Mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)

01/10/2026

PGS. TS. NGUYỄN MINH HẰNG

Phó giám đốc Học viện Tư pháp

TS. LÊ MAI ANH

Nguyên Phó giám đốc Học viện Tư pháp.

 
Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đang được nghiên cứu thay thế bằng Luật Luật sư (sửa đổi), bài viết phân tích những vấn đề đặt ra đối với mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đánh giá mối quan hệ giữa đào tạo nghề, tập sự hành nghề và cơ chế đánh giá đầu ra, bài viết đề xuất định hướng phát triển mô hình đào tạo tập trung dưới sự quản lý của Nhà nước, tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; đồng thời kiến nghị hoàn thiện các quy định của Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) về đào tạo nghề, luật sư tập sự và kỳ thi quốc gia về luật sư.
Từ khóa: Mô hình đào tạo nghề luật sư; Học viện Tư pháp; nghề luật sư.
Abstract: In the context of the 2006 Law on Lawyers (amended and supplemented in 2012) being studied for replacement by the Law on Lawyers (Amended), the article analyzes the issues currently facing the lawyer training model in Vietnam. Based on an assessment of the relationship between vocational training, practical apprenticeship, and output evaluation mechanisms, the article proposes an orientation for developing a centralized training model under State management, strengthening coordination among state management agencies, training institutions, and the lawyers’ socio-professional organization. It also gives recommendations to perfect the provisions of the Draft (Amended) Law on Lawyers regarding vocational training, apprentice lawyers, and the national bar examination.
Keywords: Lawyer training model; Judicial Academy; legal profession.
 
LUẬT-LUẬT-SƯ_1.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Đặt vấn đề
            Trong lịch sử phát triển thể chế pháp lý luật sư, Luật Luật sư (sửa đổi) dự kiến được ban hành tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026) tới đây (sau đây gọi tắt là Luật năm 2026) đang được kỳ vọng là bướt ngoặt mới, đóng vai trò tạo sự chuyển biến tích cực cho công cuộc hoàn thiện thể chế, thực thi pháp luật ở Việt Nam. Trong số những vấn đề pháp lý được đề cập và giải quyết ở lần ban hành Luật năm 2026 này, vấn đề phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư chiếm một vị trí quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nâng cao chất lượng nguồn lực chất lượng cao của nghề luật sư trong kỷ nguyên mới. Sau hai thập kỷ thi hành Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), tính đến ngày 31/12/2025, cả nước đã có khoảng 22.098 luật sư hoạt động trong hơn 6.300 tổ chức hành nghề luật sư (tăng khoảng 18.000 luật sư so với năm 2006). Sự gia tăng của số lượng luật sư đã dần đáp ứng nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức[1]. Thành quả đó cho thấy nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước và cộng đồng nghề luật trong việc thay đổi diện mạo của nghề luật sư ở Việt Nam, đồng thời phản ánh xu thế phát triển có tính thời đại của nghề nghiệp này. Luật Luật sư hiện hành đã thực sự hoàn thành sứ mệnh đối với một nghề nghiệp có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến công cuộc đổi mới, phát triển đất nước thời kỳ trước.
            Bước vào kỷ nguyên mới, sự phát triển của nghề và đội ngũ hành nghề luật sư đứng trước nhiều thời cơ - thách thức mới và tất yếu đặt ra yêu cầu phát triển có tính chiến lược của mô hình đào tạo nghề luật sư. Bài viết tập trung nhận diện chiến lược phát triển mô hình đào tạo nghề luật sưgắn với yêu cầu hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) trong bối cảnh thể chế pháp lý, kinh tế, xã hội đang có những chuyển biến sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi số, qua đó đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động giáo dục, đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam.
