Tóm tắt: Phát triển nhanh và bền vững không phải là lựa chọn loại trừ giữa vận động và ổn định, giữa Nhà nước và thị trường, mà phụ thuộc năng lực quản trị quá trình chuyển hóa nguồn lực tiềm tàng thành năng suất, đổi mới sáng tạo, giá trị công, đồng thời hạn chế ma sát thể chế, kiểm soát rủi ro hệ thống. Bài viết dùng hình ảnh con lắc như khung gợi mở phương pháp luận để luận giải hai phạm trù: “thế năng ổn định” - năng lực tích lũy trong thể chế, nguồn lực, niềm tin, sức chống chịu; và “động năng phát triển” - năng lực ấy khi hiện thực hóa thành tăng trưởng, đổi mới, cải thiện đời sống Nhân dân. Bài viết phân tích quan hệ bổ sung, kiểm soát lẫn nhau giữa Nhà nước, thị trường, xã hội; nhận diện các trạng thái mất cân bằng; luận giải một số nghị quyết trụ cột của Đảng như một cấu trúc chiến lược mở rộng không gian phát triển, giảm ma sát thể chế, phát huy vai trò chủ thể, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện quản trị phát triển.
Từ khóa: Quản trị phát triển; Nhà nước; thị trường; xã hội; cân bằng động.
Abstract: Rapid and sustainable development is not a binary choice between motion and stability, or between the State and the market, but depends on the capacity to convert latent resources into productivity, innovation and public value, while limiting institutional friction and controlling systemic risk. Having clarified the value and limits of the physical analogy, the article uses the pendulum as a methodological framework to explain two categories: "stability potential energy" - capacity accumulated in institutions, resources, trust and resilience; and "development kinetic energy" - that capacity once realised as growth, innovation and improved living standards. It analyses the complementary and corrective relations among the State, the market and society; identifies typical states of imbalance; and interprets Resolutions No. 57, 59, 66 and 68-NQ/TW as a unified strategic structure that expands development space, generates new impetus, reduces institutional friction and empowers key actors, before proposing directions for improved development governance.
Keywords: Development governance; State; market; society; dynamic equilibrium.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Mở đầu
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
[1] xác định quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là một trong những mối quan hệ lớn cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt trong quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững”
[2]. Trong thực tiễn quản trị quốc gia, câu hỏi đặt ra không phải là lựa chọn giữa vận động và ổn định, giữa hiệu quả kinh tế và đồng thuận xã hội, mà là năng lực tổ chức để nguồn lực tiềm tàng được chuyển hóa thành kết quả phát triển thực chất, trong khi vẫn giữ vững định hướng chính trị, kỷ cương pháp luật và nền tảng xã hội.
Từ cuối năm 2024 đến đầu năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành liên tiếp bốn nghị quyết mang tính đột phá - các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 66-NQ/TW và 68-NQ/TW - được Tổng Bí thư Tô Lâm gọi là “Bộ tứ trụ cột”, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một khung lý luận đủ khái quát để nhận diện mối liên hệ nội tại giữa các nghị quyết này với cấu trúc Nhà nước - thị trường - xã hội. Trong bối cảnh đó, việc mượn hình ảnh con lắc - một hiện tượng vật lý quen thuộc với sự chuyển hóa liên tục giữa động năng và thế năng - như một ẩn dụ khoa học có thể gợi mở một cách tiếp cận mới để lý giải quá trình phát triển.
Bài viết đặt mục tiêu: (i) Làm rõ giá trị và giới hạn của phép loại suy con lắc trong phân tích quản trị phát triển; (ii) Khái niệm hóa hai phạm trù “thế năng ổn định” và “động năng phát triển” gắn với cấu trúc Nhà nước - thị trường - xã hội; (iii) Xác định các điều kiện chuyển hóa thế năng thành động năng và nhận diện các trạng thái mất cân bằng cần phòng ngừa; (iv) Luận giải “Bộ tứ trụ cột” như một cấu trúc chiến lược thống nhất; và (v) Đề xuất một số định hướng nâng cao hiệu quả quản trị, tổ chức thực hiện.
