Xác định giá trị của hoạt động phân tích luật theo chủ thể
15/12/2025
Tóm tắt: Để xác định giá trị của hoạt động phân tích luật theo chủ thể, nội dung bài viết đề cập, bàn luận về 3 vấn đề: i) Quyền (tự) hiểu và thực hiện pháp luật của chủ thể; ii) Phân tích luật của chủ thể là cá nhân trong cuộc sống bình thường; iii) Phân tích luật của người thực thi công vụ trong hệ thống quản lý hành chính công.
Từ khóa: Quyền tự do của chủ thể; phân tích luật; người dân thường; người thi hành công vụ; Thẩm phán.
Keywords: Citizen’s freedom; Interpretation of law; Simple citizen; Person in public function; Judge.
1. Quyền (tự) hiểu và thực hiện pháp luật của chủ thể
Trong xã hội có tổ chức và thượng tôn pháp luật, ứng xử pháp lý tích cực của chủ thể được hiểu là việc chủ thể thực hiện quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, được thừa nhận trong tuyên ngôn về quyền con người và được hiến định, trong khuôn khổ pháp luật. Sự tự do của chủ thể bao hàm tự do trong việc tiếp cận, tìm hiểu luật và thực hiện luật theo cách hiểu của mình để đạt được mục tiêu theo đuổi
[1].
Trong điều kiện quyền tự do được thừa nhận như nhau cho mọi chủ thể, việc tự do tiếp cận, tìm hiểu luật, trên nguyên tắc, cho ra kết quả có giá trị như nhau. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng đối với cùng một quy phạm pháp luật, các chủ thể có cách hiểu không giống nhau. Thực hiện pháp luật (implementation of law), về phần mình, là một công việc tế nhị. Nó xuất phát từ cách hiểu của người thực hiện về ý nghĩa của quy tắc pháp lý. Là con người tự do, bất kỳ thành viên nào của xã hội đều có quyền tự mình tiếp cận các quy tắc của luật và có quyền giải thích nội dung của các quy tắc ấy theo ý mình. Mỗi người có quyền cho rằng cách hiểu, cách làm của mình là đúng. Không ai bị buộc phải hiểu, nhìn nhận chuẩn mực qua lăng kính của ai khác, dù đó có là người đại diện cho nhà chức trách, là cấp trên trong quan hệ công tác. Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để luật được áp dụng vào việc chi phối một quan hệ xã hội trong bối cảnh có sự khác biệt trong cách hiểu luật của các chủ thể? Làm thế nào để tránh tình trạng mạnh ai nấy hiểu luật và áp dụng luật theo ý mình, tất yếu dẫn đến hỗn loạn trong đời sống xã hội?
Để trả lời chính xác các câu hỏi trên, trước hết cần quán triệt các nguyên tắc sau đây: Thứ nhất, mỗi người đều có quyền thuyết phục người khác để hiểu luật theo ý của mình, nhưng không ai, trừ quan tòa, có quyền áp đặt cách hiểu luật của mình đối với người khác
[2]. Thứ hai, quan tòa chỉ áp dụng pháp luật với tư cách người có quyền phân xử một khi có yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên trong tranh chấp, xung đột pháp lý được đưa ra trước Tòa án xem xét
[3].
Việc áp dụng luật trong bối cảnh có sự khác biệt trong cách hiểu luật của các chủ thể được định dạng tùy theo trường hợp mà việc phân tích luật được thực hiện. Trong bài viết này, chủ thể phân tích luật là cá nhân trong cuộc sống dân sự bình thường, người thực thi phận sự trong hệ thống quản lý hành chính hoặc Thẩm phán Tòa án trong quá trình xét xử.
2. Phân tích luật của chủ thể là cá nhân trong cuộc sống bình thường
Việc phân tích luật của chủ thể trong cuộc sống bình thường có thể được thực hiện trong những hoàn cảnh đa dạng. Các hoàn cảnh này có thể được chia thành hai nhóm lớn: Thứ nhất là phân tích luật trong khuôn khổ xác lập, thực hiện giao dịch; thứ hai là phân tích luật trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu luật của chuyên gia.
