Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi)

04/08/2026

PGS.TS. CAO VŨ MINH

Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Chính phủ đã chủ trì xây dựng Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) thay thế Luật Dầu khí năm 2022. Hiện nay, Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) đang được lấy ý kiến Nhân dân. Bài viết phân tích một số vấn đề pháp lý trong Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) nhằm đưa ra các kiến nghị tiếp tục hoàn thiện. 

Từ khóa: Dầu khí; hoạt động dầu khí; điều tra cơ bản về dầu khí; hợp đồng dầu khí.
Abstract: In implementing the Law on the Promulgation of Legal Normative Documents 2025 (amended and supplemented in 2025), the Government has taken the lead in drafting the Law on Petroleum (amended) to replace the 2022 Law on Petroleum. At present, the Draft Law on Petroleum (amended) is being circulated for public consultation. This article analyzes several legal issues in the Draft Law on Petroleum (Amended) in order to provide recommendations for further improvement.
Keywords: Petroleum; petroleum operations; basic petroleum survey; petroleum contract.
LUẬT-DẦU-KHÍ.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Luật Dầu khí năm 2022 được đánh giá là một trong những đạo luật tiến bộ với cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với thực tiễn hoạt động dầu khí tại Việt Nam. Với cơ sở pháp lý thông thoáng từ Luật Dầu khí năm 2022 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, ngành dầu khí đã có những đóng góp quan trọng cho nguồn thu ngân sách nhà nước. Cụ thể, 03 năm qua, trữ lượng dầu khí trong nước đạt 38,8 triệu tấn quy dầu (năm 2023 đạt 10,3 triệu tấn quy dầu, năm 2024 đạt 14,5 triệu tấn quy dầu và năm 2025 đạt 14 triệu tấn quy dầu); sản lượng khai thác dầu khí 03 năm đạt 24,89 triệu tấn dầu và 19,83 tỷ m3 khí (năm 2023 đạt 8,63 triệu tấn dầu và 7,47 tỷ m3 khí, năm 2024 đạt 8,12 triệu tấn dầu và 6,35 tỷ m3 khí, năm 2025 đạt 8,14 triệu tấn dầu và 6,01 tỷ m3 khí); nộp ngân sách nhà nước là 480,2 nghìn tỷ đồng (năm 2023 là 151,8 nghìn tỷ đồng; năm 2024 là 165 nghìn tỷ đồng; năm 2025 là 163,4 nghìn tỷ đồng)[1].
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, việc tiếp tục hoàn thiện Luật Dầu khí trở nên cấp thiết. Ngày 26/9/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 về Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó có Dự thảo Luật Dầu khí thay thế Luật Dầu khí năm 2022. Hiện nay, Dự thảo Luật Dầu khí  đang được đưa ra lấy ý kiến Nhân dân. Để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các luật có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tác giả có một số ý kiến đóng góp như sau:
1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong Dự thảo Luật
Ngoại trừ Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) luôn luôn chỉ tồn tại duy nhất, các loại VBQPPL khác thường xuyên có nhiều văn bản do cùng một cơ quan ban hành cùng có hiệu lực ở một thời điểm nhất định. Vì cùng loại văn bản và cùng do một cơ quan ban hành nên các văn bản này có cùng vị trí thứ bậc trong hệ thống VBQPPL. Trong trường hợp các văn bản đó cùng quy định về một vấn đề nhưng nội dung khác nhau thì không thể đồng thời được áp dụng. Vì vậy, lựa chọn quy phạm nào để áp dụng trong những trường hợp đó phải được quy định thành nguyên tắc áp dụng pháp luật.
Hiện nay, Điều 4 Dự thảo Luật quy định về nguyên tắc áp dụng Luật Dầu khí, các luật có liên quan, pháp luật nước ngoài, thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế như sau:
1. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Dầu khí và luật khác về cùng một vấn đề cụ thể liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thì áp dụng Luật Dầu khí...
2. Luật khác ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành nếu quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện để thực hiện điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí khác với quy định của Luật Dầu khí thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí, nội dung thực hiện theo quy định của luật khác đó...”.