1. Ẩn dụ khoa học và khung phân tích quản trị phát triển
Con lắc đơn là vật có khối lượng treo bằng dây không dãn, dao động dưới tác dụng của trọng lực. Nếu bỏ qua lực cản và lấy vị trí thấp nhất làm mốc thế năng, tại vị trí biên vận tốc bằng không, động năng nhỏ nhất và thế năng lớn nhất; khi qua vị trí cân bằng, động năng đạt cực đại còn thế năng cực tiểu. Hai dạng năng lượng liên tục chuyển hóa; trong con lắc thực, ma sát làm cơ năng tiêu tán, muốn duy trì dao động phải bổ sung năng lượng đúng cường độ và nhịp điệu. Hình ảnh ấy gợi mở một cách tiếp cận biện chứng về phát triển: Ổn định không phủ định vận động mà tạo nền tảng tích lũy cho vận động; vận động cũng không tất yếu dẫn tới bất ổn nếu diễn ra trong một cấu trúc có định hướng, giới hạn và năng lực tự điều chỉnh. V.I. Lênin nhấn mạnh sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ có tính điều kiện, tạm thời và tương đối, còn sự đấu tranh và vận động của chúng là tuyệt đối
[3]; theo đó, phát triển không đi theo đường thẳng đơn tuyến mà là quá trình thường xuyên nhận diện, xử lý và chuyển hóa mâu thuẫn trong một chỉnh thể vận động không ngừng.
Việc mượn hiện tượng tự nhiên để soi chiếu quá trình xã hội có cơ sở trong truyền thống tư duy biện chứng. Ph. Ăng-ghen, trong “Biện chứng của tự nhiên”
[4], luận giải tính phổ biến của vận động, liên hệ và chuyển hóa, đồng thời phê phán lối tư duy siêu hình tách sự vật khỏi điều kiện tồn tại cụ thể. Tuy nhiên, tiếp thu tinh thần ấy không có nghĩa đồng nhất quy luật xã hội với quy luật cơ học; phép ẩn dụ chỉ có giá trị khoa học khi giúp phát hiện quan hệ, đặt đúng vấn đề, còn sẽ trở nên giản đơn, thậm chí sai lệch nếu bị tuyệt đối hóa thành công thức tất định thay cho phân tích lịch sử - cụ thể.
Để phép loại suy không vượt quá giới hạn khoa học, cần xác định rõ bốn giới hạn của sự tương đồng. Thứ nhất, con lắc lý tưởng là hệ khép kín, còn quốc gia là hệ mở, thường xuyên trao đổi nguồn lực, tri thức, công nghệ, giá trị và rủi ro với môi trường quốc tế. Thứ hai, cơ năng con lắc lý tưởng là đại lượng bảo toàn, còn năng lực phát triển xã hội có thể được tạo mới, mở rộng hoặc suy giảm tùy chất lượng thể chế. Thứ ba, quỹ đạo con lắc có tính xác định cao, trong khi phát triển xã hội luôn chịu tác động của lợi ích, quyền lực, văn hóa và những biến cố khó dự báo đầy đủ. Thứ tư, biên độ vận động lớn hơn không mặc nhiên đồng nghĩa phát triển tốt hơn; vượt quá ngưỡng thích hợp, hệ thống có thể chuyển sang trạng thái phi tuyến, mất ổn định.
Bởi vậy, “mô hình con lắc” trong bài viết không phải một quy luật mới của khoa học quản trị, mà là khung gợi mở phương pháp luận, cấu trúc quanh năm biến số: Trục định hướng, không gian vận động, mức độ ma sát, nguồn năng lượng và cơ chế phản hồi - hiệu chỉnh. Năm biến số này quy tụ vào câu hỏi trung tâm của quản trị phát triển: Làm thế nào giải phóng mạnh mẽ nguồn lực, nâng cao tốc độ và chất lượng phát triển, nhưng vẫn giữ vững định hướng, kỷ cương, công bằng và ổn định xã hội. Giá trị của mô hình không nằm ở việc cơ học hóa đời sống xã hội - vốn phong phú và phức tạp hơn mọi phép loại suy - mà ở khả năng làm rõ điều kiện, giới hạn và cơ chế chuyển hóa của phát triển.
