trong đó chất lượng của công đoạn trước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công đoạn sau, ảnh hưởng đến chất lượng của cả công trình. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 lại chỉ quy định trách nhiệm của người thi công mà không quy định trách nhiệm của người thiết kế, khảo sát, giám sát… Điều này là không công bằng.
Nghiên cứu pháp luật dân sự của một số quốc gia có thể thấy, quy định trách nhiệm BTTH của người thi công thường được tách riêng thành một điều luật độc lập. Người thi công phải chịu trách nhiệm không chỉ với người bị thiệt hại mà còn với cả chủ sở hữu
nhà cửa, CTXD khác. Điển hình như tại Pháp, bên cạnh Điều 1386 quy định trách nhiệm BTTH của chủ sở hữu
do sự sụp đổ của một tòa nhà thì Điều 1792 BLDS Pháp cũng quy định: “
Người xây dựng công trình” (bao gồm: kiến trúc sư, nhà thầu, kỹ thuật viên hoặc người khác có quan hệ hợp đồng thuê dịch vụ với chủ công trình; người bán công trình mà họ đã xây dựng hoặc đã thuê xây dựng xong; người đã thực hiện một nhiệm vụ được coi như nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ, mặc dù đã hành động với tư cách người được uỷ quyền của chủ công trình
[3]) phải “chịu trách nhiệm đối với chủ công trình hoặc người mua công trình, về mọi thiệt hại, kể cả những thiệt hại do khuyết tật của nền đất gây ra, làm cho công trình không vững chắc hoặc thiệt hại gây ra cho một bộ phận cấu thành hoặc một phần thiết bị của công trình làm cho công trình không sử dụng được đúng mục đích”
[4]. Thời hạn phải chịu trách nhiệm của người xây dựng công trình là 10 năm kể từ ngày nghiệm thu công trình (Điều 2270 BLDS Pháp). Trong thời hạn 10 năm kể từ ngày nghiệm thu công trình, nếu nhà cửa, CTXD khác bị sụp đổ gây thiệt hại mà nguyên nhân đến từ việc xây dựng thì chủ sở hữu
vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhưng sau đó có quyền kiện yêu cầu “người xây dựng công trình” phải bồi thường lại cho mình.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới, bên cạnh quy định về trách nhiệm BTTH của người thi công thì cũng quy định cả trách nhiệm BTTH của kiến trúc sư, kỹ sư, người giám sát. Ví dụ: Điều 1591 BLDS Tây Ban Nha quy định cả trách nhiệm của nhà thầu xây dựng và kiến trúc sư, theo đó: “Nhà thầu của công trình bị sụp đổ do khiếm khuyết trong xây dựng sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH nếu sự sụp đổ đó xảy ra trong vòng 10 năm kể từ ngày công trình hoàn thành; kỹ sư - người quản lý CTXD - phải chịu trách nhiệm trong thời gian tương tự nếu sự sụp đổ là hậu quả của khiếm khuyết trong nền đất hoặc do lỗi trong quản lý. Nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của nhà thầu thì thời hạn trên sẽ kéo dài 15 năm”
[5].
Thứ tư, đoạn 2 Điều 587 mới chỉ quy định về trách nhiệm liên đới BTTH giữa người thi công với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác mà chưa quy định cụ thể về cách tính mức bồi thường cụ thể của từng chủ thể, theo đó: “Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người”. Tuy nhiên, trong trường hợp này, chỉ một mình người thi công có lỗi; chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác không có lỗi. Vậy mức bồi thường của người thi công và chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác sẽ được xác định theo tiêu chí nào? Đây là vấn đề mà BLDS năm 2015 vẫn chưa đề cập đến.
Ngoài ra,vấn đề quan trọng mà BLDS hiện hành chưa đề cập đến đó là thách thức pháp lý liên quan đến pháp luật về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà những nhà cửa, CTXD này là sản phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra.
Hiện nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ và việc sử dụng thực tế AI ngày càng nhiều, đòi hỏi phải thay đổi quy định pháp luật, chẳng hạn như cần phải cơ cấu lại hệ thống pháp luật. Nếu trí tuệ nhân tạo (robot trí tuệ nhân tạo) được tạo ra giống như con người là có suy nghĩ và cảm xúc, thì pháp luật phải được thay đổi để mã hóa vai trò của robot trong xã hội
[6]. Điều đó có nghĩa là các nhà làm luật phải xem xét khuôn khổ pháp lý hiện có và sửa đổi, bổ sung cho thích ứng với sự thay đổi của xã hội.
Mặc dù phạm vi hoạt động của AI chưa được pháp luật quy định cụ thể, nhưng chúng ta vẫn phải giải quyết vấn đề trách nhiệm đối với các thiệt hại do hành động của AI gây ra. Theo quy định hiện hành, các thiệt hại gây ra bởi hành động bất hợp pháp của người khác đều phải được bồi thường. Mấu chốt là cho đến thời điểm hiện tại, các nhà làm luật lại không công nhận AI là một chủ thể của pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc AI không thể chịu trách nhiệm cá nhân về những thiệt hại mà nó gây ra. Vì vậy, một loạt câu hỏi được đặt ra: AI có khả năng gây nguy hiểm và có thể gây ra thiệt hại không? AI có thể tự chịu trách nhiệm cho hành động của mình hay không? Các quy định của pháp luật được sử dụng trong các trường hợp bồi thường thiệt hại do AI gây ra là gì?
