Về thẩm quyền quy định trách nhiệm hành chính trong Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)

30/09/2026

PGS.TS. CAO VŨ MINH

Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Tại Việt Nam, Luật Xử lý vi phạm hành chính là văn bản quy phạm pháp luật chủ đạo điều chỉnh vấn đề xử phạt vi phạm hành chính. Trong bối cảnh Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đang được xây dựng và chuẩn bị trình Quốc hội thông qua, bài viết phân tích và đưa ra một số góp ý về thẩm quyền quy định trách nhiệm hành chính trong Dự thảo Luật này.

Từ khóa: Thẩm quyền; cưỡng chế hành chính; trách nhiệm hành chính; xử phạt vi phạm hành chính.
Abstract: In Vietnam, the Law on Handling of Administrative Violations is the principal legal instrument governing the sanctioning of administrative violations. In the context of the Draft Law on Handling of Administrative Violations (Amended) currently being drafted and prepared for submission to the National Assembly for adoption, the article analyzes and offers several comments on the authority to prescribe administrative liability under this Draft Law.
Keywords: Authority; administrative coercion; administrative liability; sanctioning of administrative violations.
Văn-bản.jpg
Đặt vấn đề
Ngày 14/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 151/NQ-CP về việc thông qua chính sách của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Trên cơ sở Nghị quyết số 151/NQ-CP, Bộ Công an đã chủ trì xây dựng Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Đến nay, hồ sơ Dự án Luật đã được hoàn thiện để lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trên cơ sở nghiên cứu Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (Dự thảo 5), bài viết góp ý hoàn thiện một số vấn đề về thẩm quyền quy định trách nhiệm hành chính.
1. Thẩm quyền quy định chi tiết các nội dung liên quan đến vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính
Theo khoản 1 Điều 4 Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) thì “căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định chi tiết các nội dung sau đây: hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước”. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật lại chỉ khái quát “căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng”.
Trước đây, Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) năm 2012 chỉ cho phép Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Như vậy, Chính phủ sẽ quy định hành vi vi phạm; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với VPHC trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt VPHC. Với lần sửa đổi năm 2020 thì ngoài Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cũng có quyền quy định về xử phạt VPHC. Cụ thể, UBTVQH sẽ ban hành pháp lệnh để quy định về xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Dự thảo Luật vẫn tiếp tục duy trì điều khoản cho phép cả UBTVQH lẫn Chính phủ có quyền quy định về xử phạt VPHC. Xuất phát từ thực tiễn một số lĩnh vực đặc thù không thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ (như hoạt động kiểm toán nhà nước) nên việc quy định về VPHC trong lĩnh vực này cũng không thể thuộc về Chính phủ. Vì lẽ đó mà Dự thảo Luật tiếp tục giao cho UBTVQH quy định xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng là rất hợp lý.
Tuy nhiên, đối chiếu giữa khoản 1 với khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật, có thể thấy sự không nhất quán. Câu hỏi đặt ra là liệu UBTVQH có được quyền quy định chi tiết các nội dung liên quan đến trách nhiệm hành chính tương tự như Chính phủ hay không? Về mặt lý luận, khi trao cho UBTVQH quy định về xử phạt VPHC trong hai lĩnh vực đặc thù thì cũng có thể hiểu UBTVQH sẽ quy định cả về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh bởi đây là những nội dung không thể tách rời nhau. Khoản 3 Điều 39 Dự thảo Luật cũng ít nhiều thừa nhận: “UBTVQH quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC; thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng”.
Về mặt thực tiễn, hiện nay, UBTVQH đã ban hành 02 pháp lệnh quy định xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Đó là Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15) xử phạt VPHC đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng và Pháp lệnh số 04/2023/UBTVQH15 xử phạt VPHC trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước. Trong 02 pháp lệnh này, UBTVQH đều đã quy định rõ ràng về hành vi VPHC; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với VPHC… Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật như sau: “Căn cứ Luật XLVPHC, UBTVQH quy định chi tiết các nội dung sau đây: hành vi VPHC; hành vi VPHC đã kết thúc và hành vi VPHC đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với VPHC; việc thi hành các hình thức xử phạt VPHC, các biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng”. Sửa đổi này không chỉ bảo đảm tính chính danh trong thẩm quyền của UBTVQH mà còn đáp ứng được tính đồng bộ với thẩm quyền của Chính phủ trong việc quy định về trách nhiệm hành chính.
