Tóm tắt: Trên cơ sở làm rõ yêu cầu và đòi hỏi mới khách quan của kiểm soát quyền lực, bài viết đề xuất các định hướng và giải pháp chủ yếu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các đột phá chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XIV đề ra.
Từ khóa: Chính quyền địa phương hai cấp; đột phá chiến lược; kiểm soát quyền lực.
Abstract: On the basis of clarifying the new objective requirements and demands of power control, this article proposes key orientations and solutions to improve the power control mechanism in implementing the strategic breakthroughs set forth by the 14th National Party Congress.
Keywords: Two-tier local government; strategic breakthroughs; power control.
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong xây dựng và thực thi quyền lực và là điều kiện bảo đảm cho sự vận hành hiệu quả của bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định ba đột phá chiến lược gồm hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Kiểm soát quyền lực nhà nước vừa là đòi hỏi khách quan vừa là phương tiện để thực hiện thắng lợi ba đột phá chiến lược đó.
1. Yêu cầu và đòi hỏi mới khách quan của kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại
Trước hết, việc thực hiện ba đột phá chiến lược được tiến hành bởi bộ máy của hệ thống chính trị sau khi đã được sắp xếp tinh gọn với quyền lực nhà nước được tập trung hơn. Điều này vừa tạo ra thuận lợi, nhưng vừa đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp tỉnh vừa là cấp thực hiện chủ trương, chính sách từ Trung ương, vừa là cấp ban hành thể chế chính sách trên địa bàn tỉnh, thành phố và trực tiếp chỉ đạo, quản lý các hoạt động của cấp xã trên địa bàn. Cấp xã chủ yếu thực hiện chủ trương, chính sách từ cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố ban hành; được tăng cường phân cấp, phân quyền và có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật trên địa bàn và quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của cấp mình. Như vậy, nhiệm vụ và quyền hạn tập trung nhiều hơn cho mỗi cấp chính quyền, nhất là chính quyền cấp xã. Theo đó, khi nhiệm vụ, quyền hạn tập trung cao hơn, nhiều hơn cho mỗi cơ quan, tổ chức nhất là các cơ quan chính quyền mỗi cấp ở địa phương thì công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tức là kiểm soát quyền lực càng cần phải được tăng cường.
Trong bộ máy tinh gọn nói chung, chính quyền địa phương hai cấp nói riêng, phạm vi và nội dung lãnh đạo, quản lý được giao cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân rộng hơn, đa dạng hơn trước. Với quy mô diện tích và dân số của các tỉnh có nhiều thay đổi, mở rộng và tăng lên đáng kể, nhất là đơn vị hành chính cấp xã, phường tăng lên gấp đôi (dân số xã đồng bằng tăng gấp đôi và diện tích xã miền núi tăng gấp đôi theo Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 về tiêu chuẩn đơn vị hành chính. Những thay đổi này không những đòi hỏi nâng cao năng lực và trách nhiệm mà còn phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong đó có việc tổ chức thực hiện ba đột phá chiến lược trên phạm vi hành chính lãnh thổ rộng lớn và đông dân cư của mỗi địa phương.
Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là sự kết hợp chặt chẽ giữa số lượng và chất lượng. Số lượng ít nhưng tinh, đủ phẩm chất, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Như đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ: Không để cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” cho cán bộ yếu kém. Bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn là bộ máy phải gắn với việc nâng cao sức mạnh của tổ chức, gắn với việc xác định vị trí việc làm, xóa bỏ các tầng nấc trung gian và nâng cao chất lượng, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Đó còn là bộ máy có cơ chế hữu hiệu để sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và vận dụng hiệu quả đối với những người có năng lực nổi trội[1]. Đó còn là tổ chức bộ máy không có sự chồng chéo, phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm, không “lấn sân”, không cản trở, không vô hiệu hóa lẫn nhau, không làm giảm tính chủ động, sáng tạo dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả công tác thấp. Tổ chức và con người trong bộ máy đó xử lý nhanh nhạy các thông tin với thời gian thực hiện công vụ ít nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất. Nhân sự lao động quản lý các cấp trong bộ máy tinh gọn, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: “Phải là những người hội tụ đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ sức, đủ nhiệt huyết cách mạng để gánh vác trọng trách lịch sử đất nước”[2]. Theo đó, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn không thể không coi trọng việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và nâng cao trách nhiệm giải trình một cách chặt chẽ, bảo đảm cho bộ máy tinh gọn hoạt động hiệu lực và hiệu quả góp phần nâng cao trách nhiệm, phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý của từng cấp chính quyền và của đội ngũ cán bộ, công chức nhất là những người giữ cương vị lãnh đạo quản lý hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Hai là, kiểm soát quyền lực là phương tiện bảo đảm thực hiện thành công các đột phá chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
- Đối với việc thực hiện đột phá chiến lược về hoàn thiện thể chế: Theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV thì hoàn thiện thể chế phát triển là một trong những đột phá chiến lược nhằm tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và tổ chức thực thi, thể chế luôn luôn gắn liền với tổ chức và vận hành của quyền lực. Theo đó, nếu quyền lực trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế không được kiểm soát hiệu quả, có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực như ban hành chính sách thiếu minh bạch; hình thành các lợi ích nhóm ẩn chứa trong quá trình xây dựng thể chế làm gia tăng nguy cơ tham nhũng chính sách… Vì vậy, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực vừa là điều kiện, vừa là phương tiện quan trọng để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của của việc xây dựng thể chế và thực hiện thể chế.
- Đối với việc thực hiện đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, là chủ thể trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước. Nếu quyền lực trong công tác cán bộ không được kiểm soát chặt chẽ thì quyền lực rất dễ dàng bị tha hóa, làm phát sinh các hiện tượng tiêu cực như chạy chức, chạy quyền hoặc thao túng quyền lực trong công tác cán bộ; tình trạng tham ô, hối lộ sẽ tất yếu diễn ra. Chính vì thế, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ đóng vai trò như một cơ chế sàng lọc, bảo đảm những người nắm giữ quyền lực phải có đủ năng lực, phẩm chất và uy tín. Vì thế, chỉ khi quyền lực trong công tác cán bộ được kiểm soát hiệu quả thì mới có thể xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống chính trị.
- Đối với đột phá chiến lược về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại: Trong chiến lược phát triển quốc gia, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn. Điều này làm cho lĩnh vực đầu tư công trở thành một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với nguy cơ tham nhũng và lãng phí. Kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta cũng như các nước đều cho thấy, phần lớn các vụ tham nhũng lớn đều xảy ra trong lĩnh vực đầu tư công, xây dựng cơ sở hạ tầng và quản lý tài nguyên đất đai, khoáng sản. Điều đó cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa kiểm soát quyền lực và hiệu quả của đầu tư phát triển.
Đẩy mạnh xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại theo định hướng của Đại hội XIV của Đảng, tất yếu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước làm phương tiện quan trọng để: “bảo đảm tính minh bạch của các dự án đầu tư; ngăn ngừa tham nhũng và lợi ích nhóm; nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia”
[3].
Như vậy, kiểm soát quyền lực không chỉ là vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước mà còn là điều kiện và phương tiện bảo đảm cho sự thực hiện thành công chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia.
Tóm lại, kiểm soát quyền lực nhà nước không chỉ là yêu cầu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của dân, do dân và vì dân mà còn là phương tiện bảo đảm thực hiện thành công các đột phá chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2. Định hướng và giải pháp chủ yếu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đáp ứng yêu cầu thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại
2.1. Định hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực
Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của các tổ chức Đảng trong công tác kiểm soát quyền lực nói chung, kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các đột phá chiến lược nói riêng. Kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, xuất phát từ mục tiêu xây dựng một bộ máy tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả nói chung, thực hiện thắng lợi các đột phá chiến lược nói riêng. Do đó, để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trước hết cần có sự thống nhất và quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, trong đó sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao và quyết liệt của tổ chức Đảng các cấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định. Theo đó, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã; coi trọng việc thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tăng cường và bảo đảm tổ chức Đảng và đảng viên gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; bảo đảm công khai, minh bạch, gắn quyền lực với trách nhiệm cá nhân; không để xảy ra tình trạng mất đoàn kết, lợi ích nhóm, chạy chức, chạy quyền, cục bộ, bè phái, tham nhũng, lãng phí trong công tác sắp xếp cán bộ, sắp xếp tổ chức là những định hướng cơ bản, quan trọng về sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức Đảng trong công tác kiểm soát quyền lực.