2. “Thế năng ổn định”, “động năng phát triển” và cấu trúc Nhà nước - thị trường - xã hội
Nhà nước, thị trường và xã hội là ba cơ chế điều phối xã hội có chức năng, ưu thế và giới hạn riêng, không thể thay thế hay vận hành tách rời nhau. Chất lượng phát triển vì thế không chỉ phụ thuộc năng lực từng thành tố, mà còn được quyết định bởi thể chế liên kết giữa chúng - khả năng bổ sung, kiểm soát, hiệu chỉnh và tạo điều kiện cho nhau trong một chỉnh thể thống nhất.
Nhà nước xác lập định hướng chiến lược, kiến tạo khuôn khổ pháp luật, giữ vững ổn định vĩ mô, cung ứng hàng hóa công thiết yếu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, khắc phục thất bại thị trường, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và an ninh quốc gia. Theo mô hình gợi mở, Nhà nước gần với “trục định hướng” - hệ nguyên tắc xác lập quỹ đạo vận động, phải đủ vững để giữ phương hướng nhưng không thu hẹp không gian hành động của thị trường và xã hội. Nhà nước kiến tạo, vì thế, không làm thay các chủ thể mà thiết kế thể chế để họ hành động và tự chịu trách nhiệm, đồng thời bảo đảm những giá trị công mà thị trường không thể tự cung ứng đầy đủ.
Thị trường là cơ chế phát hiện, xử lý thông tin phân tán, hình thành giá cả, phân bổ nguồn lực, tạo động lực cạnh tranh và thử nghiệm phương án mới, nhờ đó chuyển tiềm năng thành hoạt động sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và việc làm. Đây là cơ chế biểu hiện rõ nhất quá trình giải phóng “động năng”, song hiệu quả của nó phụ thuộc quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh, hạ tầng, nhân lực và độ tin cậy của thể chế. Thiếu luật chơi minh bạch, thị trường dễ dẫn tới đặc quyền, đầu cơ, độc quyền và phân bổ nguồn lực méo mó, khiến năng lực vận động bị dẫn sai hướng
[5].
Xã hội bao gồm: Nhân dân, cộng đồng, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, khoa học, truyền thông và mạng lưới liên kết tự nguyện - tạo lập niềm tin, chuẩn mực, năng lực hợp tác; tham gia giám sát, phản biện; là không gian kiểm chứng tính chính đáng và hiệu quả chính sách. Xã hội cần đủ gắn kết để tạo đồng thuận, đủ cởi mở để tiếp nhận khác biệt và đủ năng lực để phát hiện sai lệch, truyền tín hiệu tới Nhà nước và thị trường. Một xã hội thiếu gắn kết dễ phân mảnh trước khác biệt; thiếu cởi mở lại làm suy yếu phản biện, khiến sai lệch không được nhận diện, hiệu chỉnh kịp thời.
PGS. TS. Đoàn Minh Huấn
[6] chỉ ra rằng quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội phải được xử lý trong tính tương hỗ, bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau, không tuyệt đối hóa vai trò của bất kỳ thành tố nào, bởi mỗi cơ chế đều chứa giới hạn nội tại: Nhà nước có thể quan liêu, cục bộ hoặc bị chi phối bởi lợi ích nhóm; thị trường có thể dẫn tới độc quyền, ngoại ứng tiêu cực và phân hóa xã hội; xã hội có thể bị phân mảnh, thao túng thông tin hoặc suy giảm niềm tin. Quản trị phát triển, vì thế, không phải lựa chọn một cơ chế “tối ưu”, mà là thiết kế thể chế để ưu thế của cơ chế này kiểm soát, bù đắp hạn chế của cơ chế khác.
Từ đó, có thể khái niệm hóa “thế năng ổn định” là tổng hợp năng lực đã kiến tạo, tích lũy và duy trì trong hệ thống nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ thành kết quả phát triển: Sự ổn định chính trị, độ tin cậy pháp luật, chất lượng nhân lực và hạ tầng, tiềm lực khoa học công nghệ, vị thế quốc tế, vốn văn hóa, vốn xã hội, niềm tin của người dân, doanh nghiệp và khả năng chống chịu trước cú sốc. Ổn định ở đây không đồng nghĩa bất biến; một thể chế chỉ thực sự ổn định khi có năng lực thích ứng, tự sửa sai và hấp thụ cú sốc mà không làm đứt gãy mục tiêu, trật tự và động lực phát triển.
