Pháp luật Vương quốc Anh và Liên bang Nga về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi và gợi mở cho Việt Nam

26/05/2026

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích quy định về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Vương quốc Anh và Liên bang Nga, trên cơ sở đó, đề xuất một số gợi mở cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Từ khóa: Pháp luật về nuôi con nuôi; thủ tục, hậu quả pháp lý; nuôi con nuôi.
Abstract: Within the scope of this article, the author analyzes regulations regarding the procedures and legal consequences of adoption under the laws of the United Kingdom and the Russian Federation. On this basis, the author proposes suggestions for the construction and improvement of legislation on this matter in Vietnam.
Keywords: Adoption law; procedures, legal consequences; adoption.
CON-NUÔI.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Nuôi con nuôi là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con, giữa người nhận con nuôi và nguời được nhận làm con nuôi. Đối với những trẻ em kém may mắn thì việc hỗ trợ tìm một gia đình thay thế, để trẻ em có một mái ấm hạnh phúc, đủ đầy tình thương yêu của cả cha và mẹ là điều rất cần thiết. Vương quốc Anh và Liên bang Nga đều ghi nhận rất sớm các quy định về nuôi con nuôi trong hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm cho tất cả trẻ em khi sinh ra đều được yêu thương, chăm sóc, trưởng thành một cách toàn diện.
1. Pháp luật Vương quốc Anh về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
1.1. Thủ tục nuôi con nuôi trong pháp luật Vương quốc Anh
(i) Giai đoạn chuẩn bị: Liên hệ với cơ quan con nuôi (adoption agency) hoặc các tổ chức có đăng ký dịch vụ con nuôi để được hướng dẫn về quy trình, cung cấp các thông tin chung về việc nuôi con nuôi. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp các dịch vụ liên quan đến việc nhận con nuôi ở Anh bao gồm cơ quan quyền lực ở địa phương, các tổ chức có đăng ký dịch vụ con nuôi gọi chung là cơ quan con nuôi[1].
Người muốn nhận con nuôi ở Anh sẽ liên hệ với cơ quan con nuôi để nhận được những tư vấn trực tiếp về trình tự, thủ tục của việc nhận con nuôi và các thông tin có liên quan. Nội dung tư vấn có thể thực hiện trực tiếp giữa người muốn nhận con nuôi và cơ quan con nuôi hoặc thông qua các buổi tọa đàm cung cấp thông tin được tổ chức bởi cơ quan con nuôi có sự tham gia của các quản lý nhóm con nuôi, nhân viên của tổ chức con nuôi và các cha mẹ nuôi có kinh nghiệm. Tại các buổi tọa đàm, người muốn nhận con nuôi sẽ được cung cấp các thông tin về việc nhận nuôi con nuôi, chia sẻ kinh nghiệm của các bậc cha mẹ đã nhận con nuôi và được giải đáp các thắc mắc về thủ tục nhận con nuôi[2].
Sau buổi gặp gỡ, tư vấn của cơ quan con nuôi, người nhận nuôi có thể liên lạc với cơ quan con nuôi để được giải đáp thêm các thông tin. Cơ quan con nuôi sẽ cử một nhân viên đến thăm nhà của người muốn nhận con nuôi. Trong lần thăm nhà đầu tiên này, nhân viên của tổ chức con nuôi sẽ lấy một số thông tin về hoàn cảnh của người nhận nuôi, đồng thời cung cấp thêm cho người muốn nhận nuôi con nuôi các thông tin về việc nhận con nuôi, cùng thảo luận chi tiết hơn về sự phù hợp giữa hoàn cảnh cá nhân, gia đình của người muốn nhận nuôi với việc nhận con nuôi để từ đó người nhận nuôi đưa ra quyết định có nên nhận nuôi con nuôi hay không. Đây là cơ hội tốt để người muốn nhận con nuôi được giải đáp thắc mắc và xem xét khả năng tác động của việc nhận con nuôi đối với cá nhân, gia đình người nhận con nuôi và đối với đứa trẻ có thể nhận nuôi, cả hiện tại và tương lai. Nếu cả hai muốn nhận con nuôi và nhân viên tổ chức con nuôi đều đồng ý tiếp tục thủ tục nhận con nuôi, người muốn nhận con nuôi sẽ gửi cho cơ quan con nuôi giấy đăng ký tài sản (Registration of Interest) (theo mẫu) trong vòng 12 tháng sau buổi tọa đàm. Trường hợp hoàn cảnh của người muốn nhận con nuôi thay đổi trước khi giấy đăng ký tài sản tới cơ quan con nuôi, họ phải báo cho cơ quan con nuôi và có thể phải sắp xếp một lần thăm nhà tiếp theo[3].
