Mô hình xét xử hành chính trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
20/05/2026
Tóm tắt: Những vấn đề mới của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) dẫn đến nhu cầu sửa đổi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 trong thời gian tới. Trong đó, có nhu cầu đánh giá lại mô hình xét xử hành chính của Việt Nam theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2024, 2025) về cơ bản là sự kế thừa mô hình xét xử hành chính từ khi mới thành lập theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1996. Trong bối cảnh pháp luật hành chính ở nhiều quốc gia trên thế giới có những thay đổi nhất định trong vài thập kỷ qua, bài viết này tìm hiểu những phát triển mới về các mô hình xét xử hành chính của một số quốc gia và rút ra những kinh nghiệm, gợi mở cho Việt Nam.
Từ khóa: Mô hình xét xử hành chính; tài phán hành chính; tố tụng hành chính.
Abstract: New issues arising from the Law on the Organization of People’s Courts 2024 (amended and supplemented in 2025) create the need to revise the Law on Administrative Procedure 2015 in the coming time. Among these is the necessity to reassess Vietnam’s model of administrative adjudication under the Law on Administrative Procedure 2015 (amended and supplemented in 2019, 2024, and 2025), which essentially inherits the model established under the Ordinance on Procedures for Settling Administrative Cases of 1996. In the context of administrative law in many countries undergoing changes over the past decades, this article explores new developments in administrative adjudication models across several jurisdictions and draws lessons and implications for Vietnam.
Keywords: Administrative adjudication model; administrative jurisdiction; administrative procedures.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Các mô hình xét xử hành chính trên thế giới
Dựa trên những quan niệm khác nhau về hoạt động tài phán hành chính và do những yếu tố mang tính chất lịch sử, truyền thống pháp lý, điều kiện chính trị - xã hội và tập quán, mỗi quốc gia tìm ra những giải pháp riêng cho mình cho tổ chức và hoạt động xét xử hành chính. Từ đó, tổ chức cũng như phạm vi thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính các nước trên thế giới khá đa dạng, có thể được khái quát hóa thành bốn mô hình chính.
1.1. Mô hình Pháp: Cơ quan tài phán hành chính (Tòa án hành chính) độc lập và gắn bó chặt chẽ với nền hành chính quốc gia
Ở Pháp, có các Tòa án hành chính độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ với nền hành chính quốc gia thông qua việc giao thêm cho Tòa án hành chính chức năng tư vấn pháp lý nhất là ở cấp trung ương với các Hội đồng Nhà nước (le Conseil d`Etat). Các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bỉ, Italia, Ai Cập, Côlômbia cũng theo mô hình Pháp.
Có hai lý do làm cơ sở của hệ thống này. Một là, xuất phát từ sự giải thích về phân quyền, sự phân chia ba nhánh quyền lực dẫn đến việc từ chối việc giao cho các Tòa án thường thẩm quyền xét xử các cơ quan hành chính. Vì vậy, quyền lực hành chính tự tổ chức cơ quan tài phán riêng cho mình. Hai là, sự gắn bó giữa cơ quan tài phán hành chính với hoạt động hành chính được hình thành trên cơ sở coi nền hành chính là thống nhất bởi hai bộ phận: hành chính hành động, hay hành chính quản lý (administration active) và hành chính tài phán (administration contentieuse) và với lý thuyết cho rằng chỉ có như vậy mới bảo đảm yêu cầu về tính chuyên nghiệp của cơ quan này bởi vì việc xét xử được thực hiện bởi một Tòa án chuyên trách, có hiểu biết sâu sắc lĩnh vực quản lý công, tôn trọng các ưu quyền của cơ quan hành chính cần thiết cho sự vận hành và bảo đảm lợi ích chung. Điều này khó có thể có được đối với một cơ quan xét xử thông thường.
Điều đó dẫn đến việc phân biệt rõ ràng giữa thẩm phán hành chính và thẩm phán tư pháp. Thẩm phán hành chính của Pháp được đào tạo chủ yếu tại Học viện Hành chính quốc gia, nhiều người được tuyển chọn từ các công chức hành chính, trong khi thẩm phán tư pháp lại được đào tạo tại Trường Thẩm phán quốc gia. Một vấn đề nữa làm sâu sắc thêm sự phân chia giữa hai ngành tài phán đó là sự phân chia hệ thống pháp luật thành hai bộ phận: luật công và luật tư. Tòa án hành chính sẽ giải quyết các tranh chấp liên quan đến luật công còn Tòa án tư pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến việc áp dụng luật tư.
Hệ thống này có những ưu điểm rõ ràng, nhưng cũng có những điểm gây tranh cãi. Một là, sự nghi ngờ về tính khách quan của hoạt động xét xử hành chính. Sự gắn bó giữa các Tòa án hành chính với cơ quan hành chính, đối tượng xét xử hành chính khiến cho nhiều ý kiến e ngại rằng Tòa án sẽ chú ý nhiều hơn đến việc bảo vệ các lợi ích công mà cơ quan hành chính là người đại diện mà không mấy lo lắng cho lợi ích của người khởi kiện. Điều này càng rõ ở cơ quan tài phán hành chính tối cao (Hội đồng Nhà nước hay Tham chính viện), nơi các thẩm phán hành chính đồng thời cũng là các cố vấn cho Chính phủ về các vấn đề pháp luật. Hai là, sự tồn tại của hai ngành tài phán riêng rẽ đôi khi sẽ nảy sinh những tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vì không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng xác định bản chất của tranh chấp thuộc thẩm quyền tài phán của cơ quan nào. Vậy nên có tình trạng cả hai ngành tài phán đều cho là mình có thẩm quyền giải quyết (gọi là tranh chấp tích cực) hoặc ngược lại đều nói rằng mình không có trách nhiệm giải quyết (gọi là tranh chấp tiêu cực). Thậm chí, ở Pháp, người ta còn phải thành lập ra cả một cơ quan giải quyết loại tranh chấp này (Tòa phân định thẩm quyền - Tribunal des conflits).