Theo khoản 1 Điều 4, để giải quyết xung đột giữa Luật Dầu khí với các luật khác của Quốc hội có liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí, Dự thảo Luật thừa nhận nguyên tắc ưu tiên áp dụng Luật Dầu khí so với các luật khác của Quốc hội. Trong hệ thống pháp luật của nước ta hiện nay, có những trường hợp hai VBQPPL cùng điều chỉnh một vấn đề cụ thể, trong đó có một VBQPPL điều chỉnh chung nhất và một văn bản điều chỉnh chuyên sâu. Văn bản chuyên sâu phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng vấn đề cụ thể nên thường được ưu tiên áp dụng so với văn bản điều chỉnh chung.
Khoa học pháp lý trên thế giới cũng thừa nhận nguyên tắc: khi có sự khác nhau giữa luật chung và luật chuyên sâu thì ưu tiên áp dụng luật chuyên sâu”. Pháp luật Hoa Kỳ thừa nhận nguyên tắc trong quá trình áp dụng, luật riêng (luật chuyên sâu) bao giờ cũng được áp dụng trước luật chung[2]. Ở Pháp, nguyên tắc này không được quy định trong một văn bản pháp luật cụ thể nhưng được thừa nhận rộng rãi trong thực tế[3]. Tương tự như pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luậtViệt Namkhông quy định cụ thể ưu tiên áp dụng luật chuyên sâu so với luật chung nhưng thực tiễn nhiều VBQPPL do Quốc hội ban hành đã cụ thể hóa nguyên tắc này[4].
Ưu tiên áp dụng văn bản chuyên sâu là một nhu cầu thực sự tồn tại trong quản lý nhà nước. Việc ưu tiên lựa chọn áp dụng quy định chuyên sâu có mục đích bảo đảm sự phù hợp của pháp luật với những điều kiện đặc thù của từng lĩnh vực quản lý cụ thể.Do đó, thừa nhận nguyên tắc “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Dầu khí và luật khác về cùng một vấn đề cụ thể liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thì áp dụng Luật Dầu khí” là hợp lý. Tuy nhiên, ngoài luật thì Quốc hội còn ban hành VBQPPL với tên gọi là nghị quyết. Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội khác với quy định của luật hiện hành; tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; vấn đề khác do Quốc hội quyết định.
Nhìn chung, nghị quyết của Quốc hội được sử dụng để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có tầm quan trọng quốc gia và trong nhiều trường hợp mang tính nhất thời, cụ thể. Phạm vi điều chỉnh của nghị quyết do Quốc hội ban hành trong đa số các trường hợp là các nhóm quan hệ xã hội tuy quan trọng nhưng không thực sự cơ bản và bao trùm như luật. Sự phân biệt giữa luật và nghị quyết chủ yếu thể hiện ở mục đích sử dụng của chúng chứ không phải ở hiệu lực pháp lý và quy trình ban hành[5]. Một câu hỏi đặt ra là so với luật thì nghị quyết mang tính quy phạm của Quốc hội có giá trị pháp lý cao hơn hay thấp hơn. Nếu căn cứ vào vị trí sắp xếp trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì có thể “ngụ ý” rằng trong các VBQPPL do Quốc hội ban hành thì Hiến pháp có giá trị pháp lý cao nhất, tiếp đến là luật và sau cùng là nghị quyết. Tuy nhiên, nếu quan niệm như vậy thì sẽ không giải thích được một thực tế đã từng xảy ra, đó là Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Bên cạnh đó, Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng quy định Quốc hội ban hành nghị quyết để tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật”. Để thực hiện quyền này, tất nhiên, Quốc hội phải ban hành nghị quyết để “tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng đối với luật của Quốc hội. Khi mà văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn thì thật khó để thực hiện quyền tạm ngưng thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật. Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu các văn bản hiện hành, chúng tôi chưa tìm thấy văn bản nào khẳng định giá trị pháp lý của luật cao hơn nghị quyết của Quốc hội. Có lẽ vì vậy mà nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng một số nghị quyết của Quốc hội là văn bản mang tính chất luật[6]. Có giáo trình cũng khẳng định những nghị quyết của Quốc hội chứa đựng quy tắc xử sự chung có giá trị tương đương với luật[7].