(ii) Giai đoạn chính thức đầu tiên: Đăng ký và kiểm tra thông tin, giai đoạn này được bắt đầu từ thời điểm người muốn nhận con nuôi nộp giấy đăng ký tài sản, người muốn nhận con nuôi đồng ý với cơ quan con nuôi thực hiện việc kiểm tra y tế, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về nuôi con nuôi, thực hiện các kiểm tra theo quy định. Các kiểm tra này bao gồm kiểm tra về tình trạng pháp lý của người muốn nhận con nuôi bằng việc kiểm tra hồ sơ tội phạm và kết án, tình trạng sức khỏe và nơi cư trú của người muốn nhận con nuôi. Trong giai đoạn này, người muốn nhận con nuôi sẽ tham gia vào một số nhóm chuẩn bị cho việc nhận con nuôi, được cung cấp thêm các thông tin chi tiết hơn về việc nhận con nuôi và tham gia các khóa tập huấn ngắn hạn về nuôi con nuôi. Các khóa tập huấn thường kéo dài trong vài ngày, là cơ hội để người muốn nhận con nuôi có được các thông tin bổ ích về việc nuôi con nuôi, cũng là cơ hội để gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm với những cha mẹ nuôi tương lai khác đang ở giai đoạn tương tự. Việc tham gia những khóa tập huấn là bắt buộc đối với người muốn nhận nuôi con nuôi và đối với trường hợp người muốn nhận con nuôi là cặp đôi thì cả hai phải tham gia các khóa tập huấn đầy đủ cùng nhau[4].
Giai đoạn này thường kéo dài trong một vài tháng, phụ thuộc vào quá trình cơ quan con nuôi thu thập, kiểm tra các thông tin về người muốn nhận nuôi nhanh hay chậm. Kết thúc giai đoạn này, cơ quan con nuôi sẽ thông báo cho người muốn nhận con nuôi về việc họ có đáp ứng điều kiện để nhận con nuôi hay không. Đồng thời, người nhận nuôi cũng được tự quyết định có tiếp tục thực hiện thủ tục nhận con nuôi hay không, cho dù họ đủ điều kiện. Người muốn nhận con nuôi được quyền suy nghĩ để đưa ra quyết định trong thời hạn 06 tháng sau khi kết thúc giai đoạn đầu tiên (thời gian đệm giữa giai đoạn đầu tiên và giai đoạn hai là 06 tháng).
(iii) Giai đoạn đánh giá tổng thể: Trong chuyến thăm nhà để đánh giá tổng thể đầu tiên đối với người muốn nhận con nuôi, nhân viên tổ chức con nuôi sẽ tham gia vào kế hoạch đánh giá tổng thể hoặc thỏa thuận lần hai đối với người muốn nhận con nuôi, nêu chi tiết quy trình, ngày họp của hội đồng xét việc nhận con nuôi mà người muốn nhận con nuôi đang hướng tới. Trong quá trình này, nhân viên tổ chức con nuôi sẽ chia sẻ thêm thông tin, kinh nghiệm với người muốn nhận con nuôi. Người muốn nhận con nuôi sẽ được cung cấp thông tin về những đứa trẻ cần được nhận nuôi. Thời gian đánh giá tổng thể giúp người muốn nhận con nuôi xem xét cẩn thận và trung thực những gì họ muốn từ việc nhận con nuôi và những gì có thể đáp ứng cho một đứa trẻ. Trong thời gian giúp người muốn nhận con nuôi tìm hiểu về việc nhận con nuôi và chuẩn bị hồ sơ cho người muốn nhận con nuôi. Nhân viên tổ chức con nuôi sẽ hỏi người muốn nhận con nuôi về hoàn cảnh gia đình, những trải nghiệm thời thơ ấu và khi trưởng thành, các mối quan hệ và hoàn cảnh hiện tại. Nếu người nhận nuôi đã kết hôn hoặc đang chung sống như vợ chồng với người khác, nhân viên của tổ chức con nuôi sẽ gặp mặt cả hai người hoặc một mình người nhận nuôi, thời gian sẽ là 04 tháng để hoàn thành. Những đánh giá tổng thể kỹ lưỡng ở giai đoạn này nhằm bảo đảm chắc chắn người muốn nhận nuôi có hoàn cảnh, điều kiện phù hợp với vai trò của cha mẹ nuôi thay thế.