2.1. Phân tích luật để áp dụng trong khuôn khổ xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có thể rất đơn giản hoặc rất phức tạp. Đối với giao dịch dân sự đơn giản, quy định chi phối của luật thường cũng rất đơn giản và bên giao dịch không gặp khó khăn trong việc tìm hiểu, áp dụng luật để bảo đảm tính hợp lệ của giao dịch. Mua hàng trong siêu thị hoặc tại chợ truyền thống, ăn sáng tại quán ăn, đi xe bus, gửi xe máy trong bãi giữ xe… về thực chất là việc giao kết và thực hiện các hợp đồng. Chủ thể giao dịch cần thỏa mãn các điều kiện xác lập, thực hiện giao dịch, xác lập, thực hiện hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự và các luật liên quan. Thật ra, đối với các giao dịch đơn giản, bên giao dịch thường không tự mình trực tiếp tìm hiểu các quy định liên quan của luật chi phối mà chỉ đơn giản ứng xử theo thói quen. Nhà chức trách, về phần mình, không can thiệp vào việc định dạng hành vi ứng xử của bên giao dịch dựa theo các quy định liên quan của luật. Nhà chức trách chỉ triển khai các biện pháp gìn giữ trật tự trong không gian giao dịch để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên xác lập, thực hiện giao dịch một cách suôn sẻ. Điều đó có nghĩa là, ở góc nhìn phân tích luật, cách hiểu luật của bên giao dịch mặc nhiên được nhà chức trách và nói chung toàn xã hội tán đồng, thừa nhận
[4].
Trường hợp giao dịch phức tạp, như mua bán nhà đất, tài sản có giá trị lớn, người dân tham vấn chuyên gia như công chứng viên, luật sư, nhà môi giới… Nội dung của giao dịch, bao gồm các quyền, nghĩa vụ của bên giao dịch, được xác định dựa theo ý kiến tư vấn của chuyên gia. Các ý kiến này thường là kết quả đúc kết kinh nghiệm của chuyên gia về cách hiểu luật trong quá trình tư vấn cho khách hàng để xác lập, thực hiện các giao dịch có tính chất, đặc điểm tương tự.
2.2. Phân tích luật trong sinh hoạt học thuật của chuyên gia luật
Hoạt động nghiên cứu và phân tích luật của chuyên gia trước hết là một hoạt động khoa học. Mỗi nhà nghiên cứu xác định phương pháp làm việc phù hợp với chính mình và làm việc một cách chủ động, tự giác (mà không đợi đến khi được hỏi ý kiến). Trong việc công bố các kết quả hoạt động khoa học, nhà chuyên môn trong lĩnh vực khoa học luật, trên nguyên tắc, chỉ phải tôn trọng những giới hạn đối với quyền tự do báo chí, tự do xuất bản. Các công trình nghiên cứu khoa học luật được thể hiện dưới nhiều dạng, nhiều thể loại: Tác phẩm khảo luận; sách giáo khoa, giáo trình, tập bài giảng sử dụng tại các khoa luật; các báo cáo về kết quả nghiên cứu đề tài khoa học; các bài bình luận tổng quát về văn bản luật mới, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật; các báo cáo, tham luận được công bố tại các hội nghị, hội thảo khoa học; bài bình luận bản án…
Kết quả hoạt động phân tích luật của chuyên gia được coi là quan điểm chuyên gia về cách giải thích luật để áp dụng luật. Quan điểm nhìn nhận này không có tính ràng buộc pháp lý đối với bất kỳ chủ thể nào trong cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, ý kiến chuyên gia thường được Thẩm phán ghi nhận trong quá trình xem xét giải quyết các vấn đề trong vụ việc được thụ lý
[5]. Xét xử là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của hoạt động thi hành luật, là việc Thẩm phán áp dụng luật để giải quyết một tình huống cụ thể. Để xét xử, Thẩm phán dựa chủ yếu vào luật viết, đôi khi vào tục lệ, và trong trường hợp gặp khó khăn trong việc nghiên cứu, phân tích các quy tắc của luật hoặc tục lệ, Thẩm phán phải làm công việc của người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp
[6]. Lúc ấy, Thẩm phán có thể tham khảo các ý kiến đã được đưa ra trong lý thuyết pháp lý để xây dựng giải pháp của mình. Trong các hệ thống pháp lý phát triển ở trình độ cao, thường thấy bên cạnh các bản án được công bố có những ý kiến bình luận của người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp về giá trị lý luận của bản án. Dưới ảnh hưởng của những ý kiến bình luận đó, cũng như của toàn bộ hệ thống lý thuyết pháp lý, cơ quan xét xử có thể khẳng định hoặc thay đổi quan điểm của mình trong việc giải thích và áp dụng luật viết. Ngược lại, sự kiên định của cơ quan xét xử trong cách xem xét một vấn đề nào đó có thể khiến người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp phải điều chỉnh quan điểm của mình đối với vấn đề đó cho phù hợp.