Về tổ chức tài phán hành chính của Pháp, Hội đồng Nhà nước
[1] là đỉnh chóp của hệ thống Tòa án hành chính, được coi là Tòa án hành chính tối cao tồn tại song song với Tòa Phá án - cơ quan xét xử cao nhất của hệ thống Tòa án thường. Với tư cách là cơ quan tư vấn, Hội đồng Nhà nước tư vấn cho Chính phủ trong việc ban hành các dự án luật liên quan đến lĩnh vực hành pháp, đưa ra lời khuyên cho Chính phủ về những vấn đề xung đột với các nguyên tắc của Hiến pháp, cũng như các đạo luật trong nước và điều ước quốc tế.
Dưới Hội đồng Nhà nước là các Tòa án hành chính phúc thẩm, bao gồm 8 tòa án, trong đó Tòa án hành chính phúc thẩm Versailles mới được thành lập năm 2004. Tòa án hành chính vùng là Tòa án cấp thấp nhất, với 41 đơn vị trên toàn nước Pháp, trong đó có 30 tòa nằm trong lãnh thổ chính của Pháp và 11 nằm ở các khu vực khác nhau trên thế giới thuộc lãnh thổ Pháp.
1.2. Mô hình Đức: Hệ thống cơ quan tài phán hành chính chỉ làm nhiệm vụ xét xử hành chính
Điển hình cho mô hình này là: Cộng hòa Liên bang Đức, Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào Nha, Mêhico, Thái Lan… Ở những nước này, các cơ quan xét xử hành chính được tổ chức thành một hệ thống độc lập song song với các Tòa án tư pháp. Mặc dù có sự phân chia giữa hai ngành luật công và luật tư nhưng các thẩm phán được đào tạo chung, không có sự phân biệt giữa thẩm phán tư pháp và thẩm phán hành chính.
- Tài phán hành chính ở Đức
Sự xuất hiện nền tài phán hành chính hiện đại ở Cộng hòa Liên bang Đức có nguồn gốc từ nửa sau của thế kỷ thứ XIX. Sự bảo vệ pháp luật một cách toàn diện và triệt để của người dân trước nhà nước rõ ràng là được thiết lập cho tới sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II.
Thế kỷ thứ XIX ở nước Đức là thế kỷ của sự khởi xướng và định hình của giới tư sản. Dưới thời quân chủ lập hiến, những đặc quyền của các đẳng cấp dần dần bị thu hẹp. Do ảnh hưởng của những tư tưởng tự do, ý tưởng về một xã hội công dân, tức là một xã hội trong đó người dân bình đẳng với nhau, dần dần được thể hiện. Ý tưởng này theo đuổi một xã hội hiện đại trong đó các quyền cá nhân được tôn trọng. Vai trò của các nhà quân chủ cũng như bộ máy công chức của họ không còn được nhìn nhận có thể chăm sóc toàn diện về hạnh phúc cho các thần dân kể cả trong lĩnh vực đời tư như trước kia nữa. Chức năng chính của nhà nước thu hẹp lại trong khuôn khổ của việc định ra các quy tắc chuẩn mực xử sự của các cá nhân, loại bỏ những ảnh hưởng xấu trong quan hệ cộng đồng. Điều đó có nghĩa là mục đích hoạt động chủ yếu của bộ máy nhà nước là duy trì an toàn xã hội và trật tự công cộng.
Sự thay đổi quan niệm trên đây về nhà nước phản ánh trong sự phát triển của pháp luật. Một mặt, tách biệt giữa nhà nước và xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất hiện một sự phân biệt rõ ràng giữa luật công và luật tư. Trong khi luật tư đề cập đến những quan hệ pháp luật giữa các cá nhân theo nguyên tắc bình đẳng thì luật công có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ pháp luật giữa công dân và nhà nước. Mặt khác, luật thành văn và luật thực định đã dần dần hình thành và ngày càng phát triển. Nhà nước không thể quản lý xã hội chỉ dựa trên một vài nguyên tắc cơ bản chung chung với nhiều ý nghĩa mà tư tưởng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi cơ quan công quyền chỉ được phép can thiệp vào hoạt động của xã hội chỉ trên những căn cứ được phép, được xác định chính xác về mặt pháp luật. Quan điểm này gần giống như một nguyên tắc ở Pháp: Công quyền chỉ được làm những điều mà luật quy định.
Khi mà các đạo luật thực hiện chức năng của mình với tư cách là phương tiện chống lại sự chuyên chế của nhà nước thì tất nhiên cũng phải tìm kiếm những phương tiện nhằm thi hành đạo luật đó về mặt thực tế. Có nghĩa là phải có một cơ chế để kiểm soát hoạt động của bộ máy Nhà nước, bảo đảm hoạt động của nó theo đúng khuôn khổ mà pháp luật cho phép, không được lạm quyền, lộng quyền. Điều đó đòi hỏi tất yếu phải có hoạt động tài phán hành chính.
Ở nửa đầu thế kỷ thứ XIX đã tồn tại ở Đức cái gọi là tư pháp hành chính. Bộ máy hành chính tổ chức ra các cơ quan chuyên trách để giải quyết các việc kiện tụng về hành chính. Với tính chất là một bộ phận của hệ thống hành chính, những cơ quan này không có thẩm phán độc lập mà chỉ có công chức hành chính đảm nhiệm việc giải quyết kiện tụng. Tuy nhiên, cũng như ở Pháp, dần dần người ta nhận ra rằng đây là một hình thức tự kiểm tra của hệ thống hành chính. Tuy có một số ưu điểm, nhưng không đủ cho sự đảm bảo pháp luật một cách hữu hiệu cho công dân và từ đó dẫn đến yêu cầu ngày càng rõ rệt phải có một sự đảm bảo mạnh mẽ hơn nữa thông qua các Tòa án độc lập. Tư tưởng này thể hiện vào nửa sau thế kỷ thứ XIX. Trong cuốn “Nhà nước pháp quyền” của Otto Beahr xuất bản năm 1964, tác giả đã viết: “Pháp luật và đạo luật chỉ có thể giành được ý nghĩa và quyền lực thực sự ở nơi nó sẵn sàng tìm thấy một sự phán quyết về việc thi hành chúng”.