2. Thẩm quyền quy định về tính tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính
Điều 9, Điều 10 Dự thảo Luật quy định về các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. Khác với tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính không phải là danh sách đóng mà có thể được mở rộng, bổ sung. Với điều khoản “những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định” (điểm o khoản 1 Điều 9),Dự thảo Luật cho phép Chính phủ quy định thêm các tình tiết giảm nhẹ khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ trong việc chủ động xây dựng và lựa chọn tình tiết giảm nhẹ phù hợp với sự đa dạng của VPHC. Tuy nhiên, điều khoản trên đã thiếu đi tính toàn diện bởi Quốc hội đã “bỏ quên” việc trao cho UBTVQH được quyền “khai sinh” thêm các tình tiết giảm nhẹ khác với các tình tiết giảm nhẹ do Quốc hội và Chính phủ quy định.
Với thẩm quyền quy định trách nhiệm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, UBTVQH cũng cần được trao quyền quy định thêm các tình tiết giảm nhẹ, bởi xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng có những đặc thù riêng mà các tình tiết giảm nhẹ được Quốc hội quy định không bao quát hết. Trong khi đó, các tình tiết giảm nhẹ mới do Chính phủ quy định thì cũng chỉ áp dụng trong các lĩnh vực cụ thể mà nghị định về xử phạt VPHC của Chính phủ điều chỉnh chứ không có giá trị bắt buộc đối với những hoạt động, hành vi thuộc thẩm quyền quy định của UBTVQH. Do đó, tác giả kiến nghị, có thể nghiên cứu sửa đổi điểm o khoản 1 Điều 9 Dự thảo Luật từ “những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ quy định” thành “những tình tiết giảm nhẹ khác do UBTVQH, Chính phủ quy định”. Từ sửa đổi này, các pháp lệnh quy định về xử phạt VPHC do UBTVQH ban hành có thể quy định thêm các tình tiết giảm nhẹ (nếu cần) chứ không bị hạn chế trong các tình tiết giảm nhẹ do Quốc hội quy định.
Theo điểm o khoản 1 Điều 10 Dự thảo Luật thì “VPHC có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn theo quy định của Chính phủ trên từng lĩnh vực” được xem là một tình tiết tăng nặng. Với quy định trên, có thể hiểu, UBTVQH sẽ không thể quy định tình tiết tăng nặng “VPHC có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn”. Theo tác giả, quy định trên là chưa hợp lý vì các VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước hoàn toàn có thể xảy ra với tính chất “quy mô lớn, số lượng lớn”. Đối chiếu với Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP) xử phạt VPHC về thuế, hóa đơn, chúng ta thấy Chính phủ quy định tình tiết tăng nặng “VPHC có quy mô lớn”. Theo đó, VPHC về hóa đơn với số lượng từ 10 số hóa đơn trở lên hay trốn thuế với số tiền thuế trốn từ 100.000.000 đồng trở lên được xem là VPHC có quy mô lớn[1]. Thiết nghĩ, đối với VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước, VPHC với “quy mô lớn, số lượng lớn” có thể xảy ra và việc quy định dấu hiệu này là tình tiết tăng nặng sẽ trở nên rất cần thiết. Điều này sẽ giúp UBTVQH chủ động trong quy định về tình tiết tăng nặng nhằm xử phạt tương thích với hành vi vi phạm. Do đó, điểm o khoản 1 Điều 10 Dự thảo Luật cũng cần được sửa đổi thành “VPHC có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn theo quy định của UBTVQH, Chính phủ theo từng lĩnh vực”.  
3. Thẩm quyền quy định về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Trước đây, điểm d khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC năm 2012 chỉ quy định “một người VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” mà không bao gồm ngoại lệ “trừ trường hợp hành vi VPHC nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng”. Khi không quy định về ngoại lệ thì việc xử phạt có thể gây bất lợi cho người vi phạm vì từng hành vi vi phạm đã bị xử phạt mà còn có thể bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Khắc phục khuyết điểm này, trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2020, Quốc hội đã bổ sung vào điểm d khoản 1 Điều 3 quy định mới là “trừ trường hợp hành vi VPHC nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng”. Sửa đổi quan trọng này đã góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thi hành bởi sự mâu thuẫn giữa quy định “một người VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” tại điểm d khoản 1 Điều 3 với việc xử phạt một hành vi vi phạm với tình tiết tăng nặng “VPHC nhiều lần” tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật XLVPHC năm 2012[2].
