Tóm tắt: Trên cơ sở các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, bài viết đánh giá một số nội dung quan trọng của Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) về chức năng xã hội của luật sư; phân định giữa quản lý nhà nước và tổ chức nghề nghiệp về luật sư; các vấn đề trong hành nghề luật sư, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Luật theo hướng bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời củng cố tính độc lập, trách nhiệm nghề nghiệp và chức năng xã hội của luật sư, góp phần xây dựng nền tư pháp công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Từ khóa: Luật sư; nghề luật sư; quản lý nhà nước; tự quản nghề nghiệp.
Abstract: Based on the methods of analysis, synthesis and comparative law, the article assesses a number of important contents of the Draft Law on Lawyers (Amended) concerning the social function of lawyers; the distinction between state management and professional organizations of lawyers; and issues related to legal practice and the operation of law-practicing organizations. The article then puts forward recommendations to further improve the Draft Law in the direction of ensuring the consistency of the legal system and enhancing the effectiveness of state management, while consolidating the independence, professional responsibility and social function of lawyers, thereby contributing to building a fair, transparent and effective justice system.
Keywords: Lawyers; legal profession; state management; professional self-governance.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Luật sư là một thiết chế nghề nghiệp độc lập, giữ vai trò đặc biệt trong hoạt động tư pháp. Khác với hoạt động kinh doanh thông thường, hoạt động của luật sư vừa mang bản chất cung cấp dịch vụ, vừa gắn trực tiếp với việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo đảm quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý và tính đúng đắn của quá trình áp dụng pháp luật. Trong lĩnh vực kinh tế, luật sư còn có vai trò phòng ngừa tranh chấp, thẩm định giao dịch, tư vấn tuân thủ, quản trị rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia thị trường trong nước, quốc tế. Sau gần hai mươi năm thi hành, Luật Luật sư hiện hành đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Trong bối cảnh mới, để khắc phục những tồn tại, hạn chế, Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
[1] đã có những sửa đổi toàn diện về nội dung. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề có nhu cầu cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiệu quả, tăng cường vai trò, trách nhiệm, tính minh bạch trong hoạt động của đội ngũ luật sư.
1. Về chức năng xã hội của luật sư
Điều 3 Dự thảo Luật quy định chức năng xã hội của luật sư như sau:
“Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội, bảo vệ Tổ quốc, lợi ích quốc gia và dân tộc, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình, luật sư đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Có thể thấy, quy định này đã khái quát tương đối đầy đủ chức năng xã hội của luật sư. Chức năng này nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh và giá trị mà nghề luật sư mang lại cho xã hội, vượt lên trên việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Tuy nhiên, nội dung Điều 3 đang đặt trọng tâm vào hoạt động nghề nghiệp hơn là nhấn mạnh chức năng của luật sư với tư cách là một chủ thể, vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất giữa tên điều và nội dung, đồng thời khẳng định rõ hơn vị trí, trách nhiệm và sứ mệnh của luật sư trong Nhà nước pháp quyền, đề nghị nghiên cứu chuyển từ cách diễn đạt “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần…” sang “Luật sư có sứ mệnh…”. Đây cũng là xu hướng được ghi nhận trong pháp luật và các chuẩn mực nghề nghiệp của nhiều quốc gia. Chẳng hạn, Điều 1 Luật Luật sư Nhật Bản năm 1949
[2] quy định: “Luật sư có sứ mệnh bảo vệ các quyền con người cơ bản và thực hiện công bằng xã hội”. Quy định này không chỉ xác định chức năng hành nghề mà còn khẳng định vai trò của luật sư như một thiết chế bảo vệ pháp quyền và công lý. Tương tự, Lời nói đầu của Bộ Quy tắc mẫu về đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA Model Rules of Professional Conduct) xác định rằng: “Với tư cách là thành viên của nghề luật, luật sư vừa là người đại diện cho khách hàng, vừa là một chủ thể của hệ thống tư pháp, đồng thời là một công dân có trách nhiệm đặc biệt đối với việc bảo đảm chất lượng của nền công lý”[3]. Quan điểm này nhấn mạnh rằng sứ mệnh của luật sư không chỉ giới hạn ở việc bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng mà còn bao gồm trách nhiệm đặc biệt trong việc thúc đẩy thực thi công lý. Nhiều văn kiện quốc tế cũng tiếp cận theo hướng này, ví dụ: Các Nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của luật sư (UN Basic Principles on the Role of Lawyers, 1990) khẳng định luật sư là chủ thể thiết yếu trong hoạt động thực thi công lý
[4]. Bộ nguyên tắc cốt lõi của nghề luật sư châu Âu (CCBE Charter of Core Principles of the European Legal Profession) cũng xác định việc phục vụ lợi ích của công lý, đồng thời bảo vệ lợi ích khách hàng là những giá trị nền tảng của nghề luật sư
[5].
Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc khẳng định sứ mệnh của luật sư ngay trong Luật Luật sư không chỉ có ý nghĩa về mặt biểu đạt mà còn tạo cơ sở định hướng cho việc xây dựng các quy định về đạo đức nghề nghiệp, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của luật sư. Đồng thời, cách tiếp cận này góp phần khẳng định luật sư không chỉ là người cung cấp dịch vụ pháp lý mà còn là một chủ thể quan trọng tham gia bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và củng cố nền pháp quyền. Từ đó, đề nghị cân nhắc chỉnh lý Điều 3 như sau:
“Điều 3. Chức năng xã hội của luật sư
Luật sư có sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội, bảo vệ Tổ quốc, lợi ích quốc gia và dân tộc, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình, luật sư đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
2. Vấn đề phân định giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp về luật sư
Phân định hợp lý giữa quản lý nhà nước đối với nghề luật sư và quyền tự quản nghề nghiệp của tổ chức luật sư được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nghề luật sư ở hầu hết các quốc gia
[6]. Quản lý nhà nước bảo đảm lợi ích công cộng, còn tự quản nghề nghiệp bảo đảm tính độc lập của nghề luật sư. Hai cơ chế này bổ trợ lẫn nhau nhưng cần có ranh giới rõ ràng để tránh sự can thiệp quá mức của Nhà nước hoặc sự buông lỏng quản lý của tổ chức nghề nghiệp. Tự quản của luật sư không phải là đứng ngoài pháp luật, mà trái lại tự quản chính là biểu hiện cao nhất của sự trưởng thành ý thức pháp luật và đạo đức nghề nghiệp từ chính nội bộ cộng đồng luật sư
[7]. Đây là cơ chế mà ở đó, Nhà nước thừa nhận và trao quyền cho một tổ chức xã hội - nghề nghiệp đại diện để họ tự ý thức, tổ chức thực thi các quy định, các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, khắt khe hơn cả những quy định tối thiểu của pháp luật để áp dụng riêng cho các thành viên luật sư trong hoạt động hành nghề của mình. Việc phân định này được thực hiện theo nguyên tắc: (i) Nhà nước quản lý bằng pháp luật, không can thiệp trực tiếp vào hoạt động nghề nghiệp hợp pháp của luật sư; (ii) Tổ chức nghề nghiệp luật sư tự quản về nghề nghiệp, nhưng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; (iii) Những vấn đề liên quan đến lợi ích công cộng (điều kiện hành nghề, trách nhiệm pháp lý, xử lý vi phạm pháp luật, bảo vệ người sử dụng dịch vụ pháp lý) thuộc trách nhiệm của Nhà nước; (iv) Những vấn đề liên quan đến chuẩn mực nghề nghiệp và quản trị nghề luật sư (đạo đức, ứng xử nghề nghiệp, đào tạo liên tục, kỷ luật nghề nghiệp, đại diện giới luật sư) thuộc trách nhiệm của tổ chức nghề nghiệp luật sư.