Kết thúc việc đánh giá tổng thể, nhân viên tổ chức con nuôi sẽ giúp người muốn nhận con nuôi chuẩn bị hồ sơ cha mẹ nuôi tương lai (prospective adopters report – PAR). Trong hồ sơ nêu rõ điều kiện, hoàn cảnh của người muốn nhận con nuôi, những thông tin y tế, pháp lý, các thông tin khác có liên quan của họ và đặc biệt là những đặc điểm của trẻ em mà người muốn nhận con nuôi có thể nhận nuôi. Sau khi hồ sơ chi tiết được hoàn thành, một Hội đồng con nuôi được thành lập để xem xét việc nhận con nuôi. Hội đồng gồm: Chủ tịch, nhân viên tổ chức con nuôi, các chuyên gia khác, một người đã từng nhận con nuôi và có thể có người đã từng được nhận nuôi. Hội đồng sẽ xem xét về khả năng của người muốn nhận con nuôi có phù hợp với việc nuôi con nuôi. Người muốn nhận con nuôi sẽ được mời đến dự cuộc họp Hội đồng để nghe những khuyến nghị về việc nhận con nuôi. Toàn bộ nội dung cuộc họp Hội đồng, hồ sơ cha mẹ nuôi tương lai và các giấy tờ liên quan sẽ được gửi đến người có thẩm quyền ra quyết định việc nhận nuôi con nuôi, một lãnh đạo cấp cao của cơ quan con nuôi sẽ ra quyết định cuối cùng dựa trên hồ sơ và đề nghị của Hội đồng[5].
(iv) Kết nối người nhận nuôi với trẻ em phù hợp: Nếu người có thẩm quyền của cơ quan con nuôi ra quyết định chấp nhận việc nhận con nuôi thì giai đoạn này sẽ được tiến hành. Nhân viên tổ chức con nuôi liên hệ với người nhận nuôi, phác thảo cách mà cơ quan con nuôi sẽ tìm kiếm đứa trẻ cần nhận nuôi phù hợp. Cơ quan con nuôi sẽ xem xét liệu có trẻ em đang chờ nhận con nuôi tại địa phương có thể phù hợp với nguời nhận nuôi không. Nếu không có trẻ em địa phương nào được xác định là phù hợp, cơ quan con nuôi sẽ cùng người nhận nuôi tìm kiếm trẻ em tại khu vực khác thông qua cơ chế Đăng ký con nuôi quốc gia (National Adoption Register). Khi có ứng viên xác định, nhân viên tổ chức con nuôi sẽ chuyển một báo cáo chi tiết về trẻ em với người nhận nuôi. Nếu sau khi đọc báo cáo này và cân nhắc thận trọng, người nhận nuôi thấy có thể đáp ứng nhu cầu của trẻ em và thấy phù hợp để nhận làm con nuôi, họ sẽ được giới thiệu với nhân viên tổ chức con nuôi phụ trách đứa trẻ, người chăm sóc nuôi dưỡng, nhân viên nhà trẻ hoặc trường học, chuyên gia y tế… để được sẽ chia sẻ thông tin chi tiết về đứa trẻ. Nếu cả người nhận nuôi và nhân viên tổ chức con nuôi đều đồng ý về sự kết nối đó thì sẽ báo cáo đến Hội đồng kết nối con nuôi (adoption matching panel). Hội đồng kết nối con nuôi gửi đề xuất đến người có thẩm quyền ra quyết định của cơ quan con nuôi, người này sẽ quyết định chính thức có đồng ý việc nhận nuôi với đứa trẻ đó hay không. Sau khi có quyết định chấp nhận việc kết nối người nhận nuôi và đứa trẻ, người nhận nuôi, nhân viên tổ chức con nuôi phụ trách người nhận nuôi, nhân viên tổ chức con nuôi phụ trách đứa trẻ, người nuôi dưỡng, chăm sóc đứa trẻ gặp mặt để lên kế hoạch chuẩn bị tất cả những điều cần thiết để giới thiệu đứa trẻ với người nhận nuôi. Quá trình giới thiệu làm quen giữa trẻ em và cha mẹ nuôi có thể kéo tài từ 2 đến 4 tuần, tuỳ thuộc vào độ tuổi và trẻ em được nhận nuôi.