Quan điểm chuyên gia về cách giải thích luật cũng có tác động đối với suy nghĩ của người làm luật trong quá trình biên soạn các điều luật. Vả lại, người nghiên cứu và phân tích luật viết không chỉ phát hiện quy phạm pháp luật. Luật viết, như đã biết
[7], có những hạn chế và những thiếu sót của nó. Một trong những nhiệm vụ của người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu và phân tích luật viết còn là phát hiện những hạn chế, những thiếu sót, bất cập của luật viết và đề xuất biện pháp sửa chữa, khắc phục trên cơ sở khoa học và đạo lý. Mặt khác, từ việc xem xét luật viết trong quá trình vận động, phát triển của luật học và trong khung cảnh của luật học so sánh, người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp đưa ra những dự đoán có tính chất khuyến cáo đối với người làm luật về hướng phát triển của luật học trong tương lai, để người làm luật tham khảo khi xây dựng một dự án luật mới.
Theo hướng tích cực hơn, người làm luật còn kêu gọi sự hợp tác, thậm chí, sự chủ trì của người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu và phân tích luật viết, trong việc xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền thông qua và ban hành
[8].
3. Phân tích luật của người thực thi công vụ trong hệ thống quản lý hành chính công
Người thực thi công vụ được hiểu là người có quyền ra quyết định để giải quyết vấn đề đặt ra trong khuôn khổ hoạt động chuyên môn của hệ thống cơ quan hành chính công. Việc giải quyết vấn đề phải được thực hiện trên cơ sở áp dụng pháp luật. Việc áp dụng pháp luật của người thi hành công vụ dựa trên cách hiểu, cách giải thích luật của người này. Để làm rõ giá trị pháp lý của việc giải thích luật của người thi hành công vụ, cần làm rõ bản chất mối quan hệ công vụ của người ra quyết định với chủ thể chịu sự tác động của quyết định (còn gọi là người dân) và với những người giữ các cương vị có liên quan trong hệ thống công quyền.
3.1. Trong mối quan hệ với người dân
Quyết định áp dụng pháp luật của người thực thi công vụ trong lĩnh vực quản lý hành chính liên quan đến người dân có thể được đưa ra trong nhiều tình huống đa dạng. Các tình huống này được xếp thành hai nhóm: nhóm các quyết định giải quyết yêu cầu cung ứng dịch vụ công và nhóm các quyết định chế tài hành chính.
Các quyết định giải quyết yêu cầu cung ứng dịch vụ công có thể đáp ứng mong muốn của người dân có yêu cầu: đồng ý đăng ký tài sản, cấp giấy phép xây dựng, cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh…; cũng có những quyết định đi ngược lại so với mong muốn đó: từ chối cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; từ chối cấp giấy phép lái xe…
Các quyết định chế tài hành chính được đưa ra trong trường hợp người dân có hành vi vi phạm pháp luật cần bị xử lý về mặt hành chính: phạt tiền và tước giấy phép lái xe do vi phạm luật giao thông, phạt tiền do chậm nộp thuế thu nhập cá nhân…
Thông thường, người dân hài lòng, thỏa mãn với các quyết định được đưa ra phù hợp với mong muốn của mình. Ở góc nhìn phân tích luật, người dân và người thực thi công vụ được cho là gặp nhau về cách hiểu luật trong trường hợp này. Bởi vậy, quan hệ giữa người dân yêu cầu cung ứng dịch vụ công và người thi hành công vụ diễn ra suôn sẻ.