Việc phân định giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp không chỉ là vấn đề phân công thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà còn là biểu hiện của việc xác định giới hạn điều chỉnh của pháp luật
[8] và giới hạn thực hiện quyền lực nhà nước đối với một nghề nghiệp độc lập. Pháp luật không nên điều chỉnh trực tiếp mọi khía cạnh của hoạt động nghề luật sư mà cần tập trung thiết lập khuôn khổ pháp lý, xác định các chuẩn mực tối thiểu nhằm bảo vệ lợi ích công cộng; đồng thời trao cho tổ chức luật sư quyền tự quản đối với các vấn đề mang tính chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Trên thế giới, nhiều quốc gia phát triển đều áp dụng mô hình kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp về luật sư. Mức độ tự quản có thể khác nhau, nhưng xu hướng chung là: (i) Nhà nước tập trung xây dựng khung pháp lý và bảo đảm lợi ích công; (ii) Tổ chức luật sư được trao quyền tự chủ cao trong quản lý hoạt động nghề nghiệp, đặc biệt về đạo đức nghề nghiệp, đào tạo, kỷ luật và bảo vệ tính độc lập của luật sư.
Tại Việt Nam, mặc dù Luật Luật sư hiện hành đã thiết lập cơ chế phân công giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp của tổ chức luật sư, song ranh giới thẩm quyền giữa hai cơ chế này vẫn chưa được phân định thật sự rõ ràng ở một số lĩnh vực. Điều này dẫn đến tình trạng một số nhiệm vụ quản trị nghề nghiệp còn chịu sự can thiệp tương đối sâu của cơ quan quản lý nhà nước, trong khi một số nhiệm vụ khác chưa được trao đầy đủ cho tổ chức luật sư tương xứng với vai trò tự quản. Những vấn đề này chưa được giải quyết thấu đáo trong Dự thảo Luật (trọng tâm là các quy định của Chương IV). Trong khi đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới yêu cầu phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đây là một yêu cầu quan trọng, liên quan mật thiết đến việc xác định giới hạn của pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng.
Xuất phát từ những cơ sở trên, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân định thẩm quyền theo hướng bảo đảm tính độc lập của nghề luật sư, đồng thời vẫn duy trì hiệu lực quản lý nhà nước đối với các vấn đề liên quan đến lợi ích công cộng. Theo đó, Nhà nước nên tập trung xây dựng chính sách và pháp luật; quy định điều kiện hành nghề; quản lý đào tạo nghề theo khung pháp luật; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật; xử lý vi phạm pháp luật và bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ pháp lý. Nên nghiên cứu chuyển giao các nhiệm vụ mang tính sự vụ hành chính, tác nghiệp thường nhật liên quan đến hành nghề của luật sư cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư cấp tỉnh).
Để ngăn ngừa tình trạng xung đột thẩm quyền hoặc xuất hiện các khoảng trống quản lý, Dự thảo Luật cần pháp điển hóa một cơ chế phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp (đại diện cho quyền lực nhà nước) và Liên đoàn Luật sư Việt Nam (đại diện cho quyền tự quản). Cơ chế phối hợp này không được quy định chung chung mang tính hình thức, mà phải được chi tiết hóa thành các quy trình bắt buộc. Cần nâng cao năng lực tự chịu trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư trong hoạt động tự quản
[9].