Hai là, đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), Chính phủ số và kinh tế số đang làm thay đổi phương thức quản trị quốc gia. Điều đó vừa tạo thuận lợi cho công tác kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, vừa đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác kiểm soát quyền lực. Trong bối cảnh đó, công tác kiểm soát quyền lực không chỉ là việc phát hiện và xử lý vi phạm theo phương thức hiện có mà phải chuyển mạnh sang quản trị dựa trên dữ liệu, dự báo rủi ro và kiểm soát quyền lực trong môi trường số. Tham nhũng, lãng phí trong giai đoạn hiện nay không chỉ diễn ra dưới hình thức trực tiếp mà ngày càng tinh vi, ẩn sâu trong giao dịch điện tử, chuyển đổi dữ liệu, đấu thầu trực tuyến, tài chính số, tài sản mã hóa hoặc thông qua thao túng hệ thống thông tin… Vì thế, công tác kiểm soát quyền lực đòi hỏi phải thay đổi mạnh mẽ tư duy, phải chuyển đổi từ tư duy hậu kiểm sang tư duy “phòng ngừa chủ động”. Đây là đòi hỏi bắt nguồn từ chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tăng cường kiểm soát quyền lực trong điều kiện chuyển đổi số.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật đi đôi với kiểm tra, giám sát việc xây dựng và thi hành thể chế, pháp luật.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật để vừa làm phương tiện tháo gỡ các “điểm nghẽn” mở đường cho việc thực hiện các đột phá chiến lược; vừa đòi hỏi phải thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm cho quá trình xây dựng và thực thi chính sách được tiến hành minh bạch, khách quan vì lợi ích chung của xã hội. Do đó, phương hướng hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực cần tập trung vào kiểm soát quyền lực trong quá trình xây dựng chính sách pháp luật; phòng ngừa tham nhũng chính sách và lợi ích nhóm; tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Mặt khác, tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, là hoạt động bảo đảm cho Hiến pháp, luật giữ địa vị thống trị trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy được đầy đủ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Đồng thời, thông qua việc tổ chức thi hành pháp luật mà phát hiện những lỗ hổng, những quy định pháp luật không phù hợp, không đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của Chính phủ và chính quyền địa phương. Chính vì thế, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của các bộ ngành Trung ương. Thực hiện kỷ cương, kỷ luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành pháp luật”.
Bốn là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế “kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp”
[4] gắn chặt với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xây dựng hệ thống chính trị tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả không chỉ là một cuộc “cách mạng sâu rộng về quản trị nhà nước, minh bạch hóa và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong hành chính, kinh tế, tài chính, ngân sách và quản lý tài nguyên mà còn là sự chủ động, sáng tạo, tự lực và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” tạo không gian mở và động lực phát triển”
[5]. Theo đó, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm tra, thanh tra và giám sát quyền lực chặt chẽ, bảo đảm không để xảy ra lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân là hết sức quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn nói chung, trong việc thực hiện đột phá chiến lược xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng. Vì thế, phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực cả bên trong mỗi cơ quan, tổ chức, giữa các cơ quan, tổ chức trong cùng một cấp; giữa cơ quan, tổ chức cấp trên đối với cơ quan, tổ chức cấp dưới và cả cơ chế kiểm soát từ bên ngoài gồm kiểm soát của Nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp của Nhân dân đối với việc thực thi quyền lực theo định hướng: Tập trung kiểm soát quyền lực trong công tác tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ; ngăn chặn các hành vi chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế đánh giá cán bộ minh bạch và khách quan.