“Động năng phát triển” là phần năng lực được giải phóng, tổ chức và hiện thực hóa thành năng suất, doanh nghiệp mới, công nghệ mới, việc làm, thu nhập, chất lượng dịch vụ công và mức sống Nhân dân. Các quốc gia có quy mô nguồn lực tương đương vẫn tạo ra động năng khác nhau bởi khác biệt về năng lực chuyển hóa: Nguồn lực mới chỉ là điều kiện cần, còn chất lượng thể chế và hiệu quả phối hợp mới quyết định nguồn lực được đưa vào sản xuất, đổi mới, hay bị phân tán, lãng phí.
Quan hệ trên có thể biểu đạt bằng một khung khái niệm: Động năng phát triển phụ thuộc quy mô thế năng và năng lực chuyển hóa, sau khi khấu trừ ma sát thể chế và tổn thất do rủi ro - chỉ ra bốn hướng tác động: Tích lũy, làm giàu nguồn lực; nâng cao năng lực chuyển hóa; giảm chi phí tiêu tán; chủ động kiểm soát rủi ro, đều phụ thuộc chất lượng tương tác giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Động năng phát triển ≈ (Thế năng tích lũy × Năng lực chuyển hóa) - Ma sát thể chế - Tổn thất do rủi ro
Trong chỉnh thể đó, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện chính trị quyết định để xác lập mục tiêu, định hướng và tích hợp nguồn lực thành sức mạnh tổng hợp, được nhận thức ở tầm kiến tạo đường hướng, tổ chức lực lượng, kiểm tra thực hiện, bảo đảm phát triển hướng tới lợi ích nhân dân, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
[7]. Sức mạnh tổng hợp không hình thành từ phép cộng giản đơn các nguồn lực, mà từ năng lực tổ chức phối hợp đúng mục tiêu, đúng thời điểm, đúng phương thức.
3. Những điều kiện chuyển hóa “thế năng ổn định” thành “động năng phát triển”
Từ khung phân tích trên có thể xác định sáu điều kiện cơ bản để chuyển “thế năng ổn định” thành “động năng phát triển”, hợp thành một chuỗi thể chế liên hoàn: có không gian hành động nhưng thiếu luật chơi, vận động dễ rơi vào tùy tiện; có luật chơi nhưng thiếu động lực, hệ thống có thể trì trệ; có động lực nhưng thiếu phản hồi, nguồn lực dễ bị phân bổ sai hướng; có tăng trưởng nhưng thiếu nền tảng xã hội, thành quả khó duy trì bền vững. Hiệu quả chuyển hóa vì thế phụ thuộc mức độ đồng bộ của toàn bộ chuỗi thể chế - nguồn lực - chủ thể - phản hồi.
Một là, mở rộng không gian hành động trong giới hạn an toàn. Phát triển đòi hỏi người dân, doanh nghiệp, nhà khoa học và địa phương có quyền chủ động đủ lớn để phát hiện cơ hội và chịu trách nhiệm về quyết định của mình, được tạo bởi quyền tài sản được bảo vệ, quyền tự do kinh doanh, tự do sáng tạo và sự phân cấp, phân quyền thực chất. Mở rộng không gian hành động không đồng nghĩa xóa bỏ giới hạn, mà là xác lập giới hạn phù hợp với năng lực tự chịu trách nhiệm của chủ thể, vừa cho phép thử nghiệm và cạnh tranh, vừa bảo vệ lợi ích công, an ninh, môi trường và quyền của người khác.
Hai là, giảm ma sát thể chế và các chi phí không tạo ra giá trị. Ma sát thể chế biểu hiện ở thủ tục chồng chéo, quy định mâu thuẫn, thời gian chờ đợi, chi phí không chính thức, cơ chế xin - cho, tâm lý sợ trách nhiệm và sự thiếu nhất quán trong áp dụng pháp luật, không chỉ làm tăng chi phí của doanh nghiệp mà còn bào mòn niềm tin, khiến các chủ thể lựa chọn phòng thủ thay vì đầu tư. Giảm ma sát phải vượt ra ngoài việc đơn giản hóa giấy tờ, hướng tới minh bạch hóa quy trình, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, phân định rõ thẩm quyền và xác lập trách nhiệm giải trình.