Từ những phân tích trên cho thấy, quy định về trách nhiệm liên đới nói chung, trách nhiệm liên đới trong trường hợp nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại nói riêng theo quy định của BLDS năm 2015 hiện nay còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa cụ thể, cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp cả về lý luận và thực tiễn.
3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác
Thứ nhất, kiến nghị sửa đổi đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015 theo hướng làm rõ hơn cơ sở để buộc chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải chịu trách nhiệm liên đới BTTH cùng người thi công
Có thể thấy, việc quy định buộc người thi công phải chịu trách nhiệm BTTH nếu có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD gây thiệt hại là đúng đắn và cần thiết, nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi công. Tuy nhiên, cách đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015 quy định: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường” (cùng chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác) như hiện nay là chưa rõ ràng. Quy định có thể dẫn đến cách hiểu là: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do hành vi trái pháp luật, có lỗi của một mình người thi công nhưng chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác vẫn phải liên đới BTTH cùng người thi công.
Hơn thế, việc chỉ quy định trách nhiệm BTTH của người thi công mà không quy định trách nhiệm của người khảo sát, thiết kế, giám sát... cũng là chưa phù hợp. CTXD là sản phẩm của hoạt động xây dựng bao gồm nhiều khâu do nhiều chủ thể thực hiện. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã “bỏ sót” những chủ thể khác mà chỉ quy định trách nhiệm BTTH của người thi công. Vì vậy, nên bổ sung thêm quy định chịu trách nhiệm BTTH đối với một số chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng công trình như người khảo sát, người thiết kế, người giám sát...
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi đoạn 2 Điều 605 BLDS năm 2015 theo hướng làm rõ hơn cơ sở để buộc chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải chịu trách nhiệm liên đới BTTH cùng người thi công bằng cách bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của: kiến trúc sư, kỹ sư, người giám sát, người khảo sát cùng với trách nhiệm của người thi công. Theo đó, đoạn 2 Điều 605 nên tách thành một khoản độc lập (thay vì chỉ là một đoạn như hiện nay). Cụ thể:
“2. Khi người thi công, người khảo sát, người giám sát, kiến trúc sư và kỹ sư có lỗi trong việc để CTXD gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm BTTH. Khi CTXD gây thiệt hại có một phần lỗi của người thi công, người khảo sát, giám sát, kiến trúc sư, kỹ sư thì những chủ thể này phải liên đới BTTH cùng chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác”.
Việc quy định như vậy nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thi công, người khảo sát, người giám sát, kiến trúc sư và kỹ sư thì những chủ thể này phải chịu trách nhiệm BTTH. Nếu thiệt hại xảy ra một phần do lỗi của những chủ thể này, một phần do sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác thì những chủ thể này phải liên đới chịu trách nhiệm BTTH cùng với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác.
Thứ hai, kiến nghị bổ sung quy định về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra nói chung
Như đã phân tích ở trên, BLDS năm 2015 mới chỉ quy định trách nhiệm liên đới trong trường hợp “nhiều người cùng gây thiệt hại” mà chưa có quy định về trách nhiệm liên đới trong trường hợp một tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người gây thiệt hại hoặc nhiều tài sản của nhiều chủ sở hữu cùng gây thiệt hại. Điều này đã gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp trên thực tế. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, các tác giả kiến nghị bổ sung quy định về trách nhiệm liên đới trong trường hợp tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người gây thiệt hại và nhiều tài sản của nhiều chủ sở hữu cùng gây thiệt hại cụ thể tại Điều 587 BLDS năm 2015 như sau:
Một là, bổ sung thêm khoản 2 cho Điều 587:
“2. Trách nhiệm liên đới cũng áp dụng trong trường hợp tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người gây thiệt hại hoặc nhiều tài sản của nhiều chủ sở hữu cùng gây thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của các chủ sở hữu được xác định tương ứng với mức độ gây thiệt hại của tài sản; nếu không xác định được mức độ gây thiệt hại của từng tài sản thì họ phải BTTH theo phần bằng nhau”.
Hai là, đổi lại tên gọi của điều luật: “
Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra” thành “
Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại” để bao quát cả trường hợp trách nhiệm liên đới khi tài sản gây thiệt hại./.
[1] Viện Ngôn ngữ học,
Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2003, tr. 936.
[2] Khoản 38 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014.
[3] Điều 1792-1 Bộ luật Dân sự Cộng hòa
Pháp, https://www.legifrance.gouv.fr/affichCodeArticle.do?cidTexte=LEGITEXT000006070721&idArticle=LEGIARTI000006438858
, truy cập ngày 29/12/2023.
[4] Điều 1792 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, https://www.legifrance.gouv.fr/affichCodeArticle.do?cidTexte=LEGITEXT000006070721&idArticle=LEGIARTI000006438858
, truy cập ngày 29/12/2023.
[5] Điều 1591 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, http://landwise.resourceequity.org/record/1080,
truy cập ngày 29/12/2023.