Như vậy, kể từ ngày 01/01/2022 - ngàyLuật XLVPHC năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) có hiệu lực thì hành vi vi phạm nhiều lần sẽ bị xử phạt về từng hành vi. Ngoại lệ trường hợp Chính phủ quy định trong nghị định xử phạt VPHC về tình tiết tăng nặng “vi phạm nhiều lần” thì người có thẩm quyền mới xử phạt một hành vi với tình tiết tăng nặng này[3]. Hiện nay, điểm d khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật vẫn ghi nhận nguyên tắc “một người thực hiện nhiều hành vi VPHC hoặc VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi VPHC nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng”. Tuy nhiên, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật không tạo ra sự thống nhất với thẩm quyền của UBTVQH. Đồng ý là Chính phủ có quyền quy định về xử phạt VPHC trong đa số các lĩnh vực nhưng đây không phải là chủ thể duy nhất. Ngoài Chính phủ, UBTVQH cũng có quyền quy định về xử phạt VPHC. Do đó, không riêng gì Chính phủ mà cả UBTVQH cũng có nhu cầu đặt ra ngoại lệ là trường hợp hành vi vi phạm nhiều lần được xem là tình tiết tăng nặng. Thực tế, trong hoạt động kiểm toán nhà nước, một chủ thể có thể vi phạm nhiều lần. Nếu xử phạt từng hành vi sẽ gây bất lợi cho người vi phạm. Do đó, việc xử phạt một hành vi với tình tiết tăng nặng “vi phạm nhiều lần” vẫn có thể được cân nhắc áp dụng nhằm bảo đảm tính giáo dục mà không làm lu mờ tính răn đe của việc xử phạt. Do đó, tác giả kiến nghị, Dự thảo Luật cần thiết lập nguyên tắc ngoại lệ cho phép cả UBTVQH và Chính phủ quy định hành vi VPHC nhiều lần là tình tiết tăng nặng. Như vậy, điểm d khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật có thể được điều chỉnh như sau: “Một người VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi VPHC nhiều lần được UBTVQH, Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng”.
4. Thẩm quyền quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả khác với các biện pháp do Quốc hội quy định
Hình thức xử phạt VPHC là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC. Kết quả là chủ thể VPHC phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần. Theo Dự thảo Luật, các hình thức xử phạt gồm: i. Cảnh cáo; ii. Phạt tiền; iii. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; iv. Đình chỉ hoạt động có thời hạn; v. Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; vi. Trục xuất.
Theo Điều 27 Dự thảo Luật thì “tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC, được áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ trên từng lĩnh vực”. Với quy định trên, có thể hiểu, tịch thu tang vật, phương tiện VPHC sẽđược áp dụng khi hội đủ ba điều kiện: i. Tang vật, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC; ii. VPHC được xác định là nghiêm trọng; iii. VPHC được thực hiện với lỗi cố ý.
VPHC đương nhiên tồn tại yếu tố lỗi, thế nhưng lỗi cố ý và lỗi vô ý lại có ý nghĩa khác nhau trong việc có quyết định áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC hay không? Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động nên hầu như người có thẩm quyền xử phạt không quan tâm đến hình thức lỗi là gì. Qua thực tiễn thi hành, có thể khẳng định rằng việc áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện VPHC được căn cứ hoàn toàn vào văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực. Cụ thể, trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhà làm luật sẽ quy định hành vi vi phạm cụ thể nào bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC. Căn cứ vào đó, người có thẩm quyền sẽ áp dụng hình thức xử phạt này đối với các vi phạm cụ thể. Điều 27 Dự thảo Luật cũng thể hiện nguyên tắc này khi nhấn mạnh “tịch thu tang vật, phương tiện VPHC sẽ được áp dụng theo quy định của Chính phủ trên từng lĩnh vực”. Tuy nhiên, Điều 27 Dự thảo Luật lại bỏ sót thẩm quyền của UBTVQH trong việc quy định áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC đối với VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
Tính đến tháng 01/2026, ở nước ta có khoảng 90 nghị định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước[4]. Ngoài 90 nghị định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực thì còn có 02 pháp lệnh xử phạt VPHC (Pháp lệnh Xử phạt VPHC đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng, Pháp lệnh Xử phạt VPHC trong lĩnh vực kiểm toán nhà nước). Thực tế trong pháp lệnh của UBTVQH vẫn có quy định về hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC. Đơn cử, theo khoản 2, 6 Điều 13 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15) xử phạt VPHC đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng thì hành vi “làm giả chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, vụ việc của người tham gia tố tụng” sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, đồng thời sẽ bị “tịch thu tang vật, phương tiện VPHC”. Theo thống kê của tác giả, Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15) quy định 40 nhóm hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện VPHC. Như vậy, Điều 27 Dự thảo Luật cần được điều chỉnh như sau: “Tịch thu tang vật, phương tiện VPHC là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có liên quan trực tiếp đến VPHC, được áp dụng đối với VPHC nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức theo quy định của UBTVQH, Chính phủ trên từng lĩnh vực”.
