Hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư “am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề”

25/08/2026

PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt: Tờ trình Dự án Luật Luật sư (sửa đổi) của Bộ Tư pháp xác định một trong những mục đích của việc hoàn thiện Luật Luật sư là: “Xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi kỹ năng hành nghề, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế…”. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích yếu tố “kiến thức và kỹ năng hành nghề” của luật sư, qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật này.

Từ khóa: Luật sư; Liên đoàn Luật sư; Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình; Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
LUẬT-LUẬT-SƯ.jpg
 Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Việc đào tạo, bồi dưỡng luật sư về kiến thức pháp lý và kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam những năm qua về cơ bản đã bắt nhịp được xu thế phát triển của thế giới, góp phần hình thành đội ngũ luật sư có hiểu biết rộng, chuyên sâu về kiến thức pháp lý, có kỹ năng hành nghề thành thạo, phù hợp với yêu cầu được đặt ra trong pháp luật hiện hành và thể hiện ở Dự án Luật Luật sư (sửa đổi)[1]. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực này, việc đào tạo, bồi dưỡng luật sư về kiến thức pháp lý và kỹ năng nghề nghiệp ở nước ta mới chỉ chú trọng đến việc đào tạo để trở thành luật sư, mà thiếu đi cơ chế khuyến khích, hỗ trợ luật sư chủ động cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trong suốt quá trình hành nghề. Do đó, khắc phục hạn chế và tháo gỡ điểm nghẽn thể chế này là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm luật sư không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng hành nghề, qua đó đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế. 
1. Hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) theo hướng hình thành cơ chế, tạo điều kiện để luật sư nâng cao kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp
 Việc nâng cao kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình hành nghề, ngoài cố gắng, nỗ lực của luật sư còn đòi hỏi phải được pháp luật quy định để tạo ra cơ chế bảo đảm cho yêu cầu này được thực thi trong thực tế. Với cách tiếp cận này, một số vấn đề sau đây cần được cân nhắc trong quá trình hoàn thiện Luật Luật sư.
1.1. Bổ sung điều luật quy định địa vị pháp lý của luật sư hướng dẫn
Đặc điểm của việc đào tạo, bồi dưỡng luật sư là nghề đào tạo nghề, nói cách khác hành nghề luật sư sẽ tích luỹ được kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm và nó được truyền dạy từ người lớp trước cho các thế hệ sau. Đặc điểm này, được thể hiện khá rõ nét tại Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), theo Điều 9, “Tập sự hành nghề luật sư” là bắt buộc và thiết kế 02 phương án về phạm vi được thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của luật sư tập sự theo sự phân công và giám sát của luật sư hướng dẫn để cơ quan lập pháp lựa chọn. Ở cả hai phương án này, đều quy định luật sư tập sự thực hiện các hoạt động nghề nghiệp theo sự phân công và giám sát của luật sư hướng dẫn. Tuy nhiên, Dự thảo Luật lại không có quy định nào về tiêu chí, điều kiện, thẩm quyền và thủ tục phân công luật sư hướng dẫn đối với luật sư tập sự, cũng như quy định về trách nhiệm của luật sư hướng dẫn trong trường hợp không hướng dẫn thành công luật sư tập sự hoặc để họ vi phạm pháp luật hay gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần cho người khác khi hoạt động tập sự luật sư.
Vai trò của luật sư hướng dẫn rất quan trọng trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng luật sư nói chung và đối với luật sư tập sự nói riêng. Vai trò đó, thể hiện ở việc luật sư hướng dẫn là người thầy, người truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp cho luật sư tập sự, đồng thời là người giám sát mọi hoạt động của họ trong quá trình tập sự, do đó Luật Luật sư cần quy định địa vị pháp lý của luật sư hướng dẫn. Kinh nghiệm các nước cho thấy, pháp luật về luật sư thường đề cập đến những nội dung chủ yếu sau về luật sư hướng dẫn:
Thứ nhất, điều kiện để trở thành luật sư hướng dẫn được quy định khá chặt chẽ, bao gồm: Không chỉ về kinh nghiệm hành nghề ít nhất là 03 hoặc 05 năm liên tục mà còn phải có uy tín nghề nghiệp được tổ chức hành nghề luật sư đánh giá hằng năm, hoặc thông qua phản hồi của khách hàng hay nhận xét của đồng nghiệp; không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật hoặc bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư; tại một thời điểm, một luật sư chỉ được hướng dẫn tối đa một số lượng người tập sự nhất định (thường là 02 hoặc 03) để bảo đảm tính sát sao, kỹ lưỡng, hiệu quả trong quá trình đào tạo.