Các đề xuất nêu trên cũng phù hợp với Các Nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của luật sư (UN Basic Principles on the Role of Lawyers, 1990), theo đó các hiệp hội nghề nghiệp của luật sư cần được trao quyền tự quản để duy trì chuẩn mực nghề nghiệp, bảo vệ tính độc lập của luật sư và hợp tác với Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, trong khi Nhà nước có trách nhiệm tạo lập khuôn khổ pháp lý và bảo đảm các điều kiện cần thiết để nghề luật sư hoạt động độc lập, hiệu quả. Sự phân định hợp lý giữa hai cơ chế này vừa bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, vừa bảo vệ tính độc lập của nghề luật sư - một yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền và quyền tiếp cận công lý. Yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị và kiến tạo phát triển là một xu thế tất yếu. Nhà nước tổ chức, triển khai, thi hành pháp luật không chỉ nhằm duy trì trật tự, mà phải góp phần giải phóng nguồn lực, khuyến khích sáng tạo và thúc đẩy phát triển. Điều này đòi hỏi các chủ thể thi hành pháp luật phải thay đổi cách nhìn về vai trò của mình, từ “người kiểm soát” sang “người đồng hành và hỗ trợ”
[10].
3. Vấn đề bảo mật thông tin khách hàng
Một trong các nghĩa vụ của luật sư được quy định trong Dự thảo Luật
[11]:
“Không được tiết lộ bí mật thông tin về vụ án, vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác”.Có thể thấy, quy định này mới chủ yếu tập trung vào thông tin mà luật sư trực tiếp biết được. Trong thực tế, hồ sơ khách hàng còn được tiếp cận bởi người tập sự, nhân viên, chuyên gia, đơn vị lưu trữ, nhà cung cấp phần mềm, dịch vụ điện toán đám mây hoặc công cụ trí tuệ nhân tạo. Việc chỉ quy định nghĩa vụ của cá nhân luật sư chưa bao quát chuỗi chủ thể tham gia xử lý dữ liệu. Đồng thời, Dự thảo Luật cũng chưa làm rõ phạm vi bí mật gồm thông tin do khách hàng cung cấp, nội dung trao đổi, hồ sơ, tài liệu làm việc, chiến lược giải quyết vụ việc, sản phẩm tư vấn và dữ liệu của người đến tìm kiếm tư vấn nhưng chưa ký hợp đồng.
Trên thế giới, theo quy định tại khoản 2 Điều 43a Luật Liên bang về luật sư của Đức năm 1959
[12]:
“Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật. Nghĩa vụ này áp dụng đối với mọi thông tin mà luật sư biết được trong quá trình hành nghề. Nghĩa vụ không áp dụng đối với những sự việc đã công khai hoặc xét theo tính chất không cần phải giữ bí mật. Luật sư phải yêu cầu những người do mình tuyển dụng cam kết giữ bí mật bằng hình thức văn bản và thông báo cho họ về hậu quả hình sự của việc vi phạm nghĩa vụ này”[13]. Đồng thời, khi thuê nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài, các khoản 1, 2 và 3 Điều 43e của Luật này yêu cầu luật sư chỉ cho phép tiếp cận thông tin trong phạm vi cần thiết, phải lựa chọn nhà cung cấp một cách cẩn trọng, ký thỏa thuận bảo mật bằng văn bản và chấm dứt ngay hợp tác nếu không thể bảo đảm việc tuân thủ nghĩa vụ bảo mật. Đối với dịch vụ được cung cấp ở nước ngoài hoặc trực tiếp phục vụ một vụ việc cụ thể, các khoản 4 và 5 Điều 43e của Luật này còn đặt ra yêu cầu về mức độ bảo vệ bí mật tương đương và sự đồng ý của khách hàng.
Đề nghị sửa đổi nội dung nêu trên của Dự thảo Luật (Điều 12) theo hướng mở rộng phạm vi các thông tin cần giữ bí mật để bảo đảm luật sư phải có trách nhiệm giữ bí mật về mọi thông tin có liên quan trong quá trình hành nghề của mình, bao gồm cả bí mật đối với dữ liệu thu thập được của khách hàng chưa ký hợp đồng. Bên cạnh đó, luật sư chỉ được cung cấp thông tin cho người tập sự, nhân viên, chuyên gia hoặc nhà cung cấp dịch vụ trong phạm vi cần thiết để thực hiện vụ việc và phải áp dụng biện pháp bảo đảm các chủ thể này tuân thủ nghĩa vụ bảo mật. Đồng thời, từ nghĩa vụ của luật sư nêu trên, đề nghị sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 22 Dự thảo Luật theo hướng tổ chức hành nghề luật sư phải xây dựng và thực hiện biện pháp quản trị an toàn thông tin; phân quyền truy cập; lựa chọn, giám sát nhà cung cấp dịch vụ; bảo vệ dữ liệu của khách hàng; phòng ngừa việc sử dụng trái phép thông tin trong hệ thống công nghệ và công cụ trí tuệ nhân tạo. Việc sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu hoặc trí tuệ nhân tạo không làm giảm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư đối với tính chính xác, hợp pháp, bảo mật của sản phẩm dịch vụ pháp lý.