Theo khoản 2 Điều 2 Dự thảo Luật thì: “Xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC”. Như vậy, bên cạnh các hình thức xử phạt để răn đe cá nhân, tổ chức VPHC, pháp luật còn quy định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm khôi phục lại trật tự pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật, có thể chiabiện pháp khắc phục hậu quả thành hai nhóm: i. Các biện pháp khắc phục hậu quả do Quốc hội quy định (bao gồm 09 biện pháp quy định từ điểm a đến điểm i); ii. Các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định (nhóm biện pháp quy định tại điểm k). Với điều khoản “các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định”, Quốc hội đã ủy quyền lập pháp để Chính phủ quy định chi tiết các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực chuyên ngành. Sự mở rộng, bổ sung này phụ thuộc vào quyền quyết định của Chính phủ trong việc chủ động tìm kiếm biện pháp khắc phục những hậu quả xấu do VPHC gây ra một cách có hiệu quả nhất[5]. Thế nhưng, việc không trao cho UBTVQH thẩm quyền quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác lại trở nên bất cập, tạo ra sự mâu thuẫn trong các quy định về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Nghiên cứu Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15) xử phạt VPHC đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng thì có rất nhiều các biện pháp khắc phục hậu quả không phải do Quốc hội quy định. Đơn cử, “buộc xin lỗi công khai”, “buộc gỡ bỏ thông tin, tài liệu, dữ liệu có chứa bí mật điều tra”, “buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật”, “buộc thu hồi, nộp lại tư liệu, tài liệu, hình ảnh”[6]. Đây là những biện pháp khắc phục hậu quả khác do UBTVQH quy định. Do đó, để bảo đảm quyền chủ động, sáng tạo của UBTVQH trong việc quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác với các biện pháp do Quốc hội quy định, đồng thời duy trì tính hợp pháp của những biện pháp khắc phục hậu quả đang hiện hữu trong các pháp lệnh xử phạt VPHC, tác giả kiến nghị điều chỉnh điểm k khoản 1 Điều 29 Dự thảo Luật từ “Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định” thành “Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do UBTVQH, Chính phủ quy định”.
5. Thẩm quyền quy định về các chức danh mới có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Thẩm quyền xử phạt là một chế định pháp lý bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của những chức danh có thẩm quyền xử phạt trong việc áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với chủ thể vi phạm. Trước đây, Luật XLVPHC năm 2012 quy định thẩm quyền xử phạt VPHC cho185 chức danh. Vào năm 2020, khi sửa đổi Luật XLVPHC, Quốc hội đã bãi bỏ thẩm quyền xử phạt của một số chức danh, đồng thời bổ sung thẩm quyền xử phạt cho nhiều chức danh mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn quản lý. Sau khi sửa đổi, bổ sung, đạo luật này quy định 207 chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC. Đến năm 2025, Quốc hội lại sửa đổi Luật XLVPHC để bãi bỏ thẩm quyền của một số chức danh tại đơn vị hành chính cấp huyện. Tuy nhiên, đạo luật này cũng bổ sung thẩm quyền xử phạt cho nhiều chức danh (như Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Tính đến nay, vẫn có hơn 200 chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC. Việc tăng thêm các chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC giúp giảm tải công việc cho lực lượng chuyên trách. Đồng thời, nâng cao tính kịp thời trong việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm, từ đó tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, việc liệt kê các chức danh có thẩm quyền xử phạt không phải là một “danh sách bất biến”. Trong bối cảnh tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự thay đổi, sáp nhập, hợp nhất, thậm chí thành lập mới các cơ quan nhà nước là điều không thể tránh khỏi. Dự liệu được vấn đề này, khoản 4 Điều 37a Luật XLVPHC quy định: “Trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại Luật này, thì thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của UBTVQH. Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”. Như vậy, việc quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới thuộc về Chính phủ. Bên cạnh đó, để tránh sự tùy tiện trong việc giao cho các chức danh mới thẩm quyền xử phạt thì Chính phủ phải “được sự đồng ý của UBTVQH”,đồng thời Chính phủ phải “báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”.