2. Tiếp cận chiến lược về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, gắn với yêu cầu hoàn thiện Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
Từ phương diện khoa học giáo dục, mô hình đào tạo nghề luật sư là cấu trúc tổng thể, mang tính hệ thống, bao gồm triết lý, mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy, nguồn lực đào tạo, cơ chế quản trị và tổ chức thực hiện hoạt động đào tạo, nhằm chuyển hóa tư duy, nhận thức, kỹ năng, cách hành xử của người học trên nền tảng luật học ở bậc học cử nhân/sau đại học luật để trở thành một luật sư có đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng, đạo đức và bản lĩnh nghề nghiệp khi hành nghề thực tế. Hình dung chung, đó là “Bản thiết kế” tổng thể, quy định cách thức một quốc gia, thông qua cơ sở đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo, giáo dục, rèn luyện và đánh giá ứng viên trước khi họ chính thức được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Với từng quốc gia, nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, truyền thống, môi trường nghề nghiệp khác biệt sẽ hình thành, duy trì mô hình đào tạo nghề luật sư khác nhau.
 Tại Việt Nam, mô hình hiện đang áp dụng trong đào tạo nghề luật sư là mô hình đào tạo tập trung theo sự quản lý của Nhà nước. Mô hình này đang thực hiện bởi Học viện Tư pháp - Cơ sở đào tạo hoạt động theo cơ chế tự chủ toàn diện nhưng dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp[2]. Về bản chất, mô hình này gắn kết với giai đoạn đào tạo cơ bản, hàn lâm về pháp luật và khoa học pháp lý của mô hình đào tạo cử nhân luật (tiếp nối sau khi học viên tốt nghiệp chương trình đại học luật). Giai đoạn đào tạo kiến thức chuyên môn - kỹ năng - đạo đức và ứng xử nghề nghiệp tại Học viện Tư pháp sẽ được tiếp nối và hoàn chỉnh về kiến thức, kỹ năng, chuẩn mực ứng xử đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp đối với một cá nhân được xác định là có năng lực, tư cách pháp lý của người hành nghề luật sư khi giai đoạn đào tạo mang tính thực hành thực tiễn tại tổ chức hành nghề kết thúc tốt đẹp bởi sự kiện người tập sự hành nghề vượt qua thử thách của kỳ thi hết tập sự. Như vậy, hình dung về lý luận và thể chế thì ở Việt Nam hiện nay, mô hình đào tạo nghề luật sư cơ bản tập trung ở đào tạo tại Học viện Tư pháp (tức giai đoạn giữa của quá trình đào tạo một ứng viên trở thành một luật sư, với xuất phát điểm từ đào tạo cử nhân và kết thúc ở giai đoạn đào tạo thực hành nghề nghiệp).
Từ khi Quốc hội ban hành Luật Luật sư năm 2006 đến nay, mô hình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp có những thay đổi đáng kể về thời gian, nội dung, phương pháp đào tạo, cơ chế quản trị và tổ chức hoạt động đào tạo. Sự thay đổi một mặt đáp ứng đòi hỏi từ yêu cầu thể chế, mặt khác nhằm từng bước nâng tầm chất lượng, quy mô đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển nguồn nhân lực hành nghề. Nhận diện chung về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp như sau:
(a) Trtết lý đào tạo: “Thực dạy - Thực học - Thực nghề”;
(b) Mục tiêu đào tạo:Hiểu vàlàm được công việc cơ bản của luật sư mới hành nghề; hành xử chuẩn mực về đạo đức và văn hóa nghề luật;
(c) Chương trình đào tạo: Chuyển căn bản từ trọng tâm đào tạo kỹ năng sang đào tạo năng lực thực hành nghề; tăng cường tính đa dạng/tính khoa học/tính mở/tính nghề/tính thực tiễn/tính hội nhập công nghệ số và hợp tác quốc tế;
 (d) Phương pháp đào tạo: Trải nghiệm - Coi trọng văn hóa tự học - Học tập tích cực - Giảng dạy hiện đại;
 (đ) Nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo:Ssản phẩm nghiên cứu đa dạng/đa cấp/nâng dần về khả năng ứng dụng thực tiễn;
(e) Nguồn lực đào tạo: Phát triển về số lượng, chất lượng giảng viên; nâng tầm về năng lực giảng dạy; đồng hành gắn bó giữa nhân lực cơ hữu và nhân lực đang hành nghề tại các tổ chức hành nghề; duy trì sự gắn kết chặt chẽ giữa nguồn nhân lực đào tạo của Học viện và nguồn nhân lực thỉnh giảng; phát triển mạnh, đa dạng nguồn học liệu; thực hiện quyết liệt chuyển đổi số nguồn học liệu phục vụ nhu cầu người học;
 (g) Hệ thống quản trị đào tạo:Đẩy nhanh tiến trình số hóa hoạt động quản trị phục vụ đào tạo; nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ đào tạo; đa dạng hóa hình thức tổ chức giảng dạy theo phương thức áp dụng mô hình lớp học đảo ngược, giảng dạy trực tiếp, trực tuyến, trực tiếp kết hợp với trực tuyến một cách linh hoạt, ứng phó kịp thời với các sự cố thiên tai, dịch bệnh và nhu cầu đặc biệt của người học.