(v) Đăng ký quan hệ lâu dài với Tòa án: Sau thời gian hỗ trợ khi giao trẻ em về sống cùng với người nhận nuôi và sau một thời gian trẻ em thích nghi với gia đình cha mẹ nuôi, một cuộc họp được tiến hành giữa bên nhận nuôi và tổ chức con nuôi đánh giá việc chăm sóc trẻ tại gia đình mới và thời điểm nộp đơn xin nhận con nuôi. Với sự hỗ trợ của nhân viên tổ chức con nuôi, người nhận nuôi nộp đơn cho Tòa án, Tòa án sẽ ban hành một lệnh xác nhận việc nhận nuôi con nuôi[6] và người nhận nuôi con nuôi trở thành cha mẹ hợp pháp của đứa trẻ, có đầy đủ các quyền và trách nhiệm đối với trẻ em được nhận làm con nuôi, trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi có thể được thay đổi họ theo họ của người nhận nuôi.
1.2. Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi trong pháp luật Vương quốc Anh
(i) Mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi: Một đứa trẻ được nhận làm con nuôi theo pháp luật Anh thì sẽ có đầy đủ các quyền của một đứa trẻ sinh học (con đẻ). Về mặt pháp lý, trẻ em được nhận làm con nuôi có đầy đủ các quyền như một đứa trẻ được sinh ra từ cha mẹ nuôi (đặc biệt là quyền thừa kế như con đẻ). Một đứa trẻ được nhận nuôi hợp pháp bởi công dân Anh sẽ được đối xử như một công dân Anh, bất kể đứa trẻ đó sinh ra ở nước nào: “Một người được nhận nuôi phải được đối xử theo pháp luật như được sinh ra là con của người nhận nuôi hoặc những người nhận nuôi; Một người nhận nuôi là con hợp pháp của người nhận nuôi hoặc những người nhận nuôi[7]. Pháp luật Anh cũng quy định trường hợp đứa trẻ được nhận nuôi bởi một người đang trong quan hệ hôn nhân hoặc kết hợp dân sự thì đứa trẻ không đương nhiên được coi là con về mặt pháp lý của người còn lại trong cặp đôi đó[8]. Con nuôi được nhận thừa kế từ cha mẹ nuôi tương tự như con đẻ. Nếu một người chết đi không để lại di chúc, người con nuôi sẽ được nhận phần di sản thừa kế bằng với phần di sản thừa kế của con đẻ.
(ii) Mối quan hệ giữa con nuôi và họ hàng gia đình nhận nuôi: Bất kỳ mối quan hệ họ hàng ở mức độ nào trong quan hệ nuôi con nuôi được hiểu là người thân ở mức độ đó. Nghĩa là ông nuôi, bà nuôi, bác nuôi, chú nuôi, cô nuôi, dì nuôi, anh nuôi, chị nuôi, em nuôi… của đứa trẻ được nhận nuôi[9].