Thứ hai, quy định cụ thể các công việc của luật sư hướng dẫn trong hoạt động hướng dẫn, kiểm soát quá trình hoạt động thực tập nghề nghiệp của luật sư tập sự, chẳng hạn: Trách nhiệm trực tiếp giám sát, hướng dẫn người tập sự nghiên cứu hồ sơ và đi cùng, có mặt trong các buổi làm việc; trách nhiệm ký xác nhận vào Nhật ký tập sự và Báo cáo kết quả tập sự của luật sư tập sự; chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật và tổ chức về tính trung thực, chính xác của các hồ sơ vụ việc mà người tập sự sử dụng để báo cáo. Các công việc này của luật sư hướng dẫn được chi tiết hóa bằng các tiêu chí, chuẩn mực dùng cho người hướng dẫn và cả luật sư tập sự trong quá trình tập sự, đồng thời cũng là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hướng dẫn của luật sư hướng dẫn.
Thứ ba, thẩm quyền, thủ tục phân công luật sư hướng dẫn. Trên cơ sở quy định của pháp luật, các nước thường giao trách nhiệm quy định thẩm quyền, thủ tục phân công luật sư hướng dẫn cho tổ chức nghề nghiệp (liên đoàn/hiệp hội luật sư quốc gia) theo hướng bảo đảm thủ tục thuận lợi, hiệu quả cho luật sư hướng dẫn và luật sư tập sự, đồng thời phải bảo đảm được tính công khai, minh bạch, dễ kiểm soát, dễ đánh giá.
Thứ tư, quy định việc liên đới chịu trách nhiệm của luật sư hướng dẫn đối với người tập sự hành nghề luật sư trong quá trình hướng dẫn, giám sát, bảo lãnh. Trong mối quan hệ giữa luật sư hướng dẫn và người tập sự thì mọi hoạt động chuyên môn của người tập sự đều đặt dưới sự hướng dẫn, giám sát, bảo lãnh của luật sư hướng dẫn nên luật sư hướng dẫn phải chịu trách nhiệm cao nhất về mặt chuyên môn đối với các hồ sơ, vụ việc giao cho người tập sự hỗ trợ. Luật sư hướng dẫn phải chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng của các văn bản pháp lý (đơn từ, hợp đồng, bản ý kiến tư vấn) do người tập sự soạn thảo dưới sự phân công của mình. Người tập sự gây ra sai sót chuyên môn làm thiệt hại đến quyền lợi khách hàng, luật sư hướng dẫn và tổ chức hành nghề phải đứng ra giải quyết và chịu trách nhiệm. Những nội dung chủ yếu nêu trên khẳng định địa vị pháp lý của luật sư hướng dẫn trong quá trình đào tạo luật sư, do đó rất cần thiết được quy định trong Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
1.2. Thay đổi cách tiếp cận khi quy định điều kiện để trở thành người đại diện trong các tổ chức nghề nghiệp của luật sư
 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) quy định: “Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam không được quá 65 tuổi tính đến thời điểm tổ chức Đại hội và được giữ chức vụ không quá 02 nhiệm kỳ liên tiếp; trường hợp đặc biệt do cơ quan có thẩm quyền quyết định” (Khoản 3 Điều 27); “Chủ nhiệm Đoàn Luật sư không được quá 65 tuổi tính đến thời điểm tổ chức Đại hội và được giữ chức vụ không quá 02 nhiệm kỳ liên tiếp; trường hợp đặc biệt do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định” (khoản 4 Điều 30). Ngoài các quy định này, Dự thảo Luật không có quy định nào khác về điều kiện, tiêu chí để có thể trở thành Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư, đặc biệt là các tiêu chí về năng lực, trình độ và đạo đức, uy tín nghề nghiệp. Những quy định này của Dự thảo Luật đặt ra một số vấn đề cần được làm rõ sau đây:
- Việc quy định giới hạn độ tuổi và số lượng nhiệm kỳ được đảm nhiệm đối với một chức vụ quản lý cho một người là đặc trưng, tiêu chí trong việc bầu, bổ nhiệm các chức vụ trong bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm sự đổi mới bộ máy, tạo cơ hội cho cán bộ trẻ, ngăn ngừa tình trạng trì trệ và duy trì hiệu quả hoạt động ổn định, liên tục của cơ quan, tổ chức. Các quy định này có nên bắt buộc đối với các tổ chức nghề nghiệp không, khi các tổ chức này chú trọng đến yếu tố kinh nghiệm, uy tín nghề nghiệp của người đứng đầu. Vì vậy, Dự thảo Luật nên cân nhắc quy định về độ tuổi và số lượng nhiệm kỳ nắm giữ vị trí Chủ tịch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư.
- Dự thảo Luật quy định: “Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trên phạm vi toàn quốc, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác” (khoản 1 Điều 27). Với quy định này, Liên đoàn Luật sư Việt Nam mang tính xã hội - nghề nghiệp thống nhất, là tổ chức đại diện pháp lý cao nhất cho toàn thể luật sư và các Đoàn luật sư tỉnh, thành phố, tự vận hành, tự ban hành quy tắc đạo đức, giám sát kỷ luật và xử lý vi phạm nội bộ của các thành viên, mọi hoạt động của Liên đoàn dựa trên nguồn thu phí thành viên, đóng góp tự nguyện, không phân phối lợi nhuận kinh tế. Do đó, các quy định về điều kiện của người đứng đầu tổ chức nghề nghiệp luật sư là Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư cần thể hiện rõ các dấu hiệu, tiêu chí năng lực, trình độ, kinh nghiệm, đạo đức, uy tín chứ không phải chỉ là tiêu chí về độ tuổi và số lượng nhiệm kỳ nắm giữ vị trí. Khi có đầy đủ các tiêu chí này, Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư không những gánh vác được trách nhiệm tổ chức giao phó mà còn tạo ra sự đồng thuận trong giới luật sư, có quan hệ tốt với các cơ quan quản lý nhà nước, với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, với các đối tác trong và ngoài nước.
 Với những phân tích nêu trên, có cơ sở để đưa ra một số kiến nghị bổ sung đối với quy định tại Điều 27 và Điều 30 Dự thảo Luật như sau:
Thứ nhất, bổ sung điều kiện phải hành nghề luật sư từ 03 năm liên tục trở lên. Điều kiện này phản ánh người giữ vị trí Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư phải là người hành nghề luật sư, có thời gian, có kinh nghiệm nhất định hành nghề, khắc phục tình trạng người chưa bao giờ là luật sư nhưng lại giữ vị trí đứng đầu trong tổ chức của những người làm luật sư.
Thứ hai, bổ sung điều kiện, đã là luật sư hướng dẫn cho ít nhất 03 luật sư tập sự trở thành luật sư chính thức và được cấp thẻ. Điều kiện này thể hiện một phần năng lực, trình độ của luật sư giữ vị trí đứng đầu trong tổ chức của những người làm luật sư.
Thứ ba, bổ sung điều kiện không vi phạm quy định của Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, không vi phạm pháp luật và đức nghề nghiệp. Đây là điều kiện thể hiện phẩm chất đạo đức của người hành nghề luật sư, nhất là đối với người giữ vị trí đứng đầu trong tổ chức của những người làm luật sư[2].
2. Bổ sung quy định giao Liên đoàn Luật sư Việt Nam thẩm quyền ban hành Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình
 2.1. Thực trạng bào chữa trong vụ án tử hình và sự cần thiết của việc xây dựng, ban hành Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình
 Ở nước ta vẫn duy trì hình phạt tử hình, một số nghiên cứu gần đây cho rằng: “Việc duy trì hình phạt tử hình trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, tuy nhiên cần thu gọn phạm vi áp dụng loại hình phạt này[3]. Do đó, đòi hỏi phải có thủ tục tố tụng tương ứng khi giải quyết vụ án tử hình theo hướng khách quan, chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm quyền con người của người bị cáo buộc hình phạt tử hình, tránh oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài thủ tục chung, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 còn quy định một số thủ tục đặc thù trong giải quyết các vụ án có hình phạt tử hình, trên cơ sở tham chiếu các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, đặc biệt là các tiêu chuẩn áp dụng đối với vụ án tử hình và hoạt động tố tụng hình sự nói chung được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành[4].