4. Vấn đề cơ chế quản lý tiền, tài sản của khách hàng
Điều 18 Dự thảo Luật quy định tương đối chi tiết về hợp đồng dịch vụ pháp lý, phương thức tính thù lao và chi phí. Tuy nhiên, Dự thảo Luật chưa thiết lập một cơ chế đầy đủ về quản lý tiền, tài sản do khách hàng giao; chưa phân biệt rõ tiền thù lao của tổ chức hành nghề luật sư với tiền mà luật sư tạm giữ để thanh toán nghĩa vụ cho khách hàng; chưa quy định nguyên tắc tách biệt tài khoản, hạch toán và kiểm tra.
Trên thế giới, tại Anh và xứ Wales, việc quản lý tiền khách hàng được điều chỉnh trực tiếp bởi Quy tắc quản lý tài khoản của Cơ quan quản lý luật sư Anh và xứ Wales (SRA) ban hành năm 2018
[14] (Quy tắc). Quy định 4.1 của Quy tắc yêu cầu tiền khách hàng phải được giữ tách biệt với tiền của tổ chức hành nghề luật sư. Theo quy định 5.1 của Quy tắc, khoản tiền này chỉ được rút để thực hiện đúng mục đích đang được giữ, theo chỉ dẫn của khách hàng hoặc bên thứ ba, hoặc theo chấp thuận trước của SRA hay trong trường hợp được quy định. Quy định 5.2 và quy định 5.3 của Quy tắc yêu cầu việc rút tiền phải được phê duyệt, giám sát và không vượt quá số tiền được giữ cho khách hàng cụ thể. Quy định 1.2 của Quy tắc quy định những người quản lý của tổ chức chịu trách nhiệm liên đới và riêng rẽ đối với việc tuân thủ các quy tắc. Đặc biệt, quy định 2.5 của Quy tắc yêu cầu hoàn trả kịp thời tiền cho khách hàng hoặc bên thứ ba ngay khi không còn lý do chính đáng để tiếp tục nắm giữ. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, khoản 7 Điều 43a Luật Liên bang về luật sư năm 1959 quy định:
“Luật sư có nghĩa vụ thực hiện sự cẩn trọng cần thiết trong việc quản lý, xử lý các tài sản được giao cho mình. Tiền thuộc sở hữu của khách hàng hoặc của bên thứ ba phải được chuyển ngay cho người có quyền nhận hoặc được gửi vào tài khoản ủy thác (Anderkonto)”. Tại Hoa Kỳ, Quy tắc 1.15 của Bộ Quy tắc mẫu về Đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA Model Rules of Professional Conduct) yêu cầu rằng, luật sư được giao quản lý tài sản của khách hàng hoặc của bên thứ ba trong quá trình hành nghề phải quản lý và bảo quản tài sản đó với mức độ cẩn trọng của một người được ủy thác chuyên nghiệp. Cơ sở của Quy tắc 1.15 là nghĩa vụ ủy thác (fiduciary duty) của luật sư trong việc bảo vệ tài sản được giao quản lý, tách biệt tài sản đó khỏi tài sản riêng của luật sư và tránh mọi biểu hiện có thể làm phát sinh nghi ngờ về hành vi không đúng mực hoặc xung đột lợi ích
[15].