(iii) Mối quan hệ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và gia đình gốc: Khi đứa trẻ được nhận nuôi, trách nhiệm của cha mẹ đẻ đối với đứa trẻ chấm dứt. Theo quy tắc Intestacy, nếu một đứa trẻ mồ côi sau cái chết của cha mẹ ruột, đứa trẻ đó vẫn có quyền thừa kế từ cha mẹ đẻ. Nếu đứa trẻ được nhận nuôi và sau đó cha mẹ của trẻ đã qua đời, thì đứa trẻ đó không được hưởng bất kỳ quyền thừa kế nào đối với di sản cha mẹ ruột. Việc trẻ em được người khác nhận làm con nuôi làm mất đi quyền được thừa kế theo pháp luật từ cha mẹ ruột của đứa trẻ.
 Bên cạnh đó, pháp luật Vương quốc Anh còn quy định trẻ em đủ 18 tuổi có quyền được biết về gia đình gốc của mình. Khi có đơn yêu cầu của người được nhận làm con nuôi từ đủ 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp các thông tin về họ tên, nơi cư trú của cha mẹ đẻ của người được cho làm con nuôi đó; đồng thời, trẻ em được cho làm con nuôi khi đã biết được nguồn gốc gia đình sinh học của mình thì hoàn toàn có quyền tìm về gia đình gốc của mình, không cần phải có sự đồng ý của cha mẹ nuôi.
2. Pháp luật Liên bang Nga về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
2.1. Thủ tục nuôi con nuôi trong pháp luật Liên bang Nga
Pháp luật Liên bang Nga quy định, người muốn nhận con nuôi bắt buộc phải có đơn đề nghị xin nhận nuôi con nuôi. Đơn đề nghị nhận nuôi con nuôi cần gửi đến cơ quan cấp tỉnh nơi cư trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc nơi trẻ em được cho làm con nuôi cư trú để được giải quyết. Hồ sơ gồm: Giấy khai sinh của trẻ em được nhận làm con nuôi; văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe của người nhận nuôi con nuôi; văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân; giấy tờ, tài liệu để chứng minh người nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; tài liệu xác nhận các khoản tài chính của người nhận nuôi con nuôi.
Trong những trường hợp nhất định, pháp luật Liên bang Nga quy định, việc nhận nuôi con nuôi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ; hoặc có sự đồng ý bằng văn bản của người nuôi dưỡng thay thế nếu trẻ em đang được nuôi dưỡng tại gia đình; hoặc có sự đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, giáo dục, cơ sở chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội nếu trẻ em đang được nuôi dưỡng tại đó. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích của đứa trẻ, Tòa án có quyền ra quyết định việc nuôi con nuôi mà không cần sự đồng ý của các chủ thể trên. Quy định này là khác biệt so với pháp luật Việt Nam, tránh tình trạng các chủ thể trên vì những lý do không chính đáng hoặc lý do cá nhân cản trở việc nuôi con nuôi, không đồng ý cho trẻ em đi làm con nuôi[10].
2.2. Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi trong pháp luật Liên bang Nga
(i) Quan hệ giữa người được nhận nuôi với người nhận nuôi con nuôi và những mối quan hệ trong gia đình liên quan đến việc nuôi con nuôi: Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga, khi làm con nuôi của gia đình khác, trẻ em được quyền giữ lại họ và tên của mình, tuy nhiên nếu cha mẹ nuôi muốn đổi họ tên con nuôi sang họ của mình và đặt lại tên khác cho con nuôi thì sẽ được xác định theo họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Tuy nhiên, đối với trẻ em từ đủ 10 tuổi trở lên, việc thay đổi họ, tên của trẻ bắt buộc phải hỏi ý kiến và có sự đồng ý của trẻ. Việc thay đổi phải được ghi trong quyết định của Tòa án về nuôi con nuôi, đây chính là cơ sở để thay đổi các thông tin cá nhân trong giấy tờ hộ tịch của con nuôi. Bên cạnh đó, việc thay đổi ngày sinh và nơi sinh của con nuôi có thể được thực hiện theo yêu cầu của cha mẹ nuôi để bảo đảm bí mật của việc nuôi con nuôi với điều kiện không thay đổi lệch tối đa 03 tháng so với ngày sinh thực tế của trẻ và chỉ được phép thay đổi ngày sinh khi trẻ em đó đang trong độ tuổi dưới 01 tuổi; trường hợp được Tòa án đồng ý thì có thể thay đổi ngày sinh của trẻ có độ tuổi từ 01 tuổi trở lên. Việc thay đổi ngày sinh, nơi sinh này được ghi trong quyết định của Tòa án về nuôi con nuôi[11].