Trường hợp người thi hành công vụ quyết định từ chối đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ công và trường hợp người thi hành công vụ ra quyết định chế tài đối với người dân bị cho là có hành vi vi phạm pháp luật, thì thông thường người dân không hài lòng. Người dân có hai lựa chọn
[9]: hoặc chấp nhận quyết định, không phản đối; hoặc phản đối quyết định. Trường hợp người dân chấp nhận quyết định, có thể thừa nhận rằng giữa người dân và người ra quyết định có sự thống nhất ý chí trong cách giải thích các quy định pháp luật đặt cơ sở cho việc ra quyết định, dù quyết định không thuận lợi đối với yêu cầu của người dân.
Trường hợp người dân không đồng tình với quyết định thì cần làm rõ giá trị pháp lý của quyết định áp dụng do người thực thi công vụ để ứng xử cho phù hợp.
Trước hết, quyết định áp dụng pháp luật của người thực thi công vụ, ở góc nhìn phân tích và giải thích luật, chỉ là kết quả tìm hiểu luật của một cá nhân. Tuy nhiên, khác với cá nhân bình thường, người thực thi công vụ là cá nhân đang nắm giữ quyền lực công; điều đó cho phép người này áp đặt cách hiểu luật của mình trong quan hệ với người dân thường trong một số trường hợp
[10]. Bởi vậy, kết quả tìm hiểu luật của người thực thi công vụ có vẻ như có giá trị pháp lý cao hơn kết quả tìm hiểu luật của người dân thường. Tuy nhiên, một cách hợp lý, một khi người dân không đồng ý với quyết định áp dụng của người thi hành công vụ thì có quyền tạm thời không thực hiện quyết định đó. Người thực thi công vụ, về phần mình, có quyền sử dụng công lực để buộc người dân phải hợp tác thực hiện quyết định áp dụng cho mình đưa ra một khi nhận thấy điều đó là cần thiết để bảo vệ trật tự xã hội
[11]. Còn trong trường hợp không có thách thức gì đối với trật tự xã hội do hệ quả của việc người dân không hợp tác thực hiện quyết định áp dụng pháp luật thì phải tôn trọng quyền phản ứng hợp lệ của người dân đối với quyết định do nhà chức trách đưa ra
[12].
Ở các nước tiên tiến, người dân không đồng ý với quyết định áp dụng pháp luật của người thực thi công vụ có hai lựa chọn theo quy định của luật. Lựa chọn thứ nhất là khiếu nại đến cấp cao hơn cấp ra quyết định áp dụng pháp luật; cấp này có quyền xét lại nội dung của quyết định đã được đưa ra
[13]. Lựa chọn thứ hai là kiện thẳng ra Tòa án. Quyền kiện ra Tòa cũng có thể được thực hiện sau khi đã thực hiện quyền khiếu nại hành chính mà kết quả giải quyết của cấp có thẩm quyền bị người khiếu nại cho là không thỏa đáng.
3.2. Trong mối quan hệ trên dưới trong hệ thống quản lý hành chính
3.2.1. Quan hệ với người thừa hành
Người thừa hành trong bộ máy hành chính không phải là người ra quyết định mà chỉ là người thực thi quyết định do người có thẩm quyền đưa ra. Bởi vậy, đối với người thừa hành, cách hiểu và áp dụng luật để ra quyết định của người chỉ huy có thẩm quyền có giá trị ràng buộc và phải được tôn trọng. Tuy nhiên, người thừa hành không chịu trách nhiệm với người dân chịu sự tác động của quyết định, vì đó không phải là quyết định của mình.
3.2.2. Quan hệ với cấp trên
Một khi được trao quyền ra quyết định xử lý một vấn đề gì đó được đặt ra trong khuôn khổ thực thi phận sự, thì trên nguyên tắc người ra quyết định có quyền áp dụng luật theo cách hiểu của mình khi ra quyết định theo đúng thẩm quyền được trao.
Có trường hợp cấp trên tiếp nhận khiếu nại của người dân về việc cấp dưới ra một quyết định bị người dân cho là không đúng luật, không thỏa đáng. Cấp trên có quyền xem xét lại nội dung quyết định của cấp dưới. Không loại trừ khả năng cấp trên chấp thuận khiếu nại của người dân và cho rằng quyết định của cấp dưới là không đúng luật. Ở các nước, trường hợp cấp dưới không đồng ý với cấp trên trong việc đánh giá nội dung quyết định do cấp dưới đưa ra thì cấp dưới có quyền kiện ra Tòa án để yêu cầu phân xử
[14].