 Tựu chung lại, sau hai thập kỷ thực thi Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam được xác định là mô hình đào tạo tập trung, thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Việc vận hành mô hình này có sự phối hợp/hợp tác chặt chẽ, hiệu quả tích cực của nhiều cơ sở đào tạo luật/nhiều địa phương trên cả nước; nhiều luật sư ở các Tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam và Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; nhiều Đoàn Luật sư ở tỉnh, thành phố và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên mới, chiến lược phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư ở Việt Nam cần được đặt trong tổng thể chung của chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền quản trị quốc gia hiện đại với tầm nhìn của kỷ nguyên số.  
Để có thể định hình chiến lược về sự phát triển của mô hình này trong kỷ nguyên mới, theo nhóm tác giả, cần tập trung xem xét  một số vấn đề trong mô hình đào tạo nghề luật sư hiện nay:
Thứ nhất, hoạt động đào tạo nghề luật sư hiện đang có sự tách biệt giữa đào tạo nghề và thực tập nghề luật sư.
Pháp luật hiện hành tách biệt hoàn toàn giai đoạn đào tạo kỹ năng nghề tại cơ sở đào tạo và giai đoạn đào tạo tập sự hành nghề tại cơ quan, đơn vị sử dụng, quản lý người tập sự luật sư. Các bước để một công dân Việt Nam trở thành luật sư bao gồm: (1) Có bằng cử nhân luật; (2) Tham gia khóa đào tạo nghề luật sư và được cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư (thời gian đào tạo nghề luật sư là 12 tháng trừ trường hợp được miễn đào tạo); (3) Tập sự hành nghề luật sư và được cấp Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư (thời gian tập sự luật sư là 12 tháng trừ trường hợp được miễn, giảm tập sự); (4) Kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư và được cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư; (5) Được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; (6) Gia nhập một đoàn luật sư.
Thực tế triển khai thi hành Luật Luật sư hiện hành, học viên sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp thì xác định là đã hoàn thành tiêu chí đã được đào tạo nghề và gần như độc lập với tiêu chí về tập sự hành nghề tại tổ chức hành nghề luật sư[3]. Một quá trình giáo dục, rèn luyện lẽ ra phải liên tục thì hiện lại trở thành hai mảnh ghép tách rời nhau[4]. Chức năng đào tạo của Học viện Tư pháp sau khi cấp chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư cho người học dường như không còn cơ hội để hỗ trợ, kiểm soát, đánh giá chất lượng học tập thực tiễn của người học. Một thực tế diễn ra nhiều năm qua ở Việt Nam, đó là kết quả của mỗi kỳ thi hết tập sự do Liên đoàn Luật sư Việt Nam chịu trách nhiệm, thường xuyên được “gắn trách nhiệm” vào hiệu quả, chất lượng đào tạo của Học viện Tư pháp, mà không nhìn nhận khách quan từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân căn cốt từ giai đoạn tập sự hành nghề. Vậy nên, sự tách rời hai giai đoạn đào tạo nghề luật sư như hiện tại dường như đi ngược lại với bản chất của quá trình đào tạo nghề luật sư. Thống nhất hai giai đoạn đào tạo lý thuyết và thực tiễn trong một mô hình đào tạo có sự phân công về chức năng, sự thống nhất và cộng đồng trách nhiệm trong hợp tác/phối hợp/trách nhiệm giải trình/minh bạch về cơ chế hoạt động dưới sự quản lý nhà nước, theo cơ chế hợp tác công - tư rất cần được nghiên cứu/tham mưu một cách khoa học, có trách nhiệm của cơ quan chức năng và các bên có liên quan để vấn đề này sớm được khắc phục căn bản trong Luật năm 2026 tới đây.