(ii) Quan hệ giữa người đã làm con nuôi người khác với gia đình gốc: Điều 137 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga quy định: “Trẻ em được cho làm con nuôi chấm dứt quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản đối với cha mẹ đẻ”. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng cho con đi làm con nuôi người khác thì có thể vẫn duy trì quyền và nghĩa vụ giữa người con đó với bên chồng hoặc vợ còn lại. Hoặc nếu một trong hai bên cha mẹ đẻ của đứa trẻ đi làm con nuôi chết thì theo đề nghị của cha mẹ còn lại có thể vẫn duy trì quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản với họ hàng gia đình gốc khi điều đó là cần thiết cho lợi ích của đứa trẻ. Việc duy trì mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ đã đi làm con nuôi được ghi trong quyết định Tòa án về nuôi con nuôi.
(iii) Chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi: Pháp luật Liên bang Nga quy định rất cụ thể về các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (đặc biệt quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi) sau khi quan hệ nuôi con nuôi bị hủy[12]: Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi, họ hàng của cha mẹ nuôi với người con nuôi cũng chấm dứt; quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi với cha mẹ đẻ, họ hàng ruột thịt của cha mẹ đẻ được khôi phục lại như ban đầu nếu trẻ em có yêu cầu. Việc khôi phục quan hệ với gia đình gốc (gia đình sinh học) trong pháp luật Liên bang Nga không đương nhiên mà phải vì lợi ích của trẻ em đã được cho làm con nuôi. Đây là điểm khác biệt rất cụ thể giữa pháp luật Liên bang Nga với pháp luật Việt Nam hiện hành về nuôi con nuôi. Pháp luật Liên bang Nga quy định sau khi huỷ quan hệ nuôi con nuôi giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, trẻ em được giao lại cho cha mẹ đẻ. Nếu không có cha mẹ đẻ hoặc việc giao trẻ em cho cha mẹ đẻ đi ngược lại với lợi ích của đứa trẻ thì đứa trẻ được giao cho cơ quan giám hộ chăm sóc. Quy định này thể hiện rất rõ quan điểm lập pháp của Liên bang Nga rằng, tất cả vì lợi ích của trẻ em. Đồng thời, Tòa án khi giải quyết huỷ việc nuôi con nuôi sẽ giải quyết luôn vấn đề có cho trẻ em tiếp tục giữ họ tên đang dùng từ khi được nhận làm con nuôi không, nếu đứa trẻ 10 tuổi trở lên sẽ hỏi ý kiến của trẻ em đó. Một vấn đề khá đặc biệt của pháp luật Liên bang Nga là người đã từng là cha mẹ nuôi sẽ phải trả tiền chăm sóc trẻ em theo mức mà pháp luật quy định vì lợi ích của trẻ em đó đến khi trẻ em đủ tuổi thành niên và tự lo được cho cuộc sống của mình. Mặc dù việc nuôi con nuôi đã chấm dứt nhưng giữa họ vẫn có thể tồn tại một mối quan hệ về tài sản vì lợi ích của trẻ em đã từng làm con nuôi.