Ở Việt Nam, hệ thống hành chính còn mang nặng tính chất tôn ti thượng cấp - thuộc quyền (hierarchical). Bởi vậy, cấp ra quyết định nhưng ở vị trí thấp chịu sự kiểm tra gắt gao của cấp trên. Phạm vi kiểm tra không chỉ liên quan đến quy trình ra quyết định của cấp dưới mà còn cả nội dung pháp lý của quyết định. Với kiểu quan hệ như thế, thì việc cơ quan cấp dưới ra quyết định có nội dung không phù hợp với quan điểm áp dụng pháp luật của người đứng đầu cơ quan cấp trên có thể không được coi là thể hiện sự khác biệt trong cách hiểu luật của chủ thể mà có thể bị coi là việc hiểu sai luật. Quyết định được đưa ra có thể bị đánh giá là quyết định trái luật và người ra quyết định có thể bị quy trách nhiệm hành chính, thậm chí trách nhiệm hình sự.
Đáng nói là trong cơ chế quản lý này, chủ thể được kiểm tra, đánh giá liên quan đến quyết định do mình đề ra không có bất kỳ cơ hội nào để gõ cửa Tòa án yêu cầu phân xử về sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa cấp trên và cấp dưới. Một cách tự nhiên theo bản năng sinh tồn, cấp dưới có xu hướng co mình, thụ động để không bị rơi vào trường hợp ra quyết định sai.
Cần lưu ý rằng, cơ chế kiểm tra thượng cấp - thuộc quyền đang vận hành ở Việt Nam cũng là cơ chế đang vận hành ở Pháp. Không thể phủ nhận rằng, chất lượng luật thành văn của Pháp rất cao, đặc biệt về tính rõ ràng, minh bạch, nhất quán và chặt chẽ. Điều đó giúp hạn chế sự đánh giá tùy tiện, chủ quan của cấp trên đối với cấp dưới liên quan đến nội dung của các quyết định hành chính do cấp dưới ban hành. Tuy nhiên, sự thiếu vắng cơ chế bảo vệ khách quan đối với cấp dưới trước quyền kiểm tra của cấp trên tất yếu khiến cấp dưới thận trọng, dè chừng trong việc ra quyết định đối với những trường hợp phức tạp. Có thể hiểu tại sao nền hành chính của Pháp bị cho là nặng nề, chậm chạp và kém hiệu quả
[15].
Không khó để nhận ra rằng, trong điều kiện cấp trên có quyền kiểm tra về nội dung quyết định do cấp dưới đề ra, thì phải có cơ chế đánh giá độc lập và khách quan đối với việc kiểm tra của cấp trên để phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ lạm quyền, áp đặt ý chí của cấp trên đối với cấp dưới trong việc giải thích và áp dụng pháp luật.
3.2.3. Quan hệ vớicơ quan thanh tra, kiểm tra
Cũng như cấp trên của người thực hiện hành vi hành chính, cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên nghiệp thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra nhằm bảo đảm sự vận hành minh bạch và đúng luật của hệ thống quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công. Với chức năng đó, cơ quan thanh tra, kiểm tra có quyền đòi hỏi hành vi hành chính được kiểm tra, thanh tra phải được thực hiện như thế nào để bảo đảm sự vận hành của hệ thống được trơn tru theo quy trình đã đặt ra.
Cơ quan thanh tra không kiểm tra, giám sát về nội dung pháp lý của quyết định do cơ quan được thanh tra, kiểm tra đưa ra, trừ trường hợp cơ quan thanh tra chuyên nghiệp chuyên ngành
[16]. Lý do đơn giản là cơ quan thanh tra chung không phải là cơ quan chuyên môn, không có thẩm quyền chuyên môn như cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp trên để đánh giá về hành vi hành chính của cơ quan được kiểm tra. Tất nhiên, với tư cách là chủ thể có quyền tiếp cận, tìm hiểu luật, cấp trên có thể trao đổi ý kiến với cấp dưới được trao quyền ra quyết định về cách hiểu và áp dụng luật. Tuy nhiên, trừ một số trường hợp đặc biệt, như trường hợp cơ quan thanh tra chung không có quyền áp đạt cách hiểu luật của mình đối với chủ thể được thanh tra, kiểm tra.
Chính ở điểm này, luật và thực tiễn ở Việt Nam đã và đang có sự hiểu sai về chức năng, quyền hạn của cơ quan thanh tra quyền kiểm tra. Sự hiểu sai này có điều kiện được duy trì và lan rộng do được hỗ trợ bởi các quy định của luật. Cụ thể, theo Điều 2 Luật Thanh tra năm 2025:
1. Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý của cơ quan thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Với quy định như trên, đặc biệt là quy định về nội dung thanh tra, thì cơ quan thanh tra chung có quyền áp đặt cách hiểu luật (chuyên ngành) của mình đối với chủ thể được thanh tra. Nếu không đồng ý với quyết định của cơ quan thanh tra, thì chủ thể được kiểm tra có quyền khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan thanh tra (cơ quan tổ chức đoàn thanh tra) hoặc cơ quan quản lý nhà nước cấp trên của cơ quan thanh tra (khoản 1 Điều 51 Luật Thanh tra năm 2025).
Thiết nghĩ, cần sửa lại các quy định liên quan để xác định cho hợp lý quyền hạn của cơ quan thanh tra trong thanh tra, kiểm tra đối với công việc của các cơ quan thuộc hệ thống quản lý nhà nước. Trên nguyên tắc, cơ quan thanh tra chỉ xem xét và đánh giá hành vi của cơ quan được thanh tra về phương diện tuân thủ quy trình nghiệp vụ; cơ quan thanh tra không đánh giá chất lượng phân tích luật (để áp dụng luật) thể hiện trong các quyết định chuyên môn của cơ quan được thanh tra.
3.2.4. Phân tích luật của Thẩm phán
Trong xã hội có tổ chức, thượng tôn pháp luật và tôn trọng quyền chủ thể, chỉ có Thẩm phán là người được luật phân giao quyền hạn đánh giá chất lượng hành vi ứng xử của chủ thể và xác định hành vi nào đó là đúng hay sai. Ở góc độ phân tích luật, Thẩm phán là người đưa ra kết quả phân tích được nhà chức trách thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhân danh quyền lực công.
Trong khuôn khổ giải quyết một tranh chấp giữa các chủ thể về cách hiểu và áp dụng một điều luật, Tòa án ra quyết định lựa chọn cách một trong hai cách hiểu trái ngược. Người ra quyết định hành chính mà bị Tòa án bác bỏ với lý do áp dụng sai luật không vì lý do đó mà bị coi là đã có hành vi vi phạm pháp luật và phải bị chế tài hành chính hoặc hình sự: trừ trường hợp vi phạm những điều cấm hoặc không làm một việc mà luật buộc phải làm, không ai bị coi là có hành vi trái pháp luật một khi ứng xử trên cơ sở giải thích một quy phạm pháp luật khác với cách giải thích của người khác, kể cả người khác là người nắm quyền phân xử. Điều này có thể được kiểm chứng một cách dễ dàng qua việc theo dõi quá trình xét xử một vụ tranh chấp dân sự: các bên đưa ra những yêu cầu trái ngược về cách hiểu và áp dụng luật; Thẩm phán chấp nhận yêu cầu của một bên và bác bỏ yêu cầu của bên kia; bên có yêu cầu bị bác bỏ (gọi là bên thua kiện) không vì lý do đã bảo vệ yêu cầu của mình mà bị coi là có hành vi phạm pháp.
Bản thân người có quyền phân xử cũng tiếp cận và tìm hiểu luật như mọi người, nghĩa là một cách hoàn toàn độc lập. Bởi vậy, không loại trừ khả năng có sự khác biệt giữa các quan tòa hoặc trọng tài về cách hiểu luật, dẫn đến việc ra bản án, phán quyết không giống nhau đối với cùng một vấn đề.
Do đặc điểm của tổ chức Tòa án và của thủ tục tố tụng, mà trong trường hợp không đồng ý với cách hiểu và áp dụng pháp luật của Thẩm phán cấp dưới, Thẩm phán cấp trên có quyền nói rằng Thẩm phán cấp dưới đã xử sai. Thế nhưng, đó tuyệt đối không phải là sự phán xét, không phải là tiêu chí để đánh giá sự tuân thủ pháp luật của Thẩm phán cấp dưới. Nguyên tắc theo đó, khi xét xử, Thẩm phán được độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
[17], không chỉ hàm ý sự độc lập của Thẩm phán với các bên tranh chấp, xung đột, với các tổ chức, cá nhân thứ ba mà còn cả đối với Thẩm phán cấp trên.