Quyền bào chữa được quy định là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS năm 2015 với nội dung: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này” (Điều 16). Trên cơ sở nguyên tắc này, lần đầu tiên có một chương riêng quy định quyền, nghĩa vụ của người bào chữa và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự của BLTTHS[5] đã “góp phần nâng cao vị thế và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư trong đời sống và trong tố tụng; gia tăng phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của luật sư trên cơ sở quy định các trình tự, thủ tục một các cụ thể, rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu, bảo đảm tính khả thi, tạo điều kiện cho việc hành nghề được thuận lợi, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng[6]. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam, bao gồm BLTTHS năm 2015, Luật Luật sư năm 2015… và Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam năm 2015 đều không quy định tiêu chuẩn, điều kiện cũng như quy trình luật sư tham gia vụ án tử hình nên bất kể trình độ, năng lực ở mức độ nào; nhiều hoặc ít kinh nghiệm và bản lĩnh ra sao luật sư vẫn có thể tham gia bào chữa trong vụ án tử hình. Thực tiễn những năm qua cho thấy, phần nhiều các đối tượng bị cáo buộc phạm tội, đối mặt với án tử hình là những người nghèo, đời sống khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, trình độ văn hóa thấp, thậm chí có người không biết chữ, kém hiểu biết pháp luật trong các vụ án liên quan đến ma túy nên không thể có điều kiện nhờ luật sư. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thường là người bào chữa do các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định nên trách nhiệm, năng lực bào chữa chưa thực sự cao. Ngay cả trong những trường hợp người bào chữa được mời thì người bị cáo buộc phạm tội đối mặt với án tử hình cũng không thể chắc chắn mình đã có được sự hỗ trợ pháp lý tốt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên nhân là pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ các chuẩn mực, tiêu chí và điều kiện chuyên môn đối với luật sư tham gia bào chữa trong các vụ án có nguy cơ áp dụng hình phạt tử hình. Thực trạng này dẫn đến hiệu quả bào chữa chưa cao, nhiều trường hợp còn góp phần làm oan người vô tội, bị áp dụng hình phạt tử hình ảnh hưởng tiêu cực tới nhiều mặt đời sống xã hội, công lý, công bằng không được thực thi, quyền sống của con người bị xâm hại.
Một cuộc khảo sát thăm dò quan điểm, ý kiến về việc có cần một quy chế riêng về bào chữa đối với người bị cáo buộc phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt tử hình hay không đã được thực hiện vào năm 2020[7]. Tham gia khảo sát này có 181 luật sư ở 05 đoàn luật sư và nhận được kết quả như sau: 58 người trả lời có, cần thiết, chiếm (32,04%); 51 người trả lời không cần thiết, chiếm (28,17%), 72 người không có câu trả lời chiếm (39,77%). Cũng câu hỏi này ở đối tượng là sinh viên, học viên cao học của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả có sự khác biệt: với 120 người được hỏi thì có đến 114 có câu trả lời có, cần thiết, chiếm (95%); 06 người không có câu trả lời, chiếm (5%) và không có ai trả lời không cần thiết. Tổng hợp kết quả khảo sát ở cả 02 đối tượng luật sư và sinh viên, học viên cao học thì đa số cho rằng cần thiết phải có một quy chế riêng về bào chữa trong vụ án tử hình với tỷ lệ ứng (32,04% và 95%), trong khi đó tỷ lệ câu trả lời không cần thiết là (28,17%) ở luật sư đã phản ánh nhu cầu nâng cao chất lượng bào chữa trong vụ án tử hình ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế và cải cách tư pháp hiện nay.
Kết quả khảo sát trên cho thấy, việc ra đời quy chế bào chữa trong vụ án tử hình là cần thiết, xuất phát từ yêu cầu công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, quyền con người của Hiến pháp năm 2013[8], từ nhu cầu của thực tiễn giải quyết vụ án tử hình và đặc biệt từ đòi hỏi nâng cao chất lượng luật sư khi tham gia vụ án tử hình trong quá trình tố tụng hình sự giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, việc hình thành quy chế bào chữa này còn thể hiện sự hưởng ứng tích cực của Việt Nam trước lời kêu gọi của Liên hợp quốc: “Kêu gọi các quốc gia còn áp dụng hình phạt tử hình: Tôn trọng tiêu chuẩn luật pháp quốc tế trong việc bảo đảm các quyền của những người phải đối mặt với hình phạt tử hình, đặc biệt là những tiêu chuẩn tối thiểu, được nêu trong Nghị quyết của Hội đồng Kinh tế - xã hội 1984/50 ngày 25/5/1984[9], trong đó đòi hỏi quốc gia thành viên phải cung cấp, tạo điều kiện để người phải đối mặt với hình phạt tử hình có được dịch vụ bào chữa, hỗ trợ pháp lý chất lượng cao. Ngoài ra, “Những bảo đảm tư pháp cho những người đối mặt với hình phạt tử hình là vấn đề được cộng đồng quốc tế rất quan tâm. Những khía cạnh cơ bản trong vấn đề này bao gồm những yêu cầu về thủ tục tố tụng để bảo đảm sự xét xử công bằng, quyền được xin ân giảm của tử tù, quyền của tử tù có thời gian thích đáng để kháng cáo và xin ân giảm, đối xử nhân đạo với tử tù, không thi hành án tử hình khi các thủ tục tố tụng có liên quan chưa giải quyết xong, việc thông báo cho những người thi hành án về vụ việc, và việc thông báo cho gia đình và luật sư của tử tù[10].
Những phân tích trên đây cho thấy cần bổ sung quy định về Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình vào nội dung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Liên đoàn Luật sư Việt Nam tại vị trí sau khoản 3 Điều 28 Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi). Cụ thể:
Điều 28. Nhiệm vụ, quyền hạn của Liên đoàn Luật sư Việt Nam
 …3b. Ban hành và giám sát việc tuân theo Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình
2.2. Những nội dung chủ yếu của Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình
Với điều kiện của thể chế tư pháp Việt Nam, Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình cần thể hiện những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh của Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình: Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc pháp chế, cần quy định phạm vi áp dụng Quy chế trên toàn quốc nhằm bảo đảm chất lượng đại diện pháp lý tốt nhất cho tất cả những người có nguy cơ bị áp dụng hình phạt tử hình. Đồng thời, Quy chế cũng cần quy định được áp dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, từ khi người bị cáo buộc phạm tội đối mặt với hình phạt tử hình bị khởi tố bị can hoặc từ khi bị bắt, giữ trong trường hợp họ bị bắt, bị tạm giữ đến các giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Thứ hai, về điều kiện, tiêu chuẩn của luật sư tham gia bào chữa trong vụ án tử hình: Hiện nay, ở nước ta, ngoài các điều kiện, tiêu chuẩn của luật sư quy định trong BLTTHS năm 2015[11], Luật Luật sư năm 2015[12] thì không có bất kỳ quy định nào về tiêu chuẩn, điều kiện của luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình, ngay cả trong Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam năm 2015 cũng không điều chỉnh vấn đề này. Việc thiếu vắng các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của luật sư tham gia vụ án tử hình đã dẫn đến tình trạng, bất kể luật sư nào có trình độ, năng lực cao hay thấp; nhiều hoặc ít kinh nghiệm và bản lĩnh ra sao đều có thể tham gia bào chữa trong vụ án tử hình. Việc quy định điều kiện, tiêu chuẩn luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình là hết sức cần thiết và là điều kiện cần để có chất lượng bào chữa cao, hỗ trợ tốt cho người đối mặt với án tử hình trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể của luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình thường được đề cập bao gồm 03 nhóm:
(i) Những điều kiện, tiêu chuẩn cần phải có để được cơ quan/tổ chức có thẩm quyền cấp giấp phép hoặc giấy hành nghề luật sư bào chữa trong vụ án tử hình như: Trải qua khóa đào tạo về kiến thức, kỹ năng bào chữa trong vụ án tử hình; cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn một cách tận tâm và dịch vụ đại diện pháp lý chất lượng cao trong các vụ án tử hình…;
(ii) Những điều kiện, tiêu chuẩn cần phải có để chứng minh trình độ năng lực của luật sư trong vụ án tử hình như: Có kiến thức sâu rộng và am hiểu pháp luật cả về luật nội dung và luật hình thức; có kỹ năng trong đàm phán, thỏa thuận về những vấn đề tranh chấp phức tạp; có kỹ năng trong việc nghiên cứu, phân tích pháp luật và kỹ năng soạn thảo các văn bản liên quan đến giải quyết tranh chấp;
(iii) Những điều kiện, tiêu chuẩn cần phải có về kỹ năng tranh tụng trong quá trình tố tụng vụ án tử hình như: Kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng điều tra thu thập chứng cứ, kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa, kỹ năng bào chữa, tranh tụng trước tòa…
Những điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể của luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình nêu trên được xác định bởi các khóa đào tạo (cấp chứng chỉ), bởi các báo cáo hoạt động bào chữa hằng năm của luật sư và đánh giá thường niên hoặc không thường niên của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với luật sư, xác định thông qua đánh giá, phản ánh của khách hàng và xã hội đối với luật sư… Các yếu tố này được xem xét khi đánh giá luật sư có kinh nghiệm tham gia bào chữa trong vụ án tử hình hay không, trên cơ sở đó sẽ quyết định cấp chứng chỉ để luật sư được tham gia bào chữa trong vụ án tử hình của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc đánh giá, xác định “luật sư có kinh nghiệm” không chỉ đối với lần đầu để cấp chứng chỉ đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia bào chữa trong vụ án tử hình mà còn được sử dụng trong việc đánh giá thường niên và luật sư nếu không thỏa mãn các điều kiện, tiêu chuẩn sẽ bị loại ra khỏi danh sách “luật sư có kinh nghiệm”, không có tư cách tham gia bào chữa trong vụ án tử hình.
Thứ ba, những hướng dẫn về chứng cứ và thủ tục đối với luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình: Một nội dung quan trọng của Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình ở Việt Nam là những quy định mang tính chất hướng dẫn về chứng cứ và thủ tục đối với luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình. Những hướng dẫn này không chỉ là định hướng, chiến lược bào chữa mà còn là cẩm nang để luật sư nghiên cứu, sử dụng thường xuyên trong suốt quá trình tham gia bào chữa trong vụ án tử hình. Với cách tiếp cận này thì những hướng dẫn về chứng cứ và thủ tục đối với luật sư khi tham gia bào chữa trong vụ án tử hình trong Quy chế được xem như người thầy hỗ trợ luật sư mọi lúc, mọi nơi, bao gồm  những vấn đề sau:
(i) Những hướng dẫn về việc phát hiện các khiếm khuyết của chứng cứ buộc tội đối với người bị cáo buộc hình phạt tử hình như: Khi nguồn chứng cứ không rõ ràng; khi thu thập được các chứng cứ khác mâu thuẫn với các chứng cứ có trong hồ sơ buộc tội của Cơ quan điều tra; khi các tài liệu viết có trong hồ sơ vụ án bị làm giả hoặc có căn cứ nghi ngờ chúng bị làm giả; khi ảnh hoặc băng ghi hình ghi lại các chứng cứ vật chất không phản ánh đúng hình dạng và tính chất của chứng cứ gốc; khi bản sao chép của chứng cứ không phản ánh đúng nội dung của văn bản gốc; khi lời khai được đưa ra bởi người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần; khi lời khai dựa trên các ý kiến và suy đoán chủ quan; khi các lời khai mâu thuẫn nhau; khi lời khai được lấy thông qua các biện pháp trái quy định của pháp luật; khi biên bản ghi lời khai không tuân thủ các hình thức pháp lý bắt buộc; khi biên bản khám xét mô tả hiện trường không phù hợp với các tình huống thực tế tại hiện trường…
(ii) Những hướng dẫn về thủ tục tố tụng đối với người bị cáo buộc hình phạt tử hình trong quá trình giải quyết vụ án theo các giai đoạn tố tụng hình sự. Cụ thể như sau: Ở giai đoạn khởi tố vụ án, khi thấy căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can không thuyết phục, khi có vi phạm pháp luật trong các hoạt động tố tụng khởi tố vụ án. Ở giai đoạn điều tra, khi phát hiện có vi phạm trong hoạt động điều tra, nhất là trong việc thu thập chứng cứ, hỏi cung bị can, thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Ở giai đoạn truy tố, khi phát hiện ra chứng cứ hoặc lập luận của Viện kiểm sát không phù hợp, không thuyết phục với cáo buộc đối với bị can mà luật sư bảo vệ. Ở giai đoạn xét xử, khi phát hiện có sự vi phạm nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc phiên tòa công khai và các quy định khác về thủ tục phiên tòa, khi có vi phạm nghiêm trọng hoặc tước đoạt những quyền được pháp luật bảo đảm mà bị cáo không được hưởng tại phiên tòa…
(iii) Những hướng dẫn về các kỹ năng của luật sư: Kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng thu thập chứng cứ, kỹ năng tranh tụng, kỹ năng bào chữa tại phiên tòa…
Thứ tư, về việc ban hành và tổ chức thực hiện Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình: Kinh nghiệm các nước cho thấy đa phần việc xây dựng, ban hành quy chế đều do các hiệp hội, liên đoàn… của tổ chức nghề nghiệp luật sư tiến hành, cho nên Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ là chủ thể chịu trách nhiệm chính xây dựng, ban hành Quy chế bào chữa trong vụ án tử hình.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng sẽ là cơ quan thống nhất hướng dẫn, triển khai thực hiện Quy chế trên phạm vi toàn quốc, đồng thời thực hiện việc kiểm tra, giám sát thực hiện Quy chế đối với các Đoàn Luật sư và luật sư nhằm phát hiện, xử lý vi phạm. Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư tổ chức thực hiện, tạo các điều kiện cần thiết để luật sư của mình có thể cung cấp dịch vụ pháp lý cao nhất cho người bị đối mặt với hình phạt tử hình. Trường hợp có bằng chứng cho thấy một luật sư không cung cấp dịch vụ đại diện pháp lý cao, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Ban chủ nhiệm các Đoàn Luật sư phải có hành động thích hợp để bảo vệ lợi ích của khách hàng, đồng thời với biện pháp xử lý luật sư.  