Năm là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực gắn với việc thực hiện đột phá chiến lược xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn. Vì vậy, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả thì mới phòng, chống được tình trạng tham nhũng lãng phí và thất thoát nguồn lực… Do đó, cần tập trung vào kiểm soát quyền lực trong quản lý đầu tư công; tăng cường minh bạch trong các dự án hạ tầng; nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử đối với việc sử dụng nguồn lực quốc gia.
Sáu là,tăng cường trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của bộ máy thuộc hệ thống chính trị, nhất là cấp xã, phường trong việc thực hiện các đột phá chiến lược nhằm bảo đảm cán bộ, công chức hoạt động minh bạch, bảo đảm cho người dân có quyền biết được cán bộ, công chức, viên chức của mình đang làm gì, tạo động lực cho niềm tin của Nhân dân vào chính quyền cơ sở, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động thực hiện các đột phá chiến lược. Đây chính là một phương thức để Nhân dân kiểm soát quyền lực đặc biệt quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy sau khi được tinh gọn, nhằm góp phần bảo đảm cho bộ máy gần dân, sát dân, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.
2.2. Một số giải pháp chủ yếu
Một là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ.
- Trước hết, xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật về công tác kiểm tra Đảng để hướng dẫn và tăng cường hoạt động của
Ủy ban kiểm tra các cấp trong công tác cán bộ. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh cần phải: “Đề cao vai trò, trách nhiệm của Ủy ban kiểm tra các cấp đối với kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, trong phát hiện, phòng ngừa những sai phạm, đưa nội hàm chống lãng phí vào công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới”[6].
- Tiếp tục phân cấp, phân quyền một cách rạch ròi, hợp lý, khoa học nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, tổ chức; mỗi cấp chính quyền, mỗi nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhằm minh bạch hóa quy trình tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ; xây dựng cơ chế đánh giá cán bộ dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ; tăng cường trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, có năng lực, liêm chính và trách nhiệm.
Hai là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong quản lý đầu tư công. Để bảo đảm hiệu quả của quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng, cần thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ trong quản lý đầu tư công. Theo đó, cần tăng cường tính minh bạch thông tin về các dự án đầu tư công. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm toán và tăng cường giám sát các cơ quan dân cử và giám sát xã hội của Nhân dân đối với các dự án hạ tầng.
Ba là, phát huy vai trò giám sát của xã hội đối với quyền lực. Một yếu tố quan trọng của cơ chế kiểm soát quyền lực là sự tham gia giám sát của xã hội. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân trong giám sát quyền lực nhằm góp phần phát hiện kịp thời các biểu hiện lạm dụng và tạo ra áp lực minh bạch đối với bộ máy nhà nước.
Bốn là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cách thức kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm soát quyền lực. Để làm chủ trong quản lý và sử dụng thông tin được số hoá, hoạt động kiểm soát quyền lực đang đứng trước cơ hội và thách thức. Về cơ hội, trước hết thông tin trong môi trường số bảo đảm tính minh bạch, từ đó tạo điều kiện phân tích số liệu một cách chính xác, khách quan. Tuy nhiên, thành tựu đó cũng kèm theo thách thức. Kiểm soát quyền lực trong môi trường số yêu cầu hàng đầu là tính xác thực thông tin, cốt lõi của quản trị dữ liệu. Quá trình thu thập, xử lý thông tin thường dễ bị can thiệp dẫn đến sai lệch như bị thổi phồng, phóng đại do bệnh thành tích… Vì thế, để kiểm soát thông tin không những đòi hỏi trình độ cao, am hiểu công nghệ thông tin mà còn cần hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, bảo đảm tính thông suốt của hệ thống dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát. Đồng thời, phải thường xuyên đổi mới cách thức và phương pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm soát quyền lực trong điều kiện Chính phủ số và chuyển đổi số.