Giả sử bản án của tòa cấp dưới bị tòa cấp trên huỷ, sau đó, khi xử lại, tòa cấp dưới vẫn giữ nguyên phán quyết cũ, thì cũng không thể nói rằng Thẩm phán cấp dưới đã làm trái luật: đơn giản, cấp dưới và cấp trên không gặp nhau trong quá trình phân tích luật
[18]. Ở các nước tiên tiến, nếu bản án của tòa cấp dưới bị huỷ, thì việc xét xử lại sẽ được giao cho một tòa cùng cấp ở một quản hạt tư pháp khác. Trong không ít trường hợp, tòa cấp dưới ở nơi khác lại cũng xử giống hệt như tòa cấp dưới có bản án đã bị huỷ; thế rồi, đến lúc nào đó, trước sự kiên định quan điểm của các tòa cấp dưới, tòa cấp trên buộc phải từ bỏ quan điểm của mình.
Có trường hợp Thẩm phán bị mua chuộc và phân xử theo đúng ý muốn của một bên nào đó; khi ấy, Thẩm phán chỉ phạm tội nhận hối lộ. Nếu ra lệnh tiêu hủy chứng cứ để có thể xét xử theo hướng bất lợi cho một bên nào đó, Thẩm phán chỉ chịu trách nhiệm đối với việc thủ tiêu chứng cứ, vật chứng… Thiệt hại gây ra trong những tình huống ấy, nếu có, được bồi thường theo luật chung về trách nhiệm dân sự.
Suy cho cùng, không thể xây dựng được căn cứ khoa học, đạo đức cho việc đánh giá chất lượng pháp lý của hoạt động xét xử. “Quan tòa xử (ra bản án) trái pháp luật” là một khái niệm vô nghĩa; đúng hơn, đó là khái niệm đặc thù của xã hội hành chính hóa, trong đó Thẩm phán ứng xử về mặt nghề nghiệp, không phải theo pháp luật một cách độc lập, mà trong sự ràng buộc của mối quan hệ thượng cấp - thuộc quyền
[19]./.
[1] Lon Fuller, the Morality of Law, Yale University Press, 1964. Cũng có thể thể xem bài bình luận cuốn sách này của E. Tucker,
The Morality of Law, by Lon L. Fuller, Indiana Law Journal, quyển 40, số 2, năm 1965, tr. 270 -
280.
[3] Trong trường hợp có chủ thể bị cho là có hành vi vi phạm Luật Hình sự, thì cần có quyết định truy tố trước Tòa án của cơ quan công tố để kích hoạt quy trình xét xử của Tòa án. Cơ quan công tố được cho là đại diện cho Nhà nước, người bảo vệ lợi ích chung và trật tự xã hội bị xâm hại bởi hành vi vi phạm Luật Hình sự.
Trong trường hợp có người bị cho là có hành vi phạm pháp quả tang, cơ quan thực thi pháp luật có quyền áp dụng luật để khống chế người này dưới hình thức tạm giữ; tuy nhiên, ngay sau đó, cơ quan công lực phải tiến hành các thủ tục cần thiết để xử lý vụ phạm pháp dưới sự kiểm soát của Tòa án.
[5] Xem: Valerie Moulin, Caroline Mouchet,Tessa Pillonel, G-M Gkotsi, Bernard Baertschi, Jacques Gasser và Benoit Testé, Judges’ perception of expert reports: The effect of neuroscience evidence,
Int J Law Psychiatry,
2018 Nov-Dec:61:22-29, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30454558/, truy cập ngày 10/3/2025; David L Shapiro, LeKisha Mixon, Melissa Jackson và Jonathan Shook, Psychological expert witness testimonyand judicial decision making trends, Int J Law Psychiatry,
2015 Sep-Dec:42-43, https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/26341310/#full-view-affiliation-2,
truy cập ngày 10/3/2025.