Thứ hai, hiện thực hóa và thể chế hóa tư duy quản trị công quốc gia hiện đại nhằm vận hành hiệu quả mô hình đào tạo nghề nghiệp luật sư trong kỷ nguyên mới. Tư duy quản trị công quốc gia hiện đại đang đối diện với vấn đề nên hay không nên “tư nhân hóa mô hình đào tạo nghề luật sư”, nhằm thay thế hoặc tạo “cơ chế cạnh tranh đào tạo” giữa mô hình tư nhân và mô hình do Nhà nước quản lý. Tư duy tư nhân hóa mô hình đào tạo nghề luật sư tiếp cận theo nguyên lý “nghề dạy nghề”; thương mại hóa chức năng đào tạo bằng sự điều tiết của cơ chế thị trường và trao quyền tự quản cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Nguyên lý “nghề dạy nghề” truyền thống từng xuất hiện từ rất sớm (thế kỷ XVIII) ở một số quốc gia (Vương quốc Anh). Trong kỷ nguyên số và nền quản trị công quốc gia hiện đại Việt Nam, nguyên lý “nghề dạy nghề” truyền thống như phương thức mà chủ nghĩa kinh viện đã từng tồn tại ở một số nước châu Âu những thế kỷ trước, đặt trong điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của chiến lược phát triển nền kinh tế số - văn hóa số - xã hội số của Việt Nam hiện nay là điều không khả thi, đặc biệt trong điều kiện hệ sinh thái các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam quy với mô nhỏ, khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội về đào tạo nghề luật sư hiện đại, chuyên nghiệp lại càng trở nên thách thức, kể cả có sự tham gia của một số hãng luật nước ngoài tại Việt Nam. Bên cạnh đó, việc thương mại hóa chức năng đào tạo nghề luật sư tất yếu tác động không nhỏ đến thực tiễn thực hiện chức năng xã hội, giá trị nhân văn và việc thực thi sứ mệnh góp phần bảo vệ công lý của hoạt động nghề nghiệp luật sư. Trong bối cảnh chung của khu vực và thế giới, chưa có thời kỳ nào như hiện nay, khi tốc độ, quy mô, trình độ phát triển của khoa học - công nghệ đang diễn ra không ngừng, tạo ra vô cùng nhiều những biến số chưa từng có tiền lệ trong đời sống xã hội và từng ngành, nghề, từng cá nhân con người, trong đó có nghề luật sư. Vấn đề có “Tư nhân hóa mô hình đào tạo nghề luật sư” hay không trong bối cảnh chung và riêng tại Việt Nam phải được nhận thức là vấn đề hệ trọng của đất nước/nghề nghiệp/đội ngũ luật sư hành nghề. Nói cách khác, chuyển mô hình đào tạo nghề luật sư do Nhà nước quản lý sang mô hình tư nhân hóa cần dựa trên quyết định chính trị - pháp lý khoa học đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Thứ ba, về thay đổi cơ chế đánh giá đối với kết thúc quá trình đào tạo nghề luật sư bằng kỳ thi quốc gia, áp dụng trong mô hình đào tạo nghề luật sư của kỷ nguyên mới. Việc xây dựng, duy trì và hoàn thiện kỳ thi quốc gia trong Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) là đột phá căn bản về lý luận, thể chế và quản trị công quốc gia hiện đại đối với nghề luật sư. Mô hình kỳ thi phi tập trung trên nền tảng số hóa thể hiện tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quyết tâm chính trị trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành nghề luật sư theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Nhà nước[5]. Áp dụng kỳ thi quốc gia về luật sư là tư duy đặt kỳ thi ở vị thế “rào chắn” về chuyên môn và năng lực cần vượt qua để ứng viên bảo đảm đủ điều kiện tham gia không gian hành nghề truyền thống và phi truyền thống với tư cách pháp lý của một luật sư. Việc ứng viên thi đỗ kỳ thi này có ý nghĩa xác nhận sự đáng tin cậy về chuyên môn, năng lực pháp lý và sự liêm chính để pháp luật trao cho ứng viên tư cách hành nghề luật sư.