Ngoài ra, liên quan đến việc quản lý tài sản của khách hàng hoặc bên thứ ba, ở Hoa Kỳ có mô hình Quỹ IOLTA (Interest on Lawyers' Trust Accounts Foundation) là tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo pháp luật của từng bang tại Hoa Kỳ nhằm quản lý và phân bổ nguồn lãi phát sinh từ các tài khoản tín thác của luật sư. Theo cơ chế này, khi luật sư tiếp nhận các khoản tiền của khách hàng có giá trị nhỏ hoặc chỉ được lưu giữ trong thời gian ngắn, phát sinh nguồn lãi không đáng kể đối với khách hàng, trong trường hợp này, luật sư gửi các khoản tiền đó vào tài khoản tín thác chung có sinh lãi (IOLTA account). Theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp, luật sư không được hưởng bất kỳ lợi ích tài chính nào từ tiền của khách hàng. Vì vậy, tiền lãi phát sinh từ tài khoản IOLTA không thuộc về luật sư mà được ngân hàng tự động chuyển đến Quỹ IOLTA (IOLTA Foundation) của từng bang. Các quỹ này sử dụng nguồn kinh phí để tài trợ cho nhiều chương trình phục vụ lợi ích công, đặc biệt là trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, hoạt động hành nghề công ích (pro bono)
[16]. Mô hình Quỹ IOLTA phản ánh sự kết hợp giữa cơ chế quản lý tài sản theo nguyên tắc tín thác của nghề luật và trách nhiệm xã hội của luật sư, khi nguồn lợi ích kinh tế phát sinh từ việc quản lý tài sản của khách hàng được chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ lợi ích công, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý và tăng cường khả năng tiếp cận công lý trong xã hội.
Theo các tác giả, trước mắt, Dự thảo Luật nên được nghiên cứu bổ sung quy định về quản lý tiền, tài sản của khách hàng, theo đó, tiền, tài sản mà luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhận để quản lý, thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ cho khách hàng phải được tách biệt với tiền, tài sản của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Tiền của khách hàng phải được gửi vào tài khoản chuyên biệt, được theo dõi riêng cho từng khách hàng và chỉ được sử dụng đúng mục đích, theo thỏa thuận hoặc chỉ dẫn hợp pháp của khách hàng. Trước khi chuyển tiền của khách hàng để thanh toán thù lao, chi phí, tổ chức hành nghề phải cung cấp cho khách hàng hóa đơn, thông báo hoặc chứng từ thể hiện rõ số tiền và căn cứ thanh toán. Khi không còn căn cứ giữ tiền, tài sản, tổ chức hành nghề phải hoàn trả kịp thời cho khách hàng. Tổ chức hành nghề phải lưu giữ đầy đủ, chính xác, liên tục hồ sơ thu, chi, số dư, giao dịch và thực hiện đối chiếu định kỳ. Trong tương lai, có thể tiếp tục nghiên cứu thêm khả năng áp dụng và luật hóa về cơ chế thành lập các tổ chức phi lợi nhuận với sự quản lý của các Đoàn luật sư cấp tỉnh hoặc quản lý của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, có sự giám sát của các cơ quan nhà nước có liên quan để quản lý chung các khoản ký quỹ nhỏ, thời gian ngắn hạn để phục vụ tăng cường nguồn lực hỗ trợ các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo hoặc hỗ trợ thực hiện các hoạt động hành nghề công ích của luật sư.
5. Vấn đề kiểm soát vốn góp của người không phải luật sư trong công ty
Điểm b khoản 1 Điều 19 Dự thảo Luật quy định: “Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất 02 luật sư thành lập, có thể có thành viên góp vốn theo quy định của Chính phủ. Thành viên góp vốn không được làm người đại diện theo pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý, tham gia hoạt động điều hành của công ty và can thiệp vào hoạt động hành nghề của luật sư”. Có thể thấy, chính sách này có thể tạo điều kiện cho tổ chức hành nghề huy động nguồn lực đầu tư vào công nghệ, cơ sở vật chất, đào tạo và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, việc cho phép người không phải luật sư góp vốn cũng làm phát sinh nguy cơ nhà đầu tư tác động gián tiếp đến việc lựa chọn khách hàng, chiến lược xử lý vụ việc, mức thù lao, phân chia lợi nhuận và việc sử dụng thông tin bí mật. Quy định “không được làm người đại diện theo pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý, tham gia hoạt động điều hành của công ty và can thiệp vào hoạt động hành nghề của luật sư” chưa đủ để kiểm soát nếu nhà đầu tư nắm tỷ lệ vốn hoặc quyền biểu quyết chi phối. Ngoài ra, Dự thảo Luật chưa quy định nghĩa vụ bảo mật, công khai chủ sở hữu hưởng lợi, nguồn vốn và trách nhiệm khi thành viên góp vốn tạo sức ép đối với luật sư.
Trên thế giới, pháp luật Singapore không cho phép người không phải luật sư tự do tham gia sở hữu hoặc quản trị tổ chức hành nghề luật. Theo khoản 1 Điều 36G Luật về Nghề luật sư năm 1966
[17], cá nhân không phải người hành nghề pháp luật không được trở thành giám đốc, thành viên hợp danh, cổ đông và chia sẻ lợi nhuận của tổ chức hành nghề luật khi đã được đăng ký dưới dạng người không hành nghề luật thuộc diện đăng ký. Việc đăng ký do Giám đốc Dịch vụ pháp lý
[18] quyết định, có xem xét ý kiến phản đối của Tổng Chưởng lý và Hội Luật gia Singapore, đồng thời có thể kèm theo các điều kiện chung và điều kiện áp dụng cho từng trường hợp theo các khoản 3 - 5 Điều 36G của đạo luật nêu trên.
Theo các tác giả, Điều 19 Dự thảo Luật nên được hoàn thiện theo hướng thành viên góp vốn không phải là luật sư chỉ được sở hữu tổng cộng không quá một tỷ lệ vốn điều lệ do Luật quy định và không được nắm quyền biểu quyết chi phối trong công ty luật. Luật sư phải nắm quyền quyết định đối với việc tiếp nhận, từ chối khách hàng; phân công luật sư; nội dung tư vấn; phương án giải quyết vụ việc; quản lý hồ sơ, dữ liệu và tiền, tài sản của khách hàng. Thành viên góp vốn có nghĩa vụ bảo mật thông tin, phòng ngừa xung đột lợi ích; không được gắn lợi ích tài chính của mình với kết quả của một vụ việc cụ thể; phải công khai chủ sở hữu hưởng lợi và nguồn vốn theo quy định của pháp luật. Không cho phép người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước về luật sư hoặc người có nguy cơ xung đột lợi ích trực tiếp góp vốn vào tổ chức hành nghề luật sư. Về tỷ lệ vốn, có thể giao Chính phủ quy định sau khi đánh giá tác động nhưng Luật cần xác định rõ nguyên tắc luật sư phải duy trì quyền kiểm soát chuyên môn và không được để người không phải luật sư nắm quyền chi phối.
6. Vấn đề luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
Điều 23 Dự thảo Luật quy định “luật sư hành nghề với tư cách cá nhân” là luật sư làm việc theo hợp đồng lao động cho một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư. Về nguyên tắc, luật sư này chỉ được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ quan, tổ chức đã giao kết hợp đồng lao động, trừ một số trường hợp được pháp luật cho phép. Tên gọi “luật sư hành nghề với tư cách cá nhân” chưa phản ánh chính xác bản chất pháp lý của chủ thể được quy định. Người hành nghề tại Điều 23 Dự thảo Luật không trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý độc lập cho thị trường nhân danh cá nhân mình, mà thực hiện công việc pháp lý trong khuôn khổ quan hệ lao động và phục vụ nhu cầu pháp lý nội bộ của người sử dụng lao động. Vì vậy, tên gọi này có thể gây nhầm lẫn với luật sư hành nghề dưới hình thức Văn phòng luật sư hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn do 01 luật sư thành lập với tư cách cá nhân. Vì vậy, đề nghị chỉnh lý lại tên gọi “luật sư hành nghề với tư cách cá nhân” thành “luật sư nội bộ”. Tên gọi này phù hợp với thông lệ quốc tế với thuật ngữ “in-house lawyer” là nhân sự hoặc cố vấn pháp lý làm việc độc quyền và trực tiếp cho một công ty hoặc doanh nghiệp thay vì làm việc tại các văn phòng luật sư độc lập.
Kết luận
Sửa đổi Luật Luật sư không chỉ nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành mà còn phải hướng tới xây dựng một khuôn khổ pháp lý hiện đại, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế. Theo đó, các quy định của Dự thảo Luật cần bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa yêu cầu quản lý nhà nước với quyền tự quản nghề nghiệp của tổ chức luật sư; giữa việc nâng cao chất lượng, trách nhiệm hành nghề với việc bảo đảm tính độc lập của nghề luật sư; đồng thời tạo lập cơ chế pháp lý minh bạch, thống nhất và khả thi để phát huy đầy đủ vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp và đời sống kinh tế - xã hội./.
[1] Sau đây viết tắt là Dự thảo Luật. Các tác giả sử dụng bản Dự thảo Luật trình Chính phủ tháng 6/2026.
[4] Xem tại: https://www.ohchr.org/en/instruments-mechanisms/instruments/basic-principles-role-lawyers, truy cập ngày 01/8/2026.
[7] Nguyễn Văn Hà,
Định hướng hoàn thiện mô hình tự quản của luật sư Việt Nam bảo đảm phân định hợp lý giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp trong bối cảnh mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp và nguồn nhân lực tư pháp, bổ trợ tư pháp trong kỷ nguyên mới - đề xuất định hướng, nhiệm vụ hoàn thiện đến năm 2045”, Bộ Tư pháp, tháng 7/2026, Hà Nội, tr. 118.
[8] Trương Hồng Quang, Giới hạn của pháp luật và thực tiễn tại Việt Nam, Tạp chí Luật học,số 8/2020, tr. 3 - 14, 28.
[9] Nguyễn Văn Hà, tlđd, tr. 127 - 128.
[10] Võ Khánh Vinh, Đổi mới tư duy thi hành pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước: Suy nghĩ bước đầu, https://phaply.net.vn/doi-moi-tu-duy-thi-hanh-phap-luat-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-cua-dat-nuoc-suy-nghi-buoc-dau-a261261.html, truy cập ngày 01/8/2026.
[11] Điểm đ khoản 2 Điều 12 Dự thảo Luật.
[16] Từ khi được triển khai năm 1981 đến hết năm 2020, IOLTA đã tạo ra hơn 4 tỷ USD để hỗ trợ các hoạt động phục vụ công lý tại Hoa Kỳ. Riêng năm 2020, tổng giá trị các khoản tài trợ từ hệ thống IOLTA trên toàn quốc đạt hơn 175 triệu USD, trong đó trên 90% được sử dụng để hỗ trợ các tổ chức trợ giúp pháp lý và chương trình hành nghề công ích. Xem:
https://www.americanbar.org/groups/interest_lawyers_trust_accounts/overview/, truy cập ngày 01/8/2026.
[18] Giám đốc Dịch vụ Pháp lý (Director of Legal Services - DLS) của Singapore là một chức danh theo luật định được quy định trong Luật về Nghề luật sư năm 1966, đồng thời là người đứng đầu Cơ quan Quản lý dịch vụ pháp lý (Legal Services Regulatory Authority - LSRA), một đơn vị trực thuộc Bộ Pháp luật Singapore.