Như vậy, vấn đề pháp lý đặt ra là nếu nghị quyết quy phạm của Quốc hội có quy định khác với Luật Dầu khí liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thì áp dụng văn bản nào? Bản thân khoản 1 Điều 4 Dự thảo Luật không thể được viện dẫn để ưu tiên áp dụng Luật Dầu khí khi có quy định khác với nghị quyết của Quốc hội. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất và bao quát, tác giả kiến nghị điều chỉnh khoản 1 Điều 4 Dự thảo Luật như sau: “1. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Dầu khí và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề cụ thể liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thì áp dụng Luật Dầu khí....
Tương tự, khoản 2 Điều 4 Dự thảo Luật cũng cần được điều chỉnh nhằm giải quyết xung đột trong việc áp dụng pháp luật khi một nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngàyLuật Dầu khí có hiệu lực mà lại có quy định khác với Luật Dầu khí. Theo tác giả, khoản 2 Điều 4 Dự thảo Luật sẽ được điều chỉnh như sau: “Luật, nghị quyết khác của Quốc hội ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành nếu quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện để thực hiện điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí khác với quy định của Luật Dầu khí thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật Dầu khí, nội dung thực hiện theo quy định của luật, nghị quyết khác đó”.
Ngày 30/4/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW và đưa ra những cam kết mạnh mẽ về cải cách thể chế. Với phương châm “luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã cung cấp tiền đề quan trọng cho công tác xây dựng pháp luật tiến bộ, chuyển từ tư duy ban hành luật chi tiết sang ban hành luật khungnhằm bảo đảm hiệu lực lâu dài của văn bản luật[8]. Với góc nhìn đấy, có thể dự đoán, sau khi Quốc hội ban hành Luật Dầu khí thì để đưa luật vào cuộc sống sẽ cần rất nhiều VBQPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Những văn bản này được xem là “cánh tay nối dài” của Luật Dầu khí. Do đó, nếu xác định nguyên tắc ưu tiên áp dụng Luật Dầu khí so với luật, nghị quyết khác của Quốc hội khi có những quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì cũng cần phải ưu tiên áp dụng các VBQPPL quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các nội dung của Luật Dầu khí. Do đó, ngay cả khi VBQPPL quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các nội dung của Luật Dầu khí, VBQPPL được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Dầu khí được ban hành trước thì vẫn ưu tiên áp dụng các văn bản này khi có nhiều VBQPPL có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Vì vậy, tác giả đề xuất cần bổ sung vào Điều 4 Dự thảo Luật một nguyên tắc áp dụng pháp luật như sau: “VBQPPL quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các nội dung của Luật Dầu khí, VBQPPL được ban hành để thực hiện thẩm quyền được giao trong Luật Dầu khí được áp dụng trong trường hợp có nhiều VBQPPL có quy định khác nhau về cùng một vấn đề.
2. Chính sách ưu đãi áp dụng đối với các lô, mỏ dầu khí
Chính sách ưu đãi là những đặc quyền mang tính ưu tiên nhằm khuyến khích, hỗ trợ một nhóm đối tượng cụ thể. Thông thường, chính sách ưu đãi được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến như miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, tín dụng hoặc hỗ trợ phúc lợi xã hội[9]. Trong các hình thức nêu trên thì miễn, giảm thuế đóng vai trò rất quan trọng bởi ưu đãi về thuế có thể quyết định mức độ cạnh tranh của các quốc gia[10].
Dự thảo Luật cũng quy định chính sách ưu đãi về thuế đối với các lô, mỏ dầu khí. Theo Điều 46 Dự thảo Luật, chính sách ưu đãi áp dụng đối với các lô, mỏ dầu khí được thực hiện thông qua hợp đồng dầu khí. Cụ thể, hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 32%. Hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%.