Tóm lại, phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư của kỷ nguyên mới trên cơ sở các yếu tố thời đại/đặc trưng nghề nghiệp và kế thừa thành tựu các giai đoạn phát triển trước để đưa mô hình đào tạo nghề luật sư mang tầm nhìn hội nhập kỷ nguyên số là hướng tiếp cận chiến lược đối với Luật năm 2026. Từ phương diện chính trị - pháp lý - hội nhập - phát triển bền vững nghề luật sư, đề xuất về mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới là “Mô hình đào tạo tập trung, dưới sự quản lý của Nhà nước, đẩy mạnh hợp tác công - tư có kiểm soát”.Mô hình này kế thừa thành tựu giáo dục - đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam của hai thập kỷ trước, kết hợp với đổi mới căn bản, toàn diện việc thực hiện giai đoạn đào tạo thực hành nghề nghiệp, tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa cơ chế “Kiểm soát quá trình” và cơ chế “Kiểm soát năng lực thực tiễn đầu ra” của sản phẩm đào tạo, bảo đảm chất lượng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo theo đúng mục tiêu đào tạo năng lực làm nghề cho người học.
3. Vai trò của Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư của kỷ nguyên mới
Trong mô hình đào tạo nghề luật sư, vai trò của các chủ thể cần được phân định lại một cách khoa học, rõ ràng và chấm dứt tình trạng xóa nhòa ranh giới, phạm vi trách nhiệm về chất lượng nguồn nhân lực nghề nghiệp luật sư tại Việt Nam.
(i) Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp) thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển nghề luật sư, trong đó tập trung vào việc xây dựng và hoạch định chính sách; cho ý kiến về một số hoạt động lớn, mang tính định kỳ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, như Đề án tổ chức Đại hội, phương án nhân sự và chỉ đạo Đại hội của Đoàn Luật sư; thực hiện kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, bồi dưỡng bắt buộc hằng năm cho luật sư; giải quyết khiếu nại tố cáo; tổ chức cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư; hoàn thiện thể chế đào tạo nghề luật sư, kiểm tra, thanh tra và tranh thủ mọi nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư.
(ii) Học viện Tư pháp duy trì, phát huy kinh nghiệm, vị thế, năng lực của trung tâm lớn đào tạo nghề luật sư, với xác định và thực thi chiến lược: (i) Làm chủ công nghệ đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng và bảo đảm chất lượng đào tạo, khảo thí hiện đại; (ii) Chia sẻ nguồn lực/kinh nghiệm/công nghệ/trách nhiệm với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong thực thi chức năng đào tạo thực tiễn và tham gia thực hiện kỳ thi quốc gia về luật sư; (iii) Thực hiện tốt vai trò đơn vị cung cấp sản phẩm nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng, đổi mới sáng tạo để cung cấp ý kiến tư vấn chính sách cho công tác quản lý nhà nước về pháp luật của Bộ Tư pháp.
(iii) Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (các Đoàn Luật sư; Liên đoàn Luật sư Việt Nam) thực hiện tốt vai trò phối hợp, hợp tác trong vận hành mô hình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp; thực hiện chức năng trong giai đoạn đào tạo thực tiễn cho người tập sự hành nghề cùng với sự phối hợp và cộng đồng trách nhiệm của cơ sở đào tạo nghề luật sư; đảm nhiệm vai trò cố vấn; tham gia, phối hợp và cùng gánh vác trách nhiệm trong vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư; hợp tác, trao đổi, tạo sản phẩm nghiên cứu, sáng tạo và có giá trị thương mại hóa theo pháp luật trong quan hệ hợp tác với cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và Học viện Tư pháp.