[6] Song, khác với người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp, trong quá trình thực hiện công tác chuyên môn, thẩm phán không tự nghĩ ra vấn đề cần giải quyết, mà tiếp nhận vấn đề từ bên ngoài đưa vào.
[7] Xem: Nguyễn Ngọc Điện,
Phương pháp phân tích luật viết, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, năm 2024, tr. 16 - 38.
[8] Ví dụ, ở Anh có một cơ quan gọi là Senior Parliamentary Counsel tập hợp các chuyên gia luật uy tín hỗ trợ Nghị viện trong việc xây dựng luật. Về cá nhân, Elizabeth Gardiner được cho là chuyên gia luật giữ vai then chốt trong việc biên soạn các văn bản luật đặt cơ sở cho việc Anh rút khỏi Liên minh châu Âu (Brexit – related Legislation):
https://www.bbc.com/news/uk-politics-42772718, truy cập ngày 20/3/2025.
Ở Pháp, các giáo sư luật thường được mời tham gia xây dựng các dự án luật: Giáo sư Jean Carbonnier là người cầm trịch dự án sửa đổi Bộ luật Dân sự về phần các quy định liên quan đến quan hệ cha mẹ và con; Giáo sư Michel Grimaldi là trưởng nhóm nghiên cứu sửa đổi Bộ luật Dân sự về các quy định liên quan đến bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; GS Pierre Catala chủ trì dự án cải cách chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự.
[10] Trong trường hợp người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ trấn áp hành vi bị cho là vi phạm pháp luật của người dân, thì việc áp đặt cách hiểu luật của người thi hành công vụ được thực hiện nhân danh trật tự công; còn trong trường hợp người thi hành công vụ thực hiện việc giải quyết yêu cầu cung dịch dịch vụ công (đăng ký tài sản, đăng ký kinh doanh…), việc áp đặt cách hiểu luật chỉ được thực hiện như cách bên đối tác trong cuộc sống dân sự bình thường ứng xử do hiểu luật khác với bên kia.
[11] Ví dụ, trường hợp người dân thực hiện hành vi bị cho là phạm pháp quả tang.
Việt Nam cũng thừa nhận cho công dân cả quyền khiếu nại hành chính và quyền kiện ra Tòa án đối với các quyết định hành chính (Điều 7 Luật Khiếu nại hiện hành). Quyến khiếu nại hành chính bao gồm quyền khiếu nại trước chính cấp hành chính ra quyết định (trong tiếng Anh là reconsideration request) và quyền khiếu nại trước cấp trên của cấp hành chính ra quyết định.
Luật của Anh còn tổ chức một định chế độc lập gọi là Ombudsman để tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của cấp dưới đối với sự đánh giá được cho là áp đặt của cấp trên về tính hợp pháp của quyết định áp dụng pháp luật do cấp dưới ban hành: R. Kirkham và A. Stuhmcke, The common law theory and practice of the ombudsman/judiciary relationship, Common Law World Review, 49 (1), 2020, tr. 56-74; A. Bradley, The Role of the Ombudsman in Relation to the Protection of Citizens' Rights, The Cambridge Law Journal, Quyển 39, số 2, 11/1980, tr. 304-332.
Ở Anh, cấp trên trong hệ thống hành chính không xét lại nội dung quyết định hành chính do cấp dưới đưa ra.
[16] Ví dụ, cơ quan kiểm toán đối với hoạt động kế toán của cơ quan được kiểm tra.
[17] Nguyên tắc này được hiến định không chỉ ở Việt Nam (khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013) mà còn ở tất cả các nền dân chủ.
[18] Shimon Shetreet & Sophie Turenne,
Judges on Trial: The Independence and Accountability of the English Judiciary Cambridge University Press, 2013; Richard Posner,
How Judges Think, Harvard University Press, 2008.
[19] Nếu có ai là người có quyền phán xét thẩm phán, thì ai là người sẽ phán xét người đó? Để trả lời câu hỏi này, người ta phải đi mãi, theo vòng xoáy của cơ chế thượng cấp – thuộc quyền, đến vô cùng. Người chỉ huy cao nhất trở thành một thiết chế không thể định hình, có quyền ra lệnh từ trong bóng tối, nhưng không bao giờ phải chịu trách nhiệm về hậu quả của những mệnh lệnh ban ra.