3. Một số gợi mở cho Việt Nam
Qua nghiên cứu pháp luật Vương quốc Anh và Liên bang Nga về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, trên cơ sở đối chiếu quy định tương ứng trong pháp luật Việt Nam, có thể thấy rằng, pháp luật của ba quốc gia về vấn đề này không có quá nhiều khác biệt. Nhìn chung, pháp luật của Vương quốc Anh, Liên bang Nga và Việt Nam đều quy định một số thủ tục pháp lý cơ bản đối với người nhận nuôi con nuôi như: Phải xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng hôn nhân, kiểm tra y tế về tình trạng sức khỏe có bảo đảm cho việc chăm sóc nuôi dưỡng con nuôi hay không và xác nhận tình trạng tư pháp. Các nội dung đó nhằm bảo đảm cho trẻ em được nhận làm con nuôi có một cuộc sống an toàn, được chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển một cách toàn diện. Về hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, về cơ bản, pháp luật của cả ba nước đều thừa nhận quyền và trách nhiệm giữa cha mẹ nuôi và con nuôi giống với quyền và trách nhiệm của cha mẹ đẻ đối với con đẻ, nghĩa là có sự bình đẳng về quyền giữa con đẻ với con nuôi, bao hàm cả quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập và quyền thừa kế đối với di sản của cha mẹ.
Bên cạnh những điểm tương đồng như trên, giữa pháp luật Vương quốc Anh, Liên bang Nga và Việt Nam về thủ tục và hậu quả pháp lý của việcnuôi con nuôi cũng có sự khác biệt. Cụ thể :
Thứ nhất, về xây dựng hệ thống tổ chức dịch vụ hỗ trợ việc nhận nuôi con nuôi, pháp luật Vương quốc Anh quy định khá chặt chẽ. Theo quy định của pháp luật Vương quốc Anh, thủ tục nhận nuôi con nuôi được bắt đầu bằng việc người muốn nhận nuôi con nuôi liên hệ làm việc với cơ quan quản lý đối với tổ chức nuôi con nuôi để được cơ quan này hỗ trợ về thông tin, hướng dẫn thủ tục nhận nuôi con nuôi, tìm kiếm con nuôi phù hợp, hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ nhận nuôi con nuôi… Các tổ chức nuôi con nuôi ở Anh có thể là tổ chức của Nhà nước hoặc của tư nhân. Các tổ chức này được trao quyền thực hiện đầy đủ các thủ tục, hoàn thiện các giấy tờ cần thiết trước khi nộp hồ sơ chính thức tới Tòa án, cơ quan có thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi ở Anh. Ngược lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi có khó khăn trong việc tìm trẻ em phù hợp để nhận con nuôi, người muốn nhận con nuôi chỉ có thể tìm kiếm sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý việc cho nhận con nuôi (Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Điều này, một mặt gây quá tải cho hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, đồng thời chính cơ quan đó chỉ thực hiện việc hỗ trợ cho người muốn nhận nuôi con nuôi, còn việc tìm kiếm trẻ em có nhu cầu được nhận làm con nuôi, các thủ tục khác không thuộc thẩm quyền hay hướng dẫn của Sở Tư pháp. Do vậy, để hỗ trợ được tối đa người muốn nhận con nuôi, pháp luật Việt Nam nên tham khảo mô hình như ở Vương quốc Anh. Hệ thống các tổ chức nuôi con nuôi  này sẽ có nhiệm vụ quản lý các đối tượng trẻ em có thể được nhận làm con nuôi đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở nuôi dưỡng, các cơ sở bảo trợ xã hội; tiếp nhận, tư vấn cho người có mong muốn nhận nuôi con nuôi về thủ tục, trình tự thực hiện: xác minh điều kiện, hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe, tình trạng hôn nhân, tình trạng tư pháp của người muốn nhận nuôi con nuôi; đánh giá trực tiếp hoàn cảnh của người muốn nhận con nuôi để tìm kiếm đứa trẻ phù hợp; quyết định về việc tiếp tục làm thủ tục nhận con nuôi; chuẩn bị các giấy tờ cần thiết cho hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi.
Thứ hai, về cơ quan có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi, theo quy định của pháp luật Việt Nam, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan có thẩm quyền đánh giá điều kiện của người muốn nhận con nuôi, ra quyết định chấp nhận việc đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi. Trong khi đó, cơ quan giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc nuôi con nuôi hoặc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi lại thuộc thẩm quyền của Tòa án. Vì vậy, có thể dẫn tới khó khăn trong việc thu thập thông tin để giải quyết những tranh chấp nói trên. Do đó, pháp luật Việt Nam hiện hành về nuôi con nuôi nên nghiên cứu quy định theo hướng cơ quan có thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi là Tòa án giống như mô hình trong pháp luật Vương quốc Anh.