4. Một số kiến nghị hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên số, gắn với Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
Thứ nhất, thể chế hóa việc tái định nghĩa giai đoạn tập sự trở thành giai đoạn “Đào tạo thực tiễn bắt buộc”, với việc loại bỏ “ranh giới thể chế” giữa học tập lý thuyết - kỹ năng - đạo đức nghề nghiệp và thực hành thực tiễn để quá trình đào tạo nghề luật sư diễn ra liên tục, thống nhất, tạo cơ hội học tập, trải nghiệm, trao đổi nguồn nhân lực giữa cơ sở đào tạo và tổ chức hành nghề, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (trong vai trò cơ sở thực hành). Để phù hợp với việc Dự thảo Luật  xác lập tư cách pháp lý “luật sư tập sự”, quá trình tập sự của người học phải có giá trị là sự tiếp nối của quá trình học tâp, với việc xác định nghĩa vụ học tập/tài chính và chịu sự giám sát chuyên môn kép từ cả cơ sở đào tạo và cơ sở thực hành. Do vậy, giai đoạn học tập thực tiễn 12 tháng tại tổ chức hành nghề hoặc các cơ sở thực hành khác phải được thiết kế lại theo hướng, người tập sự được trải nghiệm thực chất quá trình tham gia thực nghiệm về quyền lực tư pháp của Nhà nước dưới sự quản lý chặt chẽ của cả cơ sở đào tạo và tổ chức hành nghề. Tập sự hành nghề luật sư là giai đoạn đào tạo thực hành kiến thức, kỹ năng, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp bắt buộc, thể hiện chuỗi tích lũy năng lực thực tiễn có kiểm soát đối với người học, được vận hành theo cơ chế giám sát kép có sự liên thông giữa cơ sở đào tạo nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, nhằm bảo đảm sự tin cậy về chuyên môn, kỹ năng, đạo đức hành nghề của những cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề và có thể hành nghề luật sư theo quy định pháp luật về luật sư.
Về thể chế, cần có quy định mang tính nguyên tắc trong Dự thảo Luật  để xác lập tính pháp lý cho cơ chế hợp tác công - tư về đào tạo nghề luật sư, nhằm phát huy chức năng, vai trò và sức mạnh tiềm năng của cơ quan quản lý nhà nước - cơ sở đào tạo - tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong mọi hoạt động đào tạo/đánh giá kết quả đào tạo/trao đổi học thuật/nguồn nhân lực tham gia đào tạo tại cơ sở đào tạo và tổ chức hành nghề, tổ chức xã hội - nghề nghiệp[6], cộng đồng trách nhiệm trong vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư.
Trên cơ sở định hướng nêu trên, nhóm tác giả đề xuất về vấn đề thứ nhất như sau:
(a) Nghiên cứu bổ sung trong Dự thảo Luật[7] quy định về mô hình đào tạo nghề luật sư theo hướng chiến lược nêu trên, bao gồm cả quy định về giai đoạn tập sự hành nghề là giai đoạn học tập mang tính ứng dụng, giúp người học sử dụng kiến thức, kỹ năng, đạo đức - ứng xử nghề nghiệp đã được trang bị để vận dụng vào thực tiễn thực hành nghề nghiệp tại tổ chức hành nghề hoặc các cơ sở thực hành khác. Theo hướng này, kiến nghị có thể bổ sung vào Dự thảo Luật tại Điều 2 - Giải thích thuật ngữ: Khoản 9 - Đào tạo nghề luật sư: “Đào tạo nghề luật sư là hoạt động đào tạo chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp do Học viện Tư pháp đảm nhiệm và đào tạo thực hành năng lực thực tế tại tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, với sự quản lý của Nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư”. Trên cơ sở quy định này, trong Nghị định hướng dẫn thi hành Luật năm 2026, vấn đề nghĩa vụ, trách nhiệm, phương thức phối hợp, hợp tác ba bên về từng hoạt động đào tạo cụ thể sẽ được làm rõ trong từng quy định. Việc tách rời giai đoạn đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo và tại tổ chức hành nghề luật sư như quy định hiện hành là một trong số bất cập về thể chế cần sớm được khắc phục. Đào tạo nghề luật sư nếu hiểu theo nghĩa đầy đủ bao gồm hai giai đoạn nêu trên, nếu hai bên (Học viện Tư pháp với bề dày kinh nghiệm đào tạo tại cơ sở đào tạo và các tổ chức hành nghề luật sư với tư cách là thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam với bề dày kinh nghiệp thực tế để hướng dẫn, quản lý tập sự hành nghề luật sư) cùng hợp tác để làm tốt cả hai giai đoạn đào tạo này thì chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, đáp ứng yêu cầu đặt ra từ chủ trương của Đảng, Chiến lược phát triển nghề luật sư của Chính phủ. Việc gắn kết giữa cơ sở đào tạo nghề luật sư với Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các tổ chức hành nghề luật sư trong triển khai thực hiện chương trình đào tạo trong đào tạo nghề luật sư sẽ mang đến cho người học cơ hội cọ sát, trải nghiệm, lĩnh hội kiến thức của nghề một cách thực tế, kinh nghiệm cuộc sống, kinh nghiệm công việc, đồng thời trang bị cho học viên khả năng thích ứng khi hòa mình vào dòng chảy của thị trường lao động một cách chủ động và tự tin, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của việc đào tạo, bồi dưỡng nghề luật sư.
(b)Nghiên cứu bổ sung vào Dự thảo Luật quy định về tập sự hành nghề luật sư. Cụ thể, tại Điều 9 - Tập sự hành nghề luật sư, có thể chỉnh sửa, bổ sung khoản 1 như sau: “1. Tập sự hành nghề luật sư là giai đoạn đào tạo thực hành bắt buộc. Luật sư tập sự chịu sự hướng dẫn, giám sát chuyên môn phối hợp giữa tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự và cơ sở đào tạo nghề luật sư. Theo đó, người đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 7 của Luật này thì được gia nhập Đoàn Luật sư để tập sự hành nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 10 của Luật này. Thời gian tập sự hành nghề luật sư là 12 tháng, trừ trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự theo quy định tại khoản 4 của Điều này hoặc trường hợp chưa hoàn thành việc tập sự thì phải tiếp tục tập sự. Thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày có quyết định gia nhập Đoàn Luật sư để trở thành luật sư tập sự”.
Nghiên cứu bổ sung trong Dự thảo Luật quy định nhằm hiện thực hóa cơ chế đồng kiểm soát kết quả, chất lượng học tập thực chất của người học trong giai đoạn tập sự hành nghề tại cơ sở thực hành, bảo đảm xóa bỏ tình trạng tập sự hình thức, nhất là xử lý được sự bất đối xứng giữa năng lực tiếp nhận người đến tập sự tại các tổ chức hành nghề quy mô nhỏ so với số lượng người tập sự sau các khóa đào tạo thì giải pháp về xây dựng trung tâm thực hành nghề luật sư ở các Đoàn Luật sư cần được nghiên cứu. Hiện tại, Học viện Tư pháp trong cơ cấu tổ chức đang tồn tại Trung tâm tư vấn pháp luật - đơn vị có chức năng tổ chức thực hành nghề luật. Giải pháp xây dựng các Trung tâm tư vấn pháp luật tại các Đoàn Luật sư được triển khai song song với áp dụng giải pháp số hóa công tác hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá theo định kỳ hoạt động tập sự của luật sư tập sự sẽ rất hữu ích khi có sự cộng đồng trách nhiệm của cả Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư.
Thứ hai, đối với kỳ thi quốc gia về luật sư:
Hiện tại, trong Dự thảo Luật mới dùng lại ở những quy định chủ yếu xác định quyền dự thi và những trường hợp không được dự kỳ thi này. Với tính chất quan trọng của kỳ thi quốc gia, việc thể chế hóa kỳ thi cũng cần được định hướng tiếp cận mang tính nguyên tắc trong luật. Đề xuất của nhóm tác giả đối với vấn đề này là Dự thảo Luật cần bổ sung quy định về nguyên tắc kết cấu kỳ thi quốc gia, thể hiện rõ đặc trưng cốt lõi mang tầm chiến lược của mô hình đào tạo luật sư trong điều kiện hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuyển đổi số.
 Nghiên cứu bổ sung vào Dự thảo Luật nguyên tắc xây dựng và vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư. Cụ thể, bổ sung khoản 1 Điều 10 - Nguyên tắc của kỳ thi quốc gia về luật sư: “Kỳ thi quốc gia về luật sư tuân thủ nghiêm quy định pháp luật về luật sư, với hai vòng thi độc lập. Kỳ thi được ứng dụng nền tảng số hóa và cơ sở dữ liệu luật sư theo mô hình khảo thí phi tập trung, có kiểm soát trung tâm trong công tác tổ chức, giám sát thi để bảo đảm tính khách quan của kỳ thi”.   