Kết luận
Nâng cao năng lực của luật sư là đòi hỏi tất yếu, thường xuyên, liên tục trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một trong những yếu tố có tính chất nền tảng cho cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều này không chỉ là đòi hỏi tự thân mà còn là yêu cầu phát triển đất nước, yêu cầu cải cách thể chế, cải cách tư pháp, bảo đảm tranh tụng, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người. Việc nâng cao kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình hành nghề, ngoài cố gắng, nỗ lực của luật sư còn đòi hỏi phải được pháp luật quy định để tạo ra cơ chế bảo đảm cho yêu cầu này được thực thi trong thực tế. Do đó, hy vọng rằng, các kiến nghị nêu trong bài viết sẽ được xem xét đưa vào Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)./.

 


[1] Bộ Tư pháp, Tờ trình Dự án Luật Luật sư (sửa đổi) tháng 6/2026.
[2] Cụ thể:
Điều 27:…“3. Chủ tịch, Phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam phải có các điều kiện sau:
a. Đã hành nghề luật sư từ 03 năm liên tục trở lên;
b. Đã là luật sư hướng dẫn cho ít nhất 03 luật sư tập sự trở thành luật sư chính thức và được cấp thẻ;
c. Không vi phạm phạm pháp luật, đức nghề nghiệp bị xử lý”.
Điều 30:…“4. Chủ nhiệm Đoàn Luật sư phải có các điều kiện sau:
a. Đã hành nghề luật sư từ 03 năm liên tục trở lên;
b. Đã là luật sư hướng dẫn cho ít nhất 02 luật sư tập sự trở thành luật sư chính thức và được cấp thẻ;
c. Không vi phạm phạm pháp luật, đức nghề nghiệp bị xử lý”.
[3] Nguyễn Ngọc Chí, Một số suy nghĩ về hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội - Chuyên san Luật học, tập (28), 2012, tr.43.
[4] Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc năm 1966; Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc về việc bãi bỏ hình phạt tử hình năm 1989 và các công ước quốc tế khác có liên quan.
[5] Xem: Chương V, BLTTHS năm 2015: Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
[6] Nguyễn Hòa Bình, Những nội dung mới của BLTTHS năm 2015 (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.181.
[7] Khảo sát “Nhận thức và kinh nghiệm tranh tụng của luật sư sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật” được thực hiện trong khuôn khổ Dự án: “Giai đoạn 2 của Chương trình hỗ trợ các nguyên tắc tranh tụng trong tư pháp hình sự tại Việt Nam: Nâng cao kiến thức nền tảng về tranh tụng hình sự cho sinh viên luật dựa trên đánh giá thực tiễn tranh tụng sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật” do Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ pháp lý (LERES), Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam phối hợp thực hiện tháng 12/2020.
[8] Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
[9] Liên hợp quốc, Nghị quyết số 62/149 về việc hoãn áp dụng hình phạt tử hình, ngày 18/12/2007. Xem bản tiếng Anh tại: https://undocs.org/en/A/RES/62/149.
[10] Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Những điều cần biết về hình phạt tử hình (sách chuyên khảo),Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2010, tr. 106.
[11] Chương V, Điều 72 BLTTHS năm 2015.
[12] Chương II, Điều 10, Điều 11 Luật Luật sư năm 2015.

Thống kê truy cập

42927153

Tổng truy cập