Chính sách ưu đãi áp dụng đối với các lô, mỏ dầu khí là một cơ chế kinh tế - pháp lý then chốt của Nhà nước, có ý nghĩa cốt lõi trong việc tháo gỡ những vướng mắc về đầu tư, gia tăng sản lượng khai thác, từ đó bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Theo đó, các lô, mỏ dầu khí nằm ở vùng nước sâu, xa bờ, hoặc khu vực có điều kiện địa lý đặc biệt khó khăn thường đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Chính sách ưu đãi giúp giảm bớt gánh nặng tài chính ban đầu, biến các khu vực rủi ro này thành các điểm đến hấp dẫn đối với các tập đoàn dầu khí quốc tế. Trong bối cảnh dòng vốn dịch chuyển năng lượng toàn cầu cạnh tranh khốc liệt, Việt Nam đã thiết kế mức thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tương đồng với các nước trong khu vực như Thái Lan (20%), Malaysia (25%), Trung Quốc (25%), Myanmar (30%). Quy định này được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam giữ chân các nhà thầu cũ và thu hút thêm các dòng vốn nước ngoài mới.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 46 Dự thảo Luật vẫn có thể được điều chỉnh hợp lý hơn nhằm bảo đảm tính linh hoạt khi áp dụng vào thực tiễn. Hiện nay, điểm a khoản 4 Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) (gọi tắt Luật Thuế TNDN) quy định: “Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số trường hợp khác được quy định như sau: Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí từ 25% đến 50%. Căn cứ vào vị trí, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ, Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể phù hợp với từng hợp đồng dầu khí”. Luật Thuế TNDN quy định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí theo biên độ dao động từ tối thiểu đến tối đa là 25% đến 50%. Luật Thuế TNDN không quy định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp một cách cụ thể như Dự thảo Luật. Mặc dù quy định của Dự thảo Luật về mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư là 32% (hoặc 25% đối với ưu đãi đầu tư đặc biệt) vẫn nằm trong biên độ từ 25% đến 50% - tức vẫn phù hợp với Luật Thuế TNDN, nhưng cách quy định như Dự thảo Luật là cứng nhắc. Điều này sẽ dẫn đến việc phải thường xuyên sửa đổi quy định của luật mỗi khi cần tăng hay giảm mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư.
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2023, 2025), “Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính ổn định, có giá trị lâu dài...”. Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại, các quan hệ xã hội thường xuyên có sự biến động thì lựa chọn ban hành luật khung là một xu hướng đúng đắn của những nhà lập pháp Việt Nam. Luật chi tiết tồn tại một nhược điểm cố hữu là tính không ổn định bởi khi quan hệ xã hội thay đổi thì những quy định cụ thể điều chỉnh phải được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng sự phù hợp. Sửa đổi, bổ sung luật là một yêu cầu khách quan của cuộc sống. Quốc hội làm luật, sửa đổi luật là Quốc hội đang thể hiện sự năng động với thời cuộc. Thế nhưng, việc sửa đổi, bổ sung luật quá thường xuyên có thể gây ra những hệ lụy như bất ổn trong môi trường pháp lý, khó khăn cho việc thực thi và tuân thủ luật pháp, từ đó làm giảm lòng tin vào tính ổn định của hệ thống pháp luật. Do đó, Điều 46 Dự thảo Luật chỉ cần quy định những nội dung mang tính nguyên tắc về chính sách ưu đãi áp dụng đối với các lô, mỏ dầu khí. Vấn đề mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hợp đồng dầu khí đối với lô, mỏ dầu khí được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư cần được quy định theo biên độ dao động từ tối thiểu đến tối đa cho phù hợp với thực tiễn luôn chuyển động. Tùy từng thời điểm và tùy vào tình hình kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể phù hợp với từng hợp đồng dầu khí.
3. Vấn đề quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí
Dự thảo Luật được xây dựng thành 12 chương với 62 điều luật. Cụ thể, Chương I - Những quy định chung gồm 09 điều (từ Điều 1 - 9); Chương II - Điều tra cơ bản về dầu khí gồm 04 điều (từ Điều 10 - 13); Chương III - Lựa chọn nhà thầu ký hợp đồng dầu khí gồm 04 điều (từ Điều 14 - 17); Chương IV - Hợp đồng dầu khí gồm 13 điều (từ Điều 18 - 30); Chương V - Hoạt động dầu khí gồm 10 điều (từ Điều 31 - 40); Chương VI - Ưu đãi trong hoạt động dầu khí và chính sách khai thác tài nguyên đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu gồm 05 điều (từ Điều 41 - 45); Chương VII - Công tác kế toán, kiểm toán gồm 2 điều (từ Điều 46 - 47); Chương VIII - Quy định khung về hoạt động CCS[11] trong hoạt động dầu khí gồm 04 điều (từ Điều 48 - 51);  Chương IX - Chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao và năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí gồm 02 điều (từ Điều 52 - 53); Chương X - Quyền và nghĩa vụ nhà thầu gồm 02 điều (từ Điều 54 - 55); Chương XI - Chức năng, quyền và nghĩa vụ của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam trong điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí gồm 05 điều (từ Điều 56 - 60); Chương XII - Điều khoản thi hành gồm 02 điều (từ Điều 61 - 62).
Nghiên cứu bố cục của Dự thảo Luật, chúng ta hoàn toàn không thấy có một chương riêng, thậm chí là một điều luật chuyên biệt quy định vấn đề quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí. Đây là một điều rất khó hiểu bởi Điều 1 Dự thảo Luật quy định: “Luật này quy định về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí trong phạm vi đất liền, hải đảo và vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Một khi đã quy định điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí cũng như xác định phạm vi áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, người nước ngoài có liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí thì phải xác định được trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước. Trong tương quan đó, vấn đề quản lý nhà nước liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí phải được minh định trong Luật này.
Dưới góc độ học thuật,chủ thể chủ yếu của quản lý nhà nướctoàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phái sinh, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc[12]. Do đó, Dự thảo Luật cũng phải có quy định cụ thể vai trò chủ đạo trong quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí của Chính phủ. Ngoài ra, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng tham gia quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí. Vì vậy, thẩm quyền quản lý của các cơ quan này cũng cần được ghi nhận trong Dự thảo Luật.
Một điểm mới của Dự thảo Luật so với Luật Dầu khí năm 2022 là đã quy định thêm vấn đề chuỗi giá trị dầu khí. Việc đưa khái niệm “chuỗi giá trị dầu khí” vào khoản 8 Điều 3 Dự thảo Luật không đơn thuần chỉ là giải thích thuật ngữ pháp lý mà còn là cơ sở quan trọng cho việc liên kết chặt chẽ các hoạt động điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí gắn với vận chuyển, tồn trữ, xử lý, chế biến dầu khí, dịch vụ kỹ thuật dầu khí và năng lượng ngoài khơi. Cùng với Điều 50 cho phép triển khai CCS trong diện tích hợp đồng dầu khí, kể cả xử lý trường hợp thành tạo địa chất lưu trữ CO₂ vượt ra ngoài phạm vi diện tích hợp đồng, Điều 53 cho phép nghiên cứu công trình năng lượng ngoài khơi phục vụ hoặc tích hợp với công trình dầu khí, Dự thảo Luật đã bước đầu tiếp cận ngành dầu khí như một hệ thống các hoạt động có mối liên kết, thay vì chỉ nhìn theo từng mỏ, từng công đoạn riêng biệt. Các cá nhân, tổ chức khi tiến hành điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí, phát triển chuỗi giá trị dầu khí phải thực hiện các công việc bảo đảm an toàn như xây dựng các tài liệu về quản lý an toàn; thiết lập, duy trì và phát triển hệ thống quản lý an toàn bảo đảm kiểm soát các rủi ro. Điều này đặt ra yêu cầu phải có quy định rõ ràng về nội dung quản lý nhà nước. Thông thường, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về dầu khí nói riêng phải có các nội dung sau[13]: i. Ban hành VBQPPL điều chỉnh; ii. Ban hành các văn bản hướng dẫn về vấn đề kinh tế, kỹ thuật; iii. Tổng kết, báo cáo tình hình thực hiện; iv. Hướng dẫn, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng liên quan; v. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm; vi. Tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
 Quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí là hình thức hoạt động của Nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực dầu khí nhằm bảo đảm khai thác tài nguyên hiệu quả, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh quốc gia. Vì vậy, tác giả kiến nghị, Dự thảo Luật cần được bổ sung một Chương “Quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí”, trong đó quy định về trách nhiệm của các chủ thể quản lý và nội dung quản lý nhà nước. Chương “Quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí” sẽ có thể đặt ở vị trí trước Chương “Điều khoản thi hành” và bao gồm 02 điều luật.
Điều thứ nhất: Các cơ quan quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí.
2. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí.
Điều thứ hai: Nội dung quản lý nhà nước về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành VBQPPL, chiến lược, kế hoạch phát triển ngành dầu khí;
2. Thẩm định, ban hành, hướng dẫn về định mức chi phí, định mức kinh tế, kỹ thuật cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí;
3. Tổng hợp, theo dõi, báo cáo tình hình phát triển và kết quả tìm kiếm thăm dò, khai thác, tiêu thụ dầu khí trong nước và xuất khẩu;
4. Thực hiện hợp tác quốc tế;
5. Hướng dẫn, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng liên quan;
6. Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện VBQPPL về dầu khí;
7. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí theo thẩm quyền;
8. Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước đối với điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Kết luận
Trong bối cảnh công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng khó khăn và tình hình thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng lớn đến nguồn cung năng lượng (xung đột quân sự Nga - Ucraina, Trung Đông...), Luật Dầu khí năm 2022 cần được thay đổi một cách đồng bộ, toàn diện. Thực hiện Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Chính phủ đã chủ trì xây dựng Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) thay thế Luật Dầu khí năm 2022. Để nâng cao chất lượng của các quy phạm pháp luật, việc tiếp thu ý kiến đóng góp có vai trò rất quan trọng. Hy vọng, với sự tiếp thu các ý kiến góp ý một cách đầy đủ, Luật Dầu khí mới sau khi được ban hành sẽ có tính khả thi cao, từ đó tạo động lực tăng trưởng mới, khơi thông nguồn lực, đóng góp cho sự phát triển đất nước, góp phần bảo đảm chủ quyền trên biển và an ninh năng lượng quốc gia./.
[1] Tờ trình số 359/TTr-CP ngày 02/7/2026 của Chính phủ về Dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
[2] Phạm Duy Nghĩa, Tìm hiểu Luật Thương mại Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 1999, tr. 21.
[3] Thái Thị Tuyết Dung, Các nguyên tắc giải quyết xung đột trong các văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 05, năm 2011, tr. 15.
[4] Cao Vũ Minh,Sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: chú trọng các nguyên tắc áp dụng pháp luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04, năm 2012, tr. 16.
[5] Tào Thị Quyên, Tính chất pháp lý, quy trình, thủ tục ban hành nghị quyết của Nghị viện các nước và một số kinh nghiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20, năm 2012, tr. 62.
[6] Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2013, tr. 23.
[7] Lê Minh Tâm (chủ biên), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, năm 2006, tr. 360.
[8] Cao Vũ Minh,Ban hành luật khung theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị: Tổng quan một số quốc gia trên thế giới, hệ quả phát sinh và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11 + 12, năm 2025, tr. 46.
[9] Đình Trọng Thắng - Trần Tiến Dũng, Thực trạng chính sách ưu đãi thu hút FDI vào Việt Nam hiện nay, Tạp chí Tài chính, số 704, năm 2019, tr. 14.
[10] Nguyễn Thị Lâm Anh, Tác động của chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 3, năm 2022, tr. 51.
[11] Khoản 7 Điều 3 Dự thảo Luật quy định: CCS (Carbon Capture and Storage) là thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu trữ carbon dioxide (CO2) trong các thành tạo địa chất nhằm giảm phát thải khí nhà kính.
[12] Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2013, tr.21.
[13] Nguyễn Hồng Minh, Đặc thù quản lý nhà nước về dầu khí và vấn đề sửa đổi luật dầu khí, Tạp chí Công nghiệp Mỏ, số 1, năm 2022, tr. 9.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15 (522), tháng 08/2026.)


Thống kê truy cập

42315272

Tổng truy cập