Khi đã đi đến một quyết định cơ bản là cần thiết phải tổ chức việc kiểm tra hoạt động hành chính theo con đường Tòa án thì cùng với nó sẽ đặt ra vấn đề: Việc kiểm tra này sẽ giao cho các Tòa án thường (Tòa án tư pháp) hay Tòa án chuyên trách về hành chính? Những người ủng hộ một nền tài phán hành chính chuyên trách lập luận rằng: bản chất của luật công là điều chỉnh các mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, và trong đó tồn tại những nguyên tắc pháp lý khác biệt so với những quan hệ pháp luật giữa công dân với nhau do luật tư điều chỉnh. Điều đó cũng ảnh hưởng đến luật về tố tụng, vì vậy cần phải tổ chức các Tòa án hành chính độc lập. Phần lớn các bang của Đức đã quyết định theo hướng này và sự tách biệt về mặt tổ chức, giữa các Tòa án dân sự và các Tòa án hành chính qua quá trình hoạt động đã tỏ ra có hiệu quả. Thậm chí, trong một số lĩnh vực quan trọng, người ta còn lập ra các Tòa án hành chính chuyên trách tách ra khỏi hệ thống các Tòa án hành chính chung.
Có thể nói, Đức là nước có sự phân định triệt để nhất giữa các loại Tòa án: Ở Đức có tới sáu loại cơ quan tài phán, gồm các Tòa án tư pháp, Tòa án hiến pháp, Tòa án tài chính, Tòa án lao động, Tòa án xã hội và Tòa án hành chính. Xét bề ngoài thì với sáu loại Tòa án, hệ thống tài phán của Đức có vẻ phức tạp nhưng thực tế người ta chia làm hai nhóm: Các Tòa án áp dụng luật tư và các Tòa án áp dụng luật công (trừ Hiến pháp). Các Tòa án áp dụng luật tư trước hết gồm các Tòa án thường tức là các Tòa án dân sự và Tòa án hình sự. Về mặt lịch sử, các Tòa án thường từ lâu đã được coi là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tài phán thực sự. Năm 1926, Đức lập ra các Tòa án chuyên giải quyết các tranh chấp thuộc luật tư giữa các bên trong hợp đồng lao động và theo Luật ngày 3/9/1953, theo sáng kiến của phong trào công đoàn, nó trở thành các Tòa án lao động, hoàn toàn tách ra khỏi hệ thống các Tòa án thường. Các Tòa án áp dụng luật công trước hết bao gồm các Tòa án hành chính, ngoài ra có các Tòa án hành chính và Tòa án xã hội là cơ quan tài phán hành chính chuyên trách.
- Tài phán hành chính ở Thái Lan
Thái Lan có lẽ là nước duy nhất ở châu Á theo mô hình Đức sau khi đã có một thời gian dài chịu ảnh hưởng của mô hình Pháp với sự tồn tại của Hội đồng Nhà nước từ hàng trăm năm trước. Dần dần người ta nhận thấy cách tổ chức như vậy là chưa đủ cho việc giải quyết các tranh chấp hành chính và xuất hiện ý tưởng thành lập các Tòa án hành chính chuyên trách.
Năm 1994, tại Băng Cốc đã diễn ra Hội thảo về việc phân tích, so sánh và lựa chọn mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành chính thích hợp nhất ở Thái Lan. Cả hai phía (Hội đồng Nhà nước và Tòa án tối cao Thái Lan) đều đưa ra dự thảo luật và bảo vệ cho quan điểm của mình. Hội đồng Nhà nước cho rằng, Thái Lan đã có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý công và giải quyết khiếu nại hành chính của công dân. Vì vậy, chỉ cần cải tổ Tòa án hiện tại là có thể trở thành Tòa án hành chính thực sự. Ngành Tòa án kịch liệt phản đối với lập luận rằng: dù có những đặc điểm khác biệt đến đâu đi chăng nữa, Tòa án hành chính cũng là một cơ quan xét xử. Vì vậy, giống như bất kỳ loại Tòa án nào khác, cơ quan này phải do Bộ Tư pháp quản lý và chịu sự giám đốc của Tòa án tối cao. Hơn thế nữa, hệ thống Tòa án hành chính do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu và gắn bó mật thiết với các cơ quan hành chính sẽ không thể bảo đảm tính vô tư, khách quan khi chính các cơ quan hành chính là đối tượng xét xử. Ngành Tòa án cũng thừa nhận rằng mình không thông thạo lắm về luật hành chính nhưng họ sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho các thẩm phán tham dự các khoá học đặc biệt về quản lý công để có thể đảm đương được nhiệm vụ xét xử các vụ kiện về hành chính…
Sau nhiều cuộc tranh luận về tổ chức cơ quan tài phán hành chính cuối cùng Thái Lan đã lựa chọn thiết kế theo mô hình Đức kể từ năm 1999. Tòa án hành chính Thái Lan gồm có Tòa án hành chính tối cao và Tòa án hành chính sơ thẩm
[2].
1.3. Mô hình Anh - Mỹ: Tòa án thường có chức năng tài phán hành chính
Mô hình này được áp dụng ở Anh, Mỹ, Ailen, Aixơlen, Na Uy, Đan Mạch, Canada, Síp, Nigiêria, Irắc, Israel và một số nước Đông Nam Á.
- Tài phán hành chính ở các nước theo truyền thống Thông luật (Common Law)
Ở những nước theo hệ thống này dường như không tồn tại khái niệm lợi ích chung trong sự phân biệt với lợi ích cá nhân, nên Luật Hành chính không phải là một lĩnh vực pháp luật phát triển. Các quan hệ xã hội chủ yếu được điều chỉnh bởi luật dân sự, thương mại. Cũng không có sự phân biệt giữa luật công và luật tư. Các nước theo hệ thống này giao hoàn toàn việc xét xử các khiếu kiện hành chính cho các Tòa án tư pháp. Cơ quan hành chính không được hưởng bất cứ sự ưu ái nào trước cơ quan tài phán. Hệ thống này với những hình thức khác nhau được áp dụng ở nhiều nước như ở các nước Anglo-Saxon như Vương quốc Anh, Hoa Kỳ.
Hệ thống này có vẻ rất hay vì nó đơn giản nhưng thực ra, cũng như hai hệ thống kể trên, nó cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Về ưu điểm, trước hết nó tỏ ra gần gũi giữa Tòa án và những người đi kiện vì rằng nó cho phép người kiện gửi đơn đến Tòa án thông thường. Nhưng đặc biệt là người ta cho rằng hệ thống này bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử hành chính vì rằng Tòa án tư pháp không liên quan đến cơ quan hành pháp. Về nhược điểm, trước hết người ta lo ngại rằng Tòa án chỉ lo bảo vệ các quyền của cá nhân mà không biết đến nhu cầu quản lý công cộng, tức là những lợi ích chung, mà cơ quan hành chính có trách nhiệm thực hiện. Nhà nước cũng có thể tìm cách hạn chế thẩm quyền của Tòa án trong các vụ việc khiếu kiện hành chính để bảo vệ những ưu quyền của mình.. Và nhược điểm cuối cùng là việc Tòa án tư pháp không am hiểu về hoạt động hành chính công và không phải lúc nào cũng có khả năng giải quyết tốt các tranh chấp hành chính.
Chính vì vậy, nhiều nước theo hệ thống này, cùng với việc Nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn vào lĩnh vực kinh tế, xã hội, đã dần dần chấp nhận việc tạo ra các thiết chế chuyên biệt để giải quyết các tranh chấp hành chính do việc công dân phản đối quyết định của cơ quan hành chính nhà nước. Điển hình là việc thiết lập các cơ quan tài phán hành chính thuộc quyền hành pháp và chịu sự giám đốc, rà soát (judicial review) của Tòa án tư pháp ở Hoa Kỳ và Australia. Trong vài thập niên trở lại đây, ở những nước này ngoài Tòa án tư pháp người ta đã lập ra các cơ quan tài phán hành chính với những hình thức hết sức đa dạng, có thể nằm trong cơ quan hành chính nhưng cũng có thể là một cơ quan chuyên trách như một số bang ở Hoa Kỳ.
Khác với các Tòa án tư pháp, các cơ quan tài phán hành chính có quyền phán xét cả tính hợp pháp (legality) và tính hợp lý (rationality/reasonableness) của các quyết định bị khiếu kiện; thủ tục trước cơ quan tài phán hành chính cũng nhanh gọn hơn, thậm chí ở Mỹ người ta có thể tổ chức phiên giải quyết trực tuyến qua điện thoại mà không cần sự có mặt của các bên đương sự. Cơ quan tài phán hành chính ở Australia không chỉ phán quyết mà còn có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành quyết định hành chính mới thay thế quyết định khi khiếu kiện.
Các “tài phán viên hành chính” là những người am hiểu sâu về lĩnh vực hành chính, cả về phương diện pháp luật quản lý lẫn những vấn đề chuyên môn kinh tế - kỹ thuật, nên dễ dàng đánh giá, phán quyết khi giải quyết các tranh chấp hành chính vốn hết sức đa dạng và phức tạp. Nếu không thỏa mãn với quyết định của cơ quan tài phán hành chính thì người khởi kiện có quyền kiện ra Tòa án tư pháp và Tòa án này chỉ xem xét lại về phương diện luật pháp mà thôi. Tuy nhiên, những con số thống kê cho thấy các cơ quan tài phán hành chính hoạt động rất hiệu quả và số vụ việc hành chính được đưa ra Tòa án tư pháp là rất ít. Phương pháp giải thích, thuyết phục trong quá trình giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán hành chính và nguyên tắc “win-win” (cố gắng làm cho cả hai bên đều hài lòng) là một trong những lý do dẫn đến kết quả này.
- Tài phán hành chính ở Nhật Bản
Nhật Bản là một trường hợp khá thú vị với việc thay đổi từ mô hình Tòa hành chính độc lập sang Tòa án thường với ảnh hưởng của cả hệ thống châu Âu lục địa và Anh - Mỹ.
Trước Chiến tranh Thế giới lần thứ II, lý luận về tố tụng hành chính cũng như mô hình cơ quan tài phán của Nhật Bản chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Đức và ảnh hưởng gián tiếp từ Pháp. Điều 61 Hiến pháp Minh Trị năm 1889 quy định: “Không một vụ kiện nào liên quan đến việc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trước cơ quan công quyền được giải quyết ở Tòa án thường, nó phải được giải quyết ở Tòa án hành chính độc lập”. Theo đó, Tòa án hành chính đã được thành lập ở Tokyo năm 1890, hàng năm giải quyết hơn 1.000 các vụ kiện hành chính. Tuy nhiên, Tòa án này chỉ giải quyết sơ thẩm mà không có thẩm quyền phúc thẩm. Thẩm phán được gọi là những Hội đồng viên có thể cùng đồng thời đảm đương những vị trí khác trong quản lý hành chính. Thẩm quyền của Tòa án này chỉ xem xét những đối tượng kiện tụng được liệt kê, như trong lĩnh vực thuế, cấp giấy phép kinh doanh, phúc lợi xã hội... Các vụ kiện này cũng chỉ được giải quyết tại Tòa án sau khi người khởi kiện đã thực hiện hành vi khiếu nại tới cơ quan hành chính đã ban hành quyết định bị kiện.
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 đã hủy bỏ mô hình Tòa án hành chính độc lập như các nước châu Âu lục địa và xây dựng mô hình Tòa án giống như của Mỹ, theo đó tất cả các tranh chấp, bao gồm cả trong lĩnh vực hành chính đều được giải quyết bởi hệ thống Tòa án thường. Điều 76 Hiến pháp mới quy định: “toàn bộ quyền lực tư pháp đều thuộc về Tòa án tư pháp” và “không được thành lập bất kể các Tòa án đặc biệt nào hay một cơ quan nào khác ngoài Tòa án tư pháp được quyền xét xử hành chính”. Tuy nhiên, một điểm cần nhấn mạnh, trong lĩnh vực giải quyết vụ án hành chính, Nhật Bản không hoàn toàn đi theo lý luận và mô hình của Mỹ và đánh mất đi đặc trưng của hệ thống tố tụng hành chính được ảnh hưởng mạnh mẽ từ Đức, cũng như những nét riêng của lý luận hành chính Nhật Bản trước chiến tranh. Việc ban hành Những quy định đặc biệt liên quan đến việc giải quyết vụ kiện hành chính năm 1948, việc pháp điển hóa Luật Kiện tụng hành chính năm 1962 cùng với việc duy trì những lý luận về tố tụng hành chính ở Đức trước đây, cho thấy, xét về bề ngoài, Tòa án tư pháp giải quyết vụ án hành chính như quy định của Hiến pháp, nhưng thủ tục giải quyết lại giống như Tòa án hành chính ảnh hưởng mô hình từ Đức.
Hệ thống Tòa án của Nhật Bản hiện nay bao gồm bốn cấp: 450 Tòa án rút gọn, 50 Tòa án quận được đặt ở 47 đơn vị hành chính trong cả nước, trong đó vùng Hokkaido có 04 Tòa án, 08 Tòa án phúc thẩm đặt tại Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takematsu, và Tòa án tối cao đặt tại Tokyo. Về nguyên tắc, Tòa án tư pháp có nhiệm vụ giải quyết các vụ án hành chính; tuy nhiên, trong xu hướng cải cách hiện nay, một số tòa quận như Tokyo, Osaka, Nagoya, Yokohama, Saitama, Chiba, Kyoto và Kobe có thêm các phân tòa đặc biệt chuyên xét xử hành chính. Như vậy, dường như Nhật Bản có nhiều điểm khá tương đồng với Việt Nam và Trung Quốc ở việc thành lập mô hình tổ chức xét xử hành chính nằm trong hệ thống Tòa án thường (tức Tòa án nhân dân ở Việt Nam)
[3].
1.4. Mô hình Trung Quốc (mô hình “trung gian”)
Tòa án hành chính không tổ chức thành hệ thống hệ thống độc lập mà thành các Tòa chuyên trách về hành chính trong hệ thống Tòa án thường như ở Trung Quốc, Inđônêxia, Bênanh, Cônggô, Bờ Biển Ngà, Madagaxca, Môritani, Nigiê, Xênêgan, Tôgô… Việt Nam có thể xếp vào trong nhóm này.
Mô hình này xuất phát từ quan điểm nhất hệ tài phán, tức là chỉ có một hệ thống cơ quan xét xử để giải quyết tất cả các tranh chấp. Tuy nhiên, các nước này cũng thừa nhận tồn tại những sự khác biệt về tính chất của các tranh chấp nên để đáp ứng yêu cầu này việc xét xử hành chính cần được tổ chức thành các Tòa chuyên trách trong Tòa án thường.
Cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa khác, trước kia Trung Quốc không xây dựng hệ thống cơ quan tài phán hành chính. Các tranh chấp về hành chính được giải quyết theo hệ thống thứ bậc trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Do nhu cầu giải quyết tranh chấp ngày càng tăng, từ năm 1982, pháp luật Trung Quốc cho phép công dân có thể kiện ra Tòa án nhân dân các yêu cầu giải quyết. Các quy định của Luật Tố tụng dân sự được áp dụng khi giải quyết các vụ kiện hành chính. Đến năm 1990, Trung Quốc ban hành Luật Tố tụng hành chính trong đó quy định Trung Quốc không lập ra một hệ thống Tòa án hành chính riêng mà ở trong Tòa án nhân dân, người ta lập ra các Tòa chuyên trách về hành chính và áp dụng thủ tục quy định tại Luật Tố tụng hành chính. Hệ thống Tòa án nhân dân Trung Quốc được tổ chức như sau: Các Tòa án cơ sở (với số lượng 8057) được tổ chức ở huyện; các Tòa án trung cấp (363) được tổ chức ở tỉnh; các Tòa án cao cấp (30) được tổ chức ở vùng; ở Trung ương có Tòa án nhân dân tối cao.
2. Mô hình xét xử hành chính ở Việt Nam: Cơ chế tài phán hành chính trong Tòa án nhân dân
2.1. Cơ sở lý luận của việc thiết lập tài phán hành chính ở Việt Nam
Mặc dù có những hoạt động mang tính chất tài phán hành chính trong lịch sử nhưng về mặt lý luận thì trước kia chúng ta không thừa nhận sự cần thiết phải có cơ quan tài phán hành chính. Với lý luận là dưới chủ nghĩa xã hội, Nhà nước là của dân do dân và vì dân, thì Nhà nước, trước hết là cơ quan hành chính hoạt động vì lợi ích của người dân nên không có lý do để người dân đi kiện lại chính Nhà nước. Hơn nữa, nguyên tắc “lợi ích cá nhân đặt dưới lợi ích tập thể” nên việc một cá nhân đòi lại lợi ích cho mình khi phản đối một quyết định của cơ quan hành chính đại diện cho lợi ích tập thể là khó có thể chấp nhận. Những sai sót trong quá trình hoạt động có thể được tự sửa chữa, khắc phục và cơ chế giải quyết khiếu nại bằng con đường thứ bậc trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước là đủ.
Ngoài ra, theo một số tác giả (như PGS.TS. Vũ Thư), còn có những nguyên nhân khác nữa khiến cho tài phán hành chính không được thừa nhận ở Việt Nam cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây:
Một là, hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây không thừa nhận thuyết phân quyền nên nếu đặt vấn đề Tòa án xem xét, xử lý các quyết định của cơ quan hành chính thì vô hình trung là thừa nhận có sự phân tách và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực và như vậy trái với nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và thực hiện quyền lực ở các nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Hai là, các nước xã hội chủ nghĩa luôn có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội. Những tranh chấp hành chính (nếu có) có thể xử lý được nhờ sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản.
Ba là, trong một thời gian dài, Nhà nước pháp quyền là một khái niệm xa lạ và không được thừa nhận trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Điều đó đồng nghĩa với việc những nguyên tắc hành xử đặc trưng của Nhà nước pháp quyền không được chú trọng.
Bước sang thời kỳ Đổi mới, các quyền dân sự, chính trị, đặc biệt là quyền sở hữu về tài sản và tư liệu sản xuất đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 cũng như các văn bản pháp luật khác. Pháp luật ngày càng quan tâm đến việc tạo ra các cơ chế để bảo đảm thực hiện các quyền của người dân. TS. Nguyễn Thanh Bình cho rằng: Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền cơ bản của người dân, nhất là từ sau thời kỳ Đổi mới đất nước. Bộ máy nhà nước ngày càng hiện đại và trở thành người bảo vệ tốt nhất cho các quyền dân sự của người dân. Đây cũng là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
[4].
Hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực và thường xuyên đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của người dân nên nguy cơ vi phạm là rất lớn. Với tình trạng khiếu nại hành chính ngày càng nhiều, việc giải quyết của các cơ quan hành chính ngày càng tỏ ra kém hiệu quả thì cần thiết phải tìm ra những giải pháp mới hữu hiệu hơn để giải quyết vấn đề này. Đó chính là việc thiết lập tài phán hành chính.
Khác với mục tiêu của việc thiết lập tài phán hành chính ở nhiều quốc gia khác, theo đó,
"việc kiểm tra hoạt động hành chính chính dưới hình thức tài phán có mục đích trước tiên là nhằm buộc các cơ quan hành chính phải tuân thủ pháp luật hơn là mục đích bảo vệ quyền công dân"[5], việc thiết lập cơ chế tài phán hành chính ở Việt Nam trước hết nhằm vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân tránh khỏi sự vi phạm từ phía các cơ quan công quyền, giải quyết tình trạng đơn thư khiếu kiện tồn đọng và những căng thẳng về mặt xã hội, cải thiện mối quan hệ giữa nhà nước và người dân. Việc thiết lập cơ chế tài phán hành chính cũng là biểu hiện cụ thể của định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó đề cao vai trò của cơ quan tư pháp:
"Trước thời kỳ đổi mới, các Tòa án chỉ chiếm vị trí thứ yếu trong hệ thống tư pháp cũng như trong lý luận pháp lý nhưng với thời kỳ đổi mới, vị trí và vai trò của cơ quan xét xử nói chung và Tòa án hành chính nói riêng ngày càng trở nên quan trọng"[6].
Tài phán hành chính được coi là một công cụ mới, hiệu quả để bảo vệ các quyền công dân. Theo PGS.TS. Nguyễn Cửu Việt, Tòa án hành chính là cơ quan tài phán duy nhất trong đó cơ quan đại diện cho công quyền là một bên đương sự, sẽ bị phán xét về trách nhiệm đối với hành vi của mình. Đây là điểm rất khác, nhất là đối với truyền thống của chúng ta khi Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân. Ông cũng đánh giá cao những ưu điểm của giải pháp này và coi đó như là một thiết chế đặc biệt mà những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của nó chứa đựng những sự bảo đảm tốt hơn cho việc bảo vệ quyền công dân như tính khách quan, độc lập của Tòa án, sự bình đẳng giữa các bên đương sự cũng như sự công khai của phiên Tòa so với việc giải quyết khiếu nại tại cơ quan hành chính
[7].
Phần lớn các luật gia Việt Nam đều đánh giá cao vai trò của cơ chế tài phán hành chính và vai trò của cơ quan tài phán hành chính, đồng thời khẳng định mối liên hệ của nó với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, bởi lẽ Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà trong đó phải có sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền. Những tranh chấp xảy ra giữa Nhà nước và công dân chủ yếu nảy sinh trong lĩnh vực hành chính và Tòa án hành chính chính là người trọng tài công minh và bảo đảm tốt nhất cho sự bình đẳng đó
[8].
2.2. Quá trình thiết lập cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam
Ý tưởng về một cơ quan tài phán hành chính không phải là mới mẻ. Vào cuối những năm 1980, trước những biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, được tạo ra từ sau khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội Đảng lần thứ VI khởi xướng và lãnh đạo, quá trình dân chủ hóa xã hội cũng được đẩy mạnh. Quyền dân chủ của người dân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Chính vì vậy, các kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các cơ quan nhà nước ngày càng nhiều. Những quy định của Pháp lệnh quy định việc xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981 cũng như cơ chế mà nó thiết lập đã tỏ ra không còn phù hợp. Quá trình nghiên cứu ban hành Pháp lệnh mới cũng đã có ý kiến đề nghị thành lập Tòa án hành chính.
Trên cơ sở những ý tưởng về sự hiện hữu của cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam, Thanh tra Nhà nước, cơ quan có trách nhiệm chủ yếu trong việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến công tác xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đã đề nghị Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu để thiết lập Tòa án hành chính ở Việt Nam. Từ tháng 5/1993, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức giao Thanh tra Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp, Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao nghiên cứu soạn thảo Dự án Luật Tổ chức Tòa án hành chính.
Dự án Luật Tổ chức Tòa án hành chính đã được Tổng Thanh tra Nhà nước thừa uỷ quyền của Chính phủ trình bày tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá IX với các phương án khác nhau: (i) Tòa án hành chính là một hệ thống độc lập song song với các Tòa án nhân dân; (ii) Tòa án hành chính là một hệ thống độc lập thuộc Thủ tướng chính phủ; (iii) Tòa án hành chính được tổ chức riêng biệt nhưng chịu sự giám đốc của Tòa án nhân dân tối cao (tương tự như tổ chức các Tòa án Quân sự); (iv) Tòa án hành chính được tổ chức thành các phân Tòa trong các Tòa án nhân dân.
Quốc hội đã dành nhiều thời gian để thảo luận về Dự án Luật và các ý kiến vẫn chủ yếu xoay quanh việc phân tích các ưu nhược điểm, những thuận lợi và khó khăn, tính hợp lý và bất hợp lý của từng mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở Việt Nam và cuối cùng, Quốc hội đã quyết định chọn phương án tổ chức Tòa án hành chính thành các phân Tòa trong hệ thống Tòa án nhân dân và giao Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với các cơ quan hữu quan của Chính phủ soạn thảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân cho sự thiết lập Tòa hành chính.
Ngày 28/9/1995, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (có hiệu lực từ ngày 01/6/1996) trong đó quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính theo quy định của pháp luật. Về mặt tổ chức, tại Tòa án nhân dân tối cao có Tòa hành chính, tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh có phân Tòa hành chính và tại Tòa án nhân dân cấp huyện có các Thẩm phán xét xử hành chính. Ngày 21/5/1996, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được ban hành (sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2006).
Sự ra đời của cơ quan xét xử hành chính đã đánh dấu một bước phát triển mới trong thiết chế bảo đảm dân chủ của người dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, tránh được sự xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước. Thẩm quyền của Tòa án trong lĩnh vực xét xử hành chính ngày càng mở rộng hơn qua các lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, nhất là kể từ khi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực thi hành. Cũng từ khi Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực, người dân có thể khởi kiện thẳng ra Tòa án mà không buộc phải qua thủ tục khiếu nại tại cơ quan hành chính như trước kia. Sau đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành là minh chứng rõ nét cho việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp ở nước ta. Luật này dự kiến sẽ tiếp tục được sửa đổi trong thời gian tới để thích ứng với những phát triển mới gần đây.
3. Một số vấn đề đang đặt ra về mô hình xét xử hành chính ở Việt Nam
3.1. Ý nghĩa của việc nhận diện và tham khảo các mô hình xét xử hành chính trên thế giới
Các mô hình cơ quan tài phán hành chính trên thế giới rất đa dạng, do những yếu tố lịch sử - chính trị khác nhau. Tuy nhiên, luôn có sự giao thoa và học hỏi lẫn nhau, và xu hướng các mô hình nhích lại gần nhau. Đó cũng là một biểu hiện của quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Có lẽ cũng vì vậy mà đã ra đời Hiệp hội các Hội đồng Nhà nước và cơ quan tài phán hành chính cao cấp, theo sáng kiến của Hội đồng Nhà nước Bỉ từ năm 1963, đầu tiên chỉ là các cuộc Hội thảo song phương giữa Bỉ và Italia, sau đó từng bước thu hút sự tham gia của các nước khác trong Cộng đồng châu Âu và chính thức được thành lập vào tháng 6/1998. Hiện nay, Hiệp hội này có 29 thành viên (kể cả Tòa án châu Âu) và một số quan sát viên và là nơi thường xuyên diễn ra các hội thảo khoa học, trong đó các nước đã mang đến và cùng thảo luận, chia sẻ về các vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của cơ quan tài phán hành chính nước mình.
Ở Việt Nam, bản thân khái niệm tài phán hành chính có thể được quan niệm khác nhau theo từng thời kỳ; đồng thời, các cuộc thảo luận về việc xây dựng các mô hình cơ quan giải quyết tranh chấp hành chính ở nước ta cũng diễn ra. Mặt khác, trong mỗi giai đoạn dù đã định hình cơ quan giải quyết tranh chấp hành chính cụ thể nhưng quan niệm về tài phán hành chính vẫn có những sự khác nhau từ phía các luật gia, nhà nghiên cứu. Mặc dù vậy, sau hơn gần hai thập kỷ tranh luận thảo luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của các thiết chế giải quyết tranh chấp hành chính, khái niệm tài phán hành chính cho đến hiện nay đã được hiểu một cách tương đối thống nhất, đó là: hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính (hay các khiếu kiện hành chính) theo một trình tự tố tụng chặt chẽ được thực hiện bởi cơ quan tư pháp (các Tòa án nhân dân). Hay nói cách khác, tài phán hành chính là một thiết chế giải quyết tranh chấp hành chính được tổ chức trong cơ quan hành chính, với một loại cơ quan có tính chất chuyên trách và áp dụng thủ tục tư pháp trong quá trình giải quyết các khiếu nại hành chính. Đây là một quan niệm mới xuất hiện khoảng ba thập kỷ gần đây ở Việt Nam, cùng với việc Nhà nước đối mặt với thực trạng các khiếu kiện hành chính ngày càng nhiều và cơ chế giải quyết hiện hành tỏ ra chưa hiệu quả.
Điều này dẫn đến mong muốn thiết lập một hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp mới thuộc hệ thống hành pháp ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khoá XI, ngày 25/10/2004, Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó đã phát biểu:
“Chính phủ giao Tổng Thanh tra xây dựng Đề án về việc thành lập cơ quan Tài phán hành chính thuộc hệ thống hành pháp để tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại hành chính đối với quyết định của cơ quan hành chính, bảo đảm cho người dân được tranh tụng bình đẳng, công khai, đồng thời đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung quy định về nội dung thẩm quyền xét xử và hệ thống tổ chức, quản lý của Tòa án hành chính đáp ứng yêu cầu xử lý những khiếu kiện mà kết luận của cơ quan tài phán hành chính chưa được đồng thuận”. Trong Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ đã chỉ rõ:
“Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và những cam kết quốc tế; đổi mới mạnh mẽ cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính, xúc tiến thành lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính trực thuộc Thủ tướng Chính phủ”. Tuy nhiên, sau nhiều lần thảo luận, Chính phủ đã từ bỏ ý tưởng này
[9].
Thực ra, trên thế giới, ở một số nước theo hệ thống nhất hệ tài phán, tức là chỉ tồn tại một hệ thống Tòa án, có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp, trong đó có tranh chấp hành chính, do nhu cầu giải quyết các tranh chấp hành chính càng nhiều cùng với sự rườm rà, phức tạp, tốn kém của thủ tục tư pháp, người ta thành lập ra các cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu kiện hành chính thuộc hành pháp và gọi là các "administrative tribunal". Từ "tribunal" thường được dịch sang tiếng Việt là "Tòa án". Tuy nhiên, do việc tồn tại Tòa án tư pháp (court of law, tức Tòa án thường), nên khi dịch ra tiếng Việt, nhiều tác giả đã dùng khái niệm cơ quan tài phán hành chính để phân biệt với Tòa án tư pháp.
3.2. Một số vấn đề đặt ra khi sửa đổi Luật Tố tụng hành chính
Khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính, Việt Nam và Trung Quốc được xếp vào cùng một mô hình xét xử hành chính
[10] - tức Tòa án nhân dân với tư cách là Tòa án thường xét xử hành chính bằng một thủ tục tố tụng hành chính riêng so với tố tụng dân sự. Dường như chưa có nghiên cứu nào toàn diện và sâu sắc về sự hình thành và phát triển của mô hình xét xử hành chính xã hội chủ nghĩa này.