Thứ ba, về thủ tục làm quen giữa con nuôi và người nhận nuôi con nuôi, pháp luật về nuôi con nuôi hiện hành của Việt Nam chưa có quy định về giai đoạn làm quen giữa trẻ em được nhận nuôi với người nhận nuôi con nuôi và gia đình của họ như là một thủ tục hành chính bắt buộc trong quá trình nhận nuôi con nuôi trước khi tiến hành đăng ký chính thức việc nuôi con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền. Việc chưa quy định nội dung này có thể dẫn đến việc giải quyết các hậu quả trở nên phức tạp trong trường hợp đứa trẻ được nhận nuôi không thể hòa nhập được với cuộc sống của gia đình cha mẹ nuôi. Việc quy định giai đoạn làm quen giữa trẻ em được nhận nuôi con nuôi với cha mẹ nuôi và gia đình người nhận nuôi kéo dài khoảng từ 15 đến 30 ngày như quy định của pháp luật Vương quốc Anh là hợp lý. Người nhận nuôi con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi sẽ có buổi gặp gỡ ban đầu tại cơ sở nuôi dưỡng nơi trẻ em đang sinh sống hoặc tại gia đình sinh học của trẻ em, sau đó chuyển nơi gặp gỡ về gia đình người nhận nuôi để trẻ em tập thích nghi với môi trường sống mới trước khi làm thủ tục cho nhận con nuôi.
Thứ tư, đối với hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, pháp luật Việt Nam nên tham khảo pháp luật Liên bang Nga khi quy định hậu quả chấm dứt việc nuôi con nuôi. Có nghĩa là sau khi quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt thì đứa trẻ đó sẽ không đương nhiên được trao trả về cho bố mẹ đẻ hoặc cơ sở nuôi dưỡng nếu trước đó trẻ em là trẻ bị bỏ rơi hoặc trẻ mồ côi. Nếu việc giao trẻ em cho cha mẹ đẻ làm cho đứa trẻ bất lợi thì có thể xem xét việc giao trẻ em cho những người thân thích của trẻ em theo thứ tự ưu tiên nhất định. Chỉ khi không có người thân thích thì mới giao trẻ em đó cho các cơ sở nuôi dưỡng./.

[1] Điều 2 và Điều 3 Luật Nuôi con nuôi và trẻ em năm 2002 của Vương quốc Anh, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2002/38/contents, truy cập ngày 21/11/2025.
[2] On Adoption “The Step by Step Adoption Process”, http://www.oneadoption.co.nk/cites/defauls/Files/resourees, truy cập ngày 20/01/2026.
[3] Buckinghamshire County Council’s Adoption Agency “Guide to Adoption”, nguồn: http://old.bukcsee.gov.vn, truy cập ngày 22/01/2026.
[4] One Adoptrion “The Step by Step Adoptrion Prosess”, tlđd.
[5] One Adoptrion “The Step by Step Adoptrion Prosess”, tlđd.
[6] Buckinghamshire County Council’s Adoption Agency, “Guide to Adoption”, tlđd.
[7] Điều 67 Luật Nuôi con nuôi và trẻ em năm 2002 của Vương quốc Anh, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2002/38/contents, truy cập ngày 21/11/2025.
[8] Điểm a khoản 1 Điều 67 Luật Nuôi con nuôi và trẻ em năm 2002 của Vương quốc Anh quy định: “Người được nhận nuôi không được đối xử về mặt pháp lý giống như con của người còn lại trong cặp đôi ngoài người trực tiếp nhận nuôi, nếu được nhận nuôi bởi một người trong một cặp đôi theo quy định tại Điều 51 (một người của cặp đôi nhận nuôi)”.
[9] Điểm b khoản 1 Điều 68 Luật Nuôi con nuôi và trẻ em năm 2002 của Vương quốc Anh, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/2002/38/contents, truy cập ngày 21/11/2025.
[10] Điều 131 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.
[11] Điều 135 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.
[12] Điều 143 Bộ luật Gia đình Liên bang Nga.