Ba là, giữ vững định hướng chiến lược đồng thời nâng cao năng lực thích ứng. Một quỹ đạo phát triển cần sự nhất quán về mục tiêu dài hạn, độ ổn định tương đối của luật chơi và kỷ luật thực thi; song ổn định không đồng nghĩa bảo lưu quy định đã lạc hậu. Định hướng chỉ thực sự vững khi đi cùng năng lực tự hiệu chỉnh: Kịp thời nhận diện vấn đề mới, sửa đổi chính sách trên cơ sở bằng chứng, nhưng không tạo ra những cú sốc tùy tiện làm đảo lộn kỳ vọng chính đáng. Ổn định có chất lượng nằm ở tính dự báo của nguyên tắc và lộ trình thay đổi, không nằm ở sự trì hoãn thay đổi.
Bốn là, bổ sung động lực mới và tác động đúng thời điểm. Nền kinh tế sẽ suy giảm động lực nếu không liên tục đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nhân lực, phát triển hạ tầng và mở rộng thị trường. Nhà nước cần đầu tư cho những năng lực nền tảng có sức lan tỏa cao, ở các lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng hoặc động cơ đầu tư; song nguồn lực công phải được phân bổ đúng điểm nghẽn, đúng thời điểm, gắn với mục tiêu đầu ra và cơ chế rút lui, tránh tạo sự phụ thuộc, làm suy giảm kỷ luật thị trường.
Năm là, thiết lập cơ chế phản hồi và giảm chấn. Cơ chế phản hồi bao gồm dữ liệu kịp thời, năng lực dự báo, giám sát độc lập, tham vấn chính sách và khả năng điều chỉnh nhanh; cơ chế giảm chấn bao gồm an sinh xã hội, dự phòng tài khóa, kiểm soát rủi ro tài chính và năng lực ứng phó khẩn cấp - tạo nền tảng để cải cách được thực hiện bền vững khi rủi ro chuyển đổi được nhận diện, phân bổ và chia sẻ hợp lý.
Sáu là, củng cố nền tảng xã hội của phát triển. Niềm tin, công bằng, văn hóa tuân thủ và tinh thần hợp tác là nguồn lực liên kết không thể thay thế bằng mệnh lệnh hành chính hay động cơ lợi nhuận. Một chính sách đúng về kỹ thuật nhưng thiếu đồng thuận vẫn có thể bị trì hoãn, biến dạng hoặc làm tăng chi phí thực thi. Củng cố nền tảng xã hội đòi hỏi công khai thông tin, đối thoại thực chất, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương, phân bổ hợp lý chi phí và lợi ích của cải cách, đồng thời tạo điều kiện để Nhân dân tham gia giám sát.
4. Các trạng thái mất cân bằng: Ổn định biến thành trì trệ, vận động chuyển thành rối loạn
Giá trị phân tích của mô hình con lắc thể hiện rõ nhất ở khả năng nhận diện những trạng thái mất cân bằng trong vận hành hệ thống. Căn nguyên của mất cân bằng không chỉ nằm ở chỗ một thành tố “quá mạnh” hay “quá yếu”, mà sâu xa hơn là sự lệch pha giữa quyền lực, trách nhiệm, nguồn lực, năng lực thực thi và cơ chế tự điều chỉnh. Nếu kéo dài, sự lệch pha này có thể biến ổn định thành trì trệ, hoặc đẩy vận động vượt khỏi năng lực kiểm soát và chuyển thành rối loạn. Từ góc nhìn đó, có thể nhận diện bốn trạng thái điển hình cần chủ động phòng ngừa.
Thứ nhất, hành chính hóa quá mức và Nhà nước làm thay. Khi cơ quan công quyền can thiệp trực tiếp vào những quyết định mà thị trường và xã hội có thể thực hiện hiệu quả hơn, không gian sáng kiến bị thu hẹp, trách nhiệm bị đẩy lên cấp trên, nguồn lực được phân bổ theo quan hệ hành chính thay vì hiệu quả. Trạng thái này tạo ra vẻ ổn định bề ngoài nhưng làm suy giảm động lực nội sinh; