Góp ý Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi)

07/04/2026

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là một quyền hiến định quan trọng, có ý nghĩa nền tảng trong việc bảo đảm tính minh bạch của hoạt động công quyền, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và thúc đẩy sự tham gia của công dân vào đời sống chính trị - pháp lý. Trong bối cảnh thông tin ngày càng trở thành nguồn lực thiết yếu, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin là cần thiết nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành và hoàn thiện cơ chế thực thi quyền. Bài viết góp ý một số nội dung của Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) liên quan đến người thực hiện quyền tiếp cận thông tin, các trường hợp hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân cũng như thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Từ khóa: Quyền công dân; tiếp cận thông tin; quyền yêu cầu cung cấp thông tin; Luật Tiếp cận thông tin.
Abstract: The right of access to information is an important constitutional right, playing a fundamental role in ensuring transparency in public administration, enhancing the accountability of state authorities, and promoting citizens’ participation in political and legal life. The effective protection of this right has a direct impact on people’s daily lives, particularly as information increasingly becomes an essential resource. In this context, the amendment of the Law on Access to Information is necessary to address the shortcomings of the current legal framework and to improve the mechanisms for exercising this right. This article provides comments on several provisions of the Draft Law, focusing on subjects exercising the right of access to information, entities responsible for providing information, cases of restriction of citizens’ right of access to information, as well as procedures for requesting information.
Keywords: Citizens’ rights; access to information; right to request information; Law on Access to Information.

 TIẾP-CẬN-THÔNG-TIN1.jpg

Ảnh minh họa: Nguồn Internet
 
1. Đặt vấn đề
Ngày 12/2/2026, Chính phủ đã trình Quốc hội Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (sau đây gọi là Dự thảo Luật) nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế trong điều kiện phát triển mới. Việc sửa đổi Luật không chỉ nhằm cập nhật các quy định phù hợp với thực tiễn mà còn hướng tới việc làm rõ ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và yêu cầu quản lý nhà nước, qua đó bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa tính minh bạch và yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của Dự thảo Luật có ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiếp cận thông tin theo hướng nâng cao hiệu quả thực thi và bảo đảm tốt hơn quyền của công dân trong bối cảnh quản trị hiện đại.
2. Một số góp ý đối với Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi)[1]
2.1. Quy định về người thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Điều 7 Dự thảo Luật
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Dự thảo Luật, công dân là chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Người mất năng lực hành vi dân sự thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người đại diện theo pháp luật. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ nếu Quyết định của Tòa án liên quan đến năng lực của người đó có quy định[2]. Như vậy, theo quy định này thì “người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin thông qua người giám hộ”. Quy định này đặt ra một vấn đề đáng chú ý về tính tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là với Bộ luật Dân sự năm 2015.
Cụ thể, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”. Từ khái niệm này và quy định tại Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2015[3] về các trường hợp được giám hộ, có thể thấy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không thuộc nhóm đối tượng được giám hộ và do đó không phát sinh quan hệ giám hộ theo quy định của pháp luật dân sự. Về bản chất, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là nhóm chủ thể vẫn còn khả năng nhận thức và làm chủ hành vi ở mức độ nhất định, chỉ bị hạn chế trong một số lĩnh vực cụ thể - thường là liên quan đến giao dịch tài sản - theo quyết định của Tòa án. Đồng thời, Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện[4]. Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không bị tước bỏ hoàn toàn khả năng tự mình xác lập, thực hiện quyền, mà chỉ bị kiểm soát trong phạm vi nhất định[5].
Từ đó, có thể thấy, việc Dự thảo Luật mặc định áp dụng cơ chế “thực hiện thông qua người giám hộ” đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là thiếu cơ sở pháp lý, thậm chí mâu thuẫn trực tiếp với quy định của Bộ luật Dân sự. Mâu thuẫn này không chỉ dừng lại ở kỹ thuật lập pháp mà còn kéo theo những hệ quả thực tiễn đáng kể. Trước hết, quy định này dẫn đến sự sai lệch về tư cách đại diện, bởi lẽ trên thực tế không tồn tại chủ thể “người giám hộ” đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Hệ quả tiếp theo là nguy cơ làm cản trở việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của chính đối tượng này, khi họ không thể tự mình thực hiện quyền một cách đầy đủ, trong khi cũng không có cơ chế đại diện hợp pháp tương ứng (“người giám hộ” theo quy định của Dự thảo Luật) để thay mặt thực hiện. Sâu xa hơn, sự thiếu thống nhất giữa luật chuyên ngành và luật chung còn làm suy giảm tính đồng bộ và minh bạch của hệ thống pháp luật, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp.
Do đó, về phương diện lập pháp, cần thiết phải điều chỉnh quy định này theo hướng phù hợp hơn với bản chất pháp lý của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Thay vì áp dụng cơ chế giám hộ, quy định nên thừa nhận nguyên tắc chung là chủ thể này vẫn có quyền tự mình thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp quyết định của Tòa án có quy định hạn chế cụ thể. Trong những trường hợp cần thiết, việc thực hiện quyền được tiến hành thông qua cơ chế đại diện phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự. Cách tiếp cận này không chỉ bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn góp phần tôn trọng và bảo vệ tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trong điều kiện năng lực hành vi dân sự bị hạn chế.
2.2. Quy định về thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu tại Điều 26 Dự thảo Luật
Công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan, đơn vị công khai hoặc yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin[6]. Trong trường hợp công dân yêu cầu cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin thì thực hiện theo quy định tại Điều 26 Dự thảo Luật. Cụ thể, người yêu cầu cung cấp thông tin phải gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, trừ trường hợp yêu cầu cung cấp thông tin thuộc loại “thông tin phải công khai theo quy định tại Điều 17 trong thời hạn công khai nhưng chưa được công khai”[7]. Như vậy, trường hợp yêu cầu cung cấp loại thông tin này thì người yêu cầu không phải gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin. Xét về bản chất pháp lý, nhóm thông tin “phải công khai” theo quy định tại Điều 17 mang tính chất bắt buộc, gắn với nghĩa vụ chủ động minh bạch của cơ quan nhà nước. Khi cơ quan, đơn vị không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ công khai, quyền yêu cầu cung cấp thông tin của công dân trong trường hợp này không chỉ là một quyền dân sự - hành chính thông thường, mà còn mang ý nghĩa như một cơ chế kiểm soát việc thực thi nghĩa vụ công vụ[8]. Do đó, việc Dự thảo Luật miễn trừ nghĩa vụ gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin đối với trường hợp này là hợp lý, nhằm giảm bớt gánh nặng thủ tục và bảo đảm tính kịp thời trong tiếp cận thông tin.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Điều 26 Dự thảo Luật mới chỉ quy định trình tự, thủ tục đối với trường hợp có gửi Phiếu yêu cầu, trong khi lại không thiết lập một quy trình tương ứng cho trường hợp không cần gửi Phiếu. Đặc biệt Dự thảo Luật không đề cập đến thời hạn giải quyết yêu cầu cho người yêu cầu cung cấp thông tin trong trường hợp không cần gửi Phiếu. Khi pháp luật không quy định thời hạn cụ thể đối với trường hợp không có Phiếu yêu cầu, cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, về mặt pháp lý, không bị ràng buộc bởi một mốc thời gian xác định để thực hiện nghĩa vụ của mình. Điều này dẫn đến hệ quả là việc xử lý yêu cầu hoàn toàn có thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hoặc điều kiện thực tế của từng cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của người dân[9]. Bên cạnh đó, quy định về thời hạn cung cấp thông tin là 10 ngày làm việc và có thể gia hạn thêm không quá 10 ngày làm việc trong trường hợp có gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin cũng đặt ra một số vấn đề. Trước hết, xét dưới góc độ bản chất của quyền tiếp cận thông tin, đây là một quyền có tính chất “thời điểm”, nghĩa là giá trị của thông tin gắn chặt với tính kịp thời. Thông tin nếu không được cung cấp đúng lúc có thể mất đi ý nghĩa sử dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực như giám sát hoạt động công quyền, tham gia ý kiến vào chính sách, hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức[10]. Trong bối cảnh đó, thời hạn 10 ngày làm việc là tương đối dài; nếu cộng thêm khả năng gia hạn tối đa 10 ngày làm việc, tổng thời gian có thể lên 20 ngày làm việc (gần 01 tháng thời gian thực tế) làm suy giảm đáng kể giá trị thực tế của thông tin được cung cấp. Thứ hai, cần đặt quy định về thời hạn cung cấp thông tin trong tương quan với tính chất của từng loại thông tin. Đối với những thông tin thuộc diện “phải công khai” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Dự thảo Luật, về nguyên tắc, các cơ quan nhà nước đã có sẵn và có trách nhiệm công bố các thông tin này. Do đó, việc tiếp tục cho phép thời hạn cung cấp kéo dài đến 10 ngày, thậm chí 20 ngày trong trường hợp gia hạn, là chưa hợp lý, vì về bản chất đây không phải là hoạt động “tạo lập” hay “xử lý phức tạp” thông tin, mà chỉ là việc cung cấp các thông tin đã có sẵn.
Từ các hạn chế trên, tác giả kiến nghị Dự thảo Luật cần sửa đổi và bổ sung các quy định sau đây: Một là, bổ sung quy định về thủ tục thực hiện cung cấp thông tin trong trường hợp không cần gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin. Hai là, Dự thảo Luật nên rút ngắn thời hạn cung cấp thông tin theo hướng bảo đảm tính kịp thời của quyền tiếp cận thông tin. Đồng thời, cần phân hóa thời hạn cung cấp thông tin dựa trên tính chất của từng loại thông tin, thay vì áp dụng một thời hạn chung cho mọi trường hợp. Theo đó, nên thiết kế cơ chế thời hạn linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng nhóm thông tin. Cụ thể, đối với thông tin thuộc diện “phải công khai” mà có yêu cầu cung cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Dự thảo Luật cần quy định thời hạn cung cấp rất ngắn, theo hướng cung cấp ngay hoặc trong vòng 1 - 3 ngày làm việc. Đối với thông tin cần tổng hợp, xử lý hoặc có tính chất phức tạp, có thể áp dụng thời hạn dài hơn, nhưng phải kèm theo tiêu chí xác định rõ ràng.
2.3. Quy định về thông tin công dân không được tiếp cận tại Điều 15 Dự thảo Luật
Điều 15 Dự thảo Luật quy định các thông tin công dân không được tiếp cận - đây là các trường hợp về hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Nguyên tắc hiến định này cũng đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 14 Dự thảo Luật về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Theo đó, quyền tiếp cận thông tin chỉ bị hạn chế khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: (i) Các trường hợp hạn chế quyền phải được quy định trong văn bản luật (luật, bộ luật) do Quốc hội ban hành; (ii) Mục đích của việc hạn chế quyền là vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[11].
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 15 Dự thảo Luật quy định một trong các trường hợp công dân không được tiếp cận thông tin là: “Thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác...”. Đồng thời, quy định này cho phép trong trường hợp pháp luật chưa có quy định cụ thể thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin. Quy định nêu trên đặt ra hai vấn đề lớn về phương diện hiến định:
Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Nguyên tắc này cần được hiểu theo nghĩa chặt chẽ rằng: chỉ khi nào luật có quy định cụ thể về trường hợp hạn chế thì quyền mới có thể bị giới hạn; ngược lại, trong trường hợp pháp luật chưa quy định thì quyền phải được bảo đảm thực hiện đầy đủ. Nói cách khác, “khoảng trống pháp luật” không thể được diễn giải theo hướng bất lợi cho việc thực hiện quyền, mà phải được hiểu theo hướng ưu tiên bảo vệ quyền. Tuy nhiên, quy định của Dự thảo Luật lại thiết lập một cơ chế ngược lại: khi pháp luật chưa quy định, thay vì mặc nhiên thừa nhận quyền tiếp cận thông tin của công dân, Dự thảo lại trao cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyền quyết định có cung cấp thông tin hay không. Điều này dẫn đến hệ quả là phạm vi hạn chế quyền không còn được xác định bởi luật - với tính chất ổn định, công khai và có thể kiểm soát - mà phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể quản lý hành chính trong từng trường hợp cụ thể. Cách tiếp cận này tiềm ẩn nguy cơ làm “hành chính hóa” việc hạn chế quyền, tức là chuyển một vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp sang cho cơ quan hành pháp quyết định[12].
Thứ hai, về mục đích hạn chế quyền, bên cạnh các mục đích phù hợp với Hiến pháp (quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng), Dự thảo Luật còn mở rộng thêm các căn cứ như: “gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước”, “gây ảnh hưởng xấu đến đối ngoại”, “gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác”. Các khái niệm này nội hàm rộng, thiếu tiêu chí xác định cụ thể, không được Hiến pháp liệt kê như là căn cứ độc lập để hạn chế quyền. Trong khi đó, theo lý luận về quyền con người, các căn cứ hạn chế quyền phải được quy định rõ ràng, có thể dự đoán được (foreseeability), nhằm tránh việc áp dụng tùy tiện[13].
Để bảo đảm tính hợp hiến và thống nhất của hệ thống pháp luật, khoản 4 Điều 15 Dự thảo Luật cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Thứ nhất, giới hạn chặt chẽ các căn cứ hạn chế quyền tiếp cận thông tin, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp. Chỉ nên duy trì các mục đích hạn chế đã được hiến định. Thứ hai, tuân thủ nghiêm nguyên tắc “hạn chế quyền phải do luật định”, theo đó mọi trường hợp hạn chế quyền phải được quy định trực tiếp trong luật. Vì vậy, cần bãi bỏ quy định cho phép người đứng đầu cơ quan, đơn vị tự quyết định việc cung cấp thông tin trong trường hợp pháp luật chưa quy định; đồng thời khẳng định nguyên tắc: nếu luật không quy định hạn chế thì công dân có quyền tiếp cận thông tin.
2.4. Quy định về chi phí tiếp cận thông tin
Theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Dự thảo Luật, người yêu cầu cung cấp thông tin có trách nhiệm thanh toán trước cho cơ quan, đơn vị chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin. Đồng thời, khoản 1 Điều 24 Dự thảo Luật cũng quy định cho phép người yêu cầu cung cấp thông tin trực tiếp tại trụ sở cơ quan, đơn vị được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu. Theo các quy định này, trong trường hợp người yêu cầu cung cấp thông tin dùng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu thì vẫn phải trả chi phí theo quy định. Nếu không thanh toán chi phí sẽ bị từ chối cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Dự thảo Luật. Điều này là không hợp lý. Về bản chất, chi phí cung cấp thông tin chỉ nhằm bù đắp các khoản chi thực tế phát sinh từ phía cơ quan nhà nước (in ấn, sao chụp, gửi tài liệu). Trong trường hợp người dân tự thực hiện việc sao chụp, các chi phí này không phát sinh, do đó việc tiếp tục thu phí là thiếu cơ sở thực tiễn. Đồng thời, việc duy trì chi phí trong trường hợp này làm phát sinh gánh nặng không cần thiết cho người dân, từ đó có thể cản trở việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Trong bối cảnh khuyến khích công khai, minh bạch và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, việc đặt ra nghĩa vụ tài chính không hợp lý có thể tạo ra rào cản, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế[14].
Từ những phân tích trên, có thể thấy cần phải hoàn thiện quy định theo hướng: chỉ thu phí trong trường hợp thực sự phát sinh chi phí từ phía cơ quan cung cấp thông tin. Đối với trường hợp người dân trực tiếp sao chụp, tải về bằng phương tiện cá nhân, nên miễn hoàn toàn nghĩa vụ thanh toán, hoặc chỉ thu trong những trường hợp đặc biệt có phát sinh chi phí hỗ trợ kỹ thuật (nếu có).
3. Kết luận
Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) đã có những điều chỉnh nhằm khắc phục các hạn chế của pháp luật hiện hành, thể hiện nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân. Tuy nhiên, qua phân tích cho thấy vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện, đặc biệt liên quan đến chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin, các trường hợp hạn chế quyền, cũng như trình tự, thủ tục và thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu. Những vấn đề này nếu không được quy định rõ ràng, chặt chẽ và có tiêu chí cụ thể có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất, thậm chí tạo khoảng trống cho việc vận dụng tùy nghi trong thực tiễn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền của công dân. Do đó, việc tiếp tục rà soát, chỉnh lý các quy định của Dự thảo theo hướng minh bạch, cụ thể và hạn chế tối đa việc áp dụng tùy nghi là cần thiết. Bên cạnh đó, cần chú trọng thiết kế các quy định về thời hạn cung cấp thông tin theo hướng linh hoạt, phân hóa phù hợp với tính chất của từng loại thông tin, đồng thời gắn với cơ chế giải trình trách nhiệm rõ ràng của cơ quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin. Điều này, không chỉ góp phần bảo đảm tính kịp thời và hiệu quả của quyền tiếp cận thông tin của công dân mà còn nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội trong điều kiện phát triển hiện nay./.

 


[1]Nguồn: Dự thảo lần 02 ngày 11/02/2026, https://duthaoonline.quochoi.vn/dt/luat-tiep-can-thong-tin-sua-doi/260115090944102298.
[2] Khoản 2 Điều 7 Dự thảo Luật.
[3] Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp được giám hộ gồm: "a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ; b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; c) Người mất năng lực hành vi dân sự; d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi".
[4] Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Trần Thị Ngọc Bích, “Quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2017, tập 48, phần D, tr. 1-12.
[6] Điều 9 Dự thảo Luật.
[7] Điểm a khoản 1 Điều 23 Dự thảo Luật.
[8] Nguyễn Trung Thành, “Quyền tiếp cận thông tin: Từ lý luận đến thực tiễn tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 2(12)/2015, tr. 49-56.
[9] Phạm Hồng Thái - Nguyễn Thị Thu Hương, “Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam (Một số vấn đề có tính phương pháp luận, định hướng nghiên cứu”, Tạp chí Khoa học (Đại học Quốc gia Hà Nội), Luật học, số 28/2012, tr. 1-7.
[10] Nguyễn Thị Quế Anh - Nguyễn Anh Đức, “Một số kiến nghị về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin qua hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay”,Tạp chí Khoa học (Đại học Quốc gia Hà Nội), Luật học, tập 31, số 3/2015, tr. 1-10.
[11] Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2025, tr. 130.
[12] Artan Maloku, Petrit Nimani (2026), “Discretion without Boundaries? The Expanding Power of Public Administration in Governance”, Università degli Studi di Milano, DOI: 10.13130/2723-9195/2026-1-110.
[13] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009.
[14] Mai Quang Thắng, “Bảo đảm chính trị, pháp lý về quyền tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 344/2024, tr. 51-55.