Nghiên cứu sửa lại Điều 36 - Điều khoản chuyển tiếp trong Dự thảo Luật . Cụ thể, nên quy định lại khoản 2 của Điều này[8] theo hướng, những người đã đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư trước ngày Luật này có hiệu lực nhưng chưa được cấp Chứng chỉ hành nghề thì có thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực để hoàn tất thủ tục đề nghị cấp Chứng chỉ; quá thời hạn này, kết quả kiểm tra cũ không còn giá trị.
5. Kết luận
Muốn có một thế hệ luật sư tinh hoa, ngang tầm với đội ngũ hành nghề luật sư tại các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới sẽ không thể dựa trên những tư duy lợi ích cục bộ, phân quyền truyền thống. Mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới đòi hỏi tính cách mạng về nhận thức luận trong tư duy, triết lý đào tạo và hệ thống quản trị quyền lực tư pháp quốc gia hiện đại, Phát triển và chăm lo cho sự lớn mạnh của nghề luật sư, đội ngũ hành nghề luật sư là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Những nhận thức và hướng tiếp cận về mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới của bài viết đứng trên phương diện của lợi ích quốc gia - dân tộc và một niềm tin công lý mãnh liệt dành cho những “hiệp sĩ” dám dấn thân góp phần bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, mang lại giá trị nhân văn cho cuộc sống của người dân. Hành trình trở thành luật sư là hành trình nhiều gian khó nhưng vinh quang và rất cần được giáo dục, đào tạo để phát triển và hoàn thiện về tri thức, kỹ năng, phẩm chất, bản lĩnh làm nghề ưu tú trong khuôn khổ mô hình đào tạo xứng tầm vị thế một nghề nghiệp luôn được trân trọng trong xã hội./.
[1] Bộ Tư pháp, Tờ trình Dự án Luật Luật sư (sửa đổi), 2026.
[2] Đặc trưng của mô hình đào tạo tập trung là sau khi tốt nghiệp cử nhân luật ở trường đại học, ứng viên phải trải qua một khóa học kỹ năng nghề nghiệp bắt buộc tại một cơ sở đào tạo tư pháp quốc gia, sau đó mới đến giai đoạn tập sự tại các tổ chức hành nghề. Ví dụ: Ở Việt Nam, quy trình này trải qua 3 giai đoạn rõ rệt: Cử nhân Luật (Đại học)  Đào tạo kỹ năng hành nghề (Học viện Tư pháp)  Tập sự tại tổ chức hành nghề và thi hết tập sự hành nghề luật sư (Liên đoàn Luật sư Việt Nam). Tại Việt Nam, theo Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo đảm nhiệm chức năng đào tạo nghề luật sư ở giai đoạn đào tạo kiến thức chuyên môn - kỹ năng, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. 
[3] Theo Luật Luật sư hiện hành, chương trình dào tạo nghề tại Học viện Tư pháp đang hoàn toàn tách biệt về mọi phương diện với thời gian tập sự hành nghề, gây sự đứt gãy căn bản giữa đào tạo chuyên môn, nghiẹp vụ và thực hành nghề nghiệp, đi ngược lại với tính chất cơ bản của đào tạo nghề, dẫn đến hiện trạng chất lượng, hiệu quả của giai đoạn đào tạo tiếp nối giai đoạn đào tạo lý thuyết phụ thuộc vào năng lực, ý thức, thái độ học tập của người học.
[4] Nguyễn Minh Hằng, Quy định về đào tạo nghề luật sư theo Luật Luật sư và đề xuất sửa đổi, Tạp chí Nghề luật, số 7/2023.
[5] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư.
[6] Các giảng viên/chuyên gia nghiên cứu học thuật và kỹ năng nghề nghiệp có thể trở thành thành viên của Đoàn Luật sư với tư cách thành viên khác của Đoàn Luật sư. Ngược trở lại, luật sư của Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có thể tham gia Hội đồng nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo của cơ sở đào tạo…
[7] Việc bổ sung quy định về đào tạo nghề luật sư có thể theo phương án quy định trong Nghị định hướng dẫn thi hành Luật năm 2026.
[8] Trong Dự thảo Luật đang cho phép người thi đạt kết quả tập sự cũ được dùng kết quả đó xin cấp chứng chỉ đến năm 2030.

Thống kê truy cập

43647984

Tổng truy cập