Có lẽ cũng giống như nhiều nước trên thế giới
[11], Luật Tố tụng hành chính Việt Nam gắn bó với Luật Hành chính về mặt nội dung, đồng thời là một “biến thể” của tố tụng dân sự về mặt thủ tục
[12]. Mặc dù Luật Tố tụng hành chính được thiết kế là một loại tố tụng phi hình sự và có nhiều điểm tương đồng với Luật Tố tụng dân sự, nó vẫn có mối liên hệ mật thiết với Luật Hành chính và có nhiều tính chất của luật công. Tài phán hành chính không đơn thuần là cơ chế giải quyết tranh chấp hành chính (như một dạng giải quyết tranh chấp đơn thuần) mà còn nhằm giám sát hoạt động hành chính. Thật vậy, trong các cơ chế kiểm soát quyền hành pháp, một yếu tố thiết yếu là xây dựng cơ chế tài phán hành chính - xét xử hành chính bằng Tòa án. Trong xu hướng phát triển Luật Hành chính nhằm bảo đảm pháp quyền, quyền con người, vấn đề tài phán hành chính, tố tụng hành chính (judicial review of administrative actions) luôn là trọng tâm của Luật Hành chính trên thế giới. Tài phán hành chính được đặt trên nền tảng từ cơ chế kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Khi Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh việc kiểm soát quyền lực nhà nước, sứ mệnh quan trọng của cơ chế tố tụng hành chính là góp phần “mở rộng phạm vi kiểm soát quyền lực của tư pháp đối với hành pháp” thông qua cơ chế tài phán hành chính
[13].
Bàn về mô hình xét xử hành chính của Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc cần xem xét các vấn đề sau: (i) Phạm vi, mức độ giám sát, can thiệp của Tòa án đối với hành pháp; (ii) Tòa án có xem xét tính hợp hiến, hợp lí không, hay chỉ xem xét tính hợp pháp của hành pháp?; (iii) Tòa án có xem xét văn bản quy phạm (lập quy) của hành pháp không hay chỉ xem xét văn bản, hành vi cá biệt?; (iv) Phương pháp xem xét, rà soát, đánh giá tính hợp pháp, hợp lí đối với hành vi của cơ quan hành pháp, hành chính?
[14]
Kết luận
Những điểm mới của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 đòi hỏi cần sửa đổi Luật Tố tụng hành chính năm 2015 trong thời gian tới. Điều này đòi hỏi cần nhận diện các mô hình, xu hướng phát triển và kinh nghiệm của tài phán hành chính, xét xử hành chính trên thế giới. Các triết lý cốt lõi cần bảo đảm là tài phán hành chính cần: (i) Cân bằng giữa sứ mệnh bảo vệ quyền con người và bảo vệ lợi ích công - giám sát hoạt động hành chính nhà nước; và (ii) Cân bằng giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn./.
[1] CONSEIL D`ETAT, Hội đồng Nhà nước, đôi khi được dịch ra là
Tham chính viện để tránh sự hiểu lầm với Hội đồng Nhà nước Việt Nam - vốn là “Chủ tịch nước” tập thể theo Hiến pháp năm 1980.
[2] Đặng Xuân Đào,
“Hệ thống Tòa án và việc giải quyết khiếu kiện hành chính thông qua Tòa án hành chính tại Thái Lan”, trong Tài liệu Hội thảo:
Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại và khiếu kiện hành chính tại Cộng hòa Singapore và Vương quốc Thái Lan, Hà Nội, tháng 3/2004.
[3] Theo TS. Phạm Hồng Quang,
Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của một số nước trên thế giới, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 21(182) tháng 11/2010.
[4] Nguyễn Thanh Bình,
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân về khiếu kiện hành chính, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, 1995-2005.
[5] Jean Rivero, Rapport synthèse du colloque
" Contrôle juridictionnel et nouvelles protections de l`administré" en Charles Debbasch,
"Administration et administré en Europe", Edition du CNRS, 1984, tr. 32.
[6] Nguyễn Hoàng Anh, La juridiction administrative au Viet Nam et ses limites actuelles (Contribution à l`étude de la création et du fonctionnement des tribunaux administratifs depuis 1996), Thèse en vue de l`obtention du doctorat de l`Université de Toulouse, le 23 janvier 2009, tr. 68.
[7] Nguyễn Cửu Việt,
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 1995, tr. 511.
[8] Vũ Thư, Các mô hình tài phán hành chính và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Hội thảo "Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam", Hà Nội, ngày 14-15/6/2010.
[9] Ngày 23/2/2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì phiên họp Thường trực Chính phủ cho ý kiến về Đề án Tài phán hành chính. Sau khi nghe Lãnh đạo Thanh tra Chính phủ báo cáo, phát biểu của các đại biểu dự họp và ý kiến của các Phó Thủ tướng, Thủ tướng đã kết luận: căn cứ kết quả nghiên cứu và tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, không thành lập cơ quan tài phán hành chính thuộc hệ thống cơ quan hành pháp.
[10] Vũ Thư, “Các mô hình tài phán hành chính và kinh nghiệm cho Việt Nam”, sách: Nguyễn Như Phát, Nguyễn Thị Việt Hương (đồng chủ biên),
Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 105, 109.
[11] Phạm Hồng Thái, Nguyễn Hoàng Anh (đồng chủ biên),
Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 54.
[12] Phạm Hồng Thái, Nguyễn Hoàng Anh (đồng chủ biên), sđd, tr. 61.
[13] Nguyễn Thị Huyền, Mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2020, tr. 132 - 133.
[14] Xem: Bùi Tiến Đạt,
Bốn thập kỉ đổi mới và xu hướng phát triển của Luật Hành chính Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 5/2024; Bùi Tiến Đạt - Trần Thị Trinh,
Góp ý Dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi): Từ góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước và tố tụng hành chính. Tạp chí Nghề luật, số 4/2024.