Năm là, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Theo đó cần phải:
- Tập trung xây dựng và nâng cao văn hóa tuân thủ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy chính quyền xã, phường. Văn hóa tuân thủ pháp luật bao gồm tri thức về pháp luật, tình cảm đúng đắn, lòng tin sâu sắc vào pháp luật và có động cơ, hành vi tích cực đối với pháp luật.
- Tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp luật để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật và chủ động trong các quan hệ với các cơ quan nhà nước, góp phần thúc đẩy nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
- Quy định rõ trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân; nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tổ chức thi hành pháp luật ở cơ quan, tổ chức mình. Trong đó, chú trọng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, tiếp nhận, xử lý kịp thời, hiệu quả kiến nghị, phản ánh của cán bộ, công chức cũng như Nhân dân, doanh nghiệp đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân có chức quyền của cơ quan, tổ chức mình.
Sáu là, hoàn thiện chế định pháp lý về trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy thuộc hệ thống chính trị.
Tại khoản 5 Điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 có dành riêng một định nghĩa về trách nhiệm giải trình, theo đó: “Trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao”. Như vậy, trách nhiệm giải trình là một cơ chế quan trọng trong kiểm soát quyền lực về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; giúp bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức Đảng và Nhà nước đối với Nhân dân. Nó bao gồm nghĩa vụ báo cáo, giải thích và chịu trách nhiệm về các hành vi và quyết định của mình. Vì thế, cần phải hoàn thiện chế định pháp lý về trách nhiệm giải trình bao gồm các quy định về nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, quy trình, quyền và trách nhiệm của các chủ thể chịu trách nhiệm giải trình. Đồng thời, nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giải trình trong thực tế như: Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các cuộc chất vấn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Nâng cao năng lực thực hiện sự minh bạch và trách nhiệm giải trình ở các cuộc tiếp dân và tiếp xúc cử tri của các cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở, cơ quan dân cử. Trách nhiệm giải trình không chỉ là việc trả lời, giải thích mà còn bao gồm cả việc nhận trách nhiệm và phương án xử lý, giải quyết các vấn đề hay những sai sót trong quá trình thực thi công vụ. Cần coi trọng phương diện này trong các cuộc giải trình. Tăng cường sự minh bạch về dữ liệu trong các cuộc giải trình, nhất là trong điều kiện chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Trong chính quyền địa phương hai cấp, nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền địa phương ngày càng được mở rộng, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quản ngày càng cao; do đó, chính quyền địa phương và cá nhân có thẩm quyền càng phải nâng cao trách nhiệm giải trình trước Nhân dân, trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và chính quyền cấp trên.
Kết luận
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu thực hiện đồng thời ba đột phá chiến lược và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Kiểm soát quyền lực không chỉ là yêu cầu nội tại của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm phòng ngừa lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm, mà còn là điều kiện bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền, công khai, minh bạch và vì lợi ích của Nhân dân. Đây cũng là phương thức quan trọng để nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, đồng thời bảo đảm hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực quốc gia trong phát triển đất nước.
Trong thời gian tới, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực cần được triển khai đồng bộ trên cả phương diện thể chế, tổ chức thực thi và phương thức quản trị quốc gia. Trọng tâm là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Kiểm soát quyền lực là một giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phát huy giá trị đó trong việc thực hiện các đột phá chiến lược mà Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra là đòi hỏi cấp thiết và thường xuyên để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng đề ra./.
[1] Tổng Bí thư Tô Lâm, Xây dựng bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, ngày 5/11/2024.
[2] Tổng Bí thư Tô Lâm, Bài phát biểu tại cuộc họp Ban Tổ chức Trung ương ngày 27/5/2025, Báo Quân đội nhân dân, ngày 27/5/2025.
[3] Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV, xem tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/bo-chinh-tri-ban-bi-thu-ban-chap-hanh-trung-uong/dai-hoi-dang/lan-thu-xiv.
[4] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.