Kế thừa quy định này, khoản 4 Điều 39 Dự thảo Luật vẫn cho phép Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới và phải “được sự đồng ý của UBTVQH”. Khác với khoản 4 Điều 37a Luật XLVPHC, khoản 4 Điều 39 Dự thảo Luật đã không còn quy định “Chính phủ phải báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”. Có lẽ cơ quan chủ trì soạn thảo cho rằng khi Chính phủ xin phép và “được sự đồng ý của UBTVQH” thì đã là một chốt khóa an toàn nhằm kiểm soát sự tùy tiện. Do đó, việc “báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất” là không cần thiết vì có thể làm cho thủ tục thêm rườm rà, không phù hợp với thuộc tính nhanh chóng, kịp thời trong quản lý nhà nước.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và các Tòa chuyên trách (Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Hành chính, Tòa Kinh tế, Tòa Lao động, Tòa Gia đình và người chưa thành niên). Trong trường hợp cần thiết, UBTVQH quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tương tự, khoản 2 Điều 62 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng quy định UBTVQH quyết định thành lập, giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án chuyên biệt theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
 Như vậy, hoàn toàn có khả năng xảy ra trường hợp thành lập mới các Tòa chuyên trách hay Tòa án chuyên biệt và phát sinh các chức danh thuộc các cơ quan mới được thành lập cần được giao thẩm quyền xử phạt VPHC. Trong trường hợp này, nếu giao cho Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các Tòa chuyên trách hay Tòa án chuyên biệt được thành lập mới thì không hợp lý vì những chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước phải do UBTVQH quy định. Logic pháp lý cho phép chúng ta kết luận rằng khi UBTVQH ban hành pháp lệnh quy định xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng với các vi phạm cụ thể thì cũng phải quy định thẩm quyền xử phạt của các chức danh liên quan đến lĩnh vực này. Rõ ràng, thẩm quyền xử phạt đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng phải thuộc về các chức danh của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, còn thẩm quyền xử phạt VPHC trong hoạt động kiểm toán nhà nước phải thuộc về các chức danh của Kiểm toán nhà nước. Những chức danh có thẩm quyền xử phạt trong 02 lĩnh vực đặc thù này phải do UBTVQH quy định. Với góc nhìn đó, trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước mà chưa được quy định tại Luật XLVPHC, thì thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới này cần trao cho UBTVQH quy định. Để hạn chế tính tùy tiện nên chăng sau khi quy định cho các chức danh mới có thẩm quyền xử phạt, UBTVQH phải “báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”. Việc báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất là để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát và xem xét việc giao quyền cho các chức danh mới này có thật sự cần thiết hay không. Việc “báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất” vẫn tìm thấy trong một số nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH[7] nên nếu Dự thảo Luật quy định thêm vấn đề này thì cũng là hợp lý.
Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 4 Điều 39 Dự thảo Luật như sau: “Trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước mà chưa được quy định tại Luật này, thì thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước được thành lập mới do UBTVQH quy định. UBTVQH có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, thì thẩm quyền xử phạt VPHC của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của UBTVQH”.
Kết luận
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì cần tuân thủ logic tất yếu là pháp luật phải của dân, do dân và vì dân. Dự thảo Luật XLVPHC (sửa đổi) là một Dự thảo Luật quan trọng, tác động đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau. Do đó, việc tham khảo các ý kiến góp ý cho Dự thảo Luật này là cần thiết giúp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính khả thi, đồng thời tạo sự sự đồng thuận xã hội./.

[1] Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP).
[2] Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên), Bình luận khoa học Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Tái bản lần thứ 1), Nxb. Hồng Đức, năm 2017, tr. 100 - 101.
[3] Đơn cử, khoản 6 Điều 3 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đìnhcó quy định về tình tiết tăng nặng “VPHC nhiều lần”. Theo đó, cá nhân thực hiện VPHC nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp thực hiện từng hành vi “lưu hành các loại giấy phép, chứng nhận, chứng chỉ về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ quân dụng, công cụ hỗ trợ không còn giá trị sử dụng”, được phát hiện ở cùng một thời điểm nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử phạt VPHC. Trường hợp này thì xử phạt VPHC một lần về hành vi vi phạm, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng “VPHC nhiều lần”.
[4] Phụ lục III ban hành kèm theo Báo cáo số 66/BC-BTP ngày 17/02/2025 của Bộ Tư pháp.
[5] Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, năm 2010, tr. 58.
[6] Điểm c, đ, g, h khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 (được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15).
[7] Khoản 1 Điều 57 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2023, 2025) quy định: “Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, UBTVQH quyết định tình trạng chiến tranh theo đề nghị của Hội đồng quốc phòng và an ninh và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”.

Thống kê truy cập

43648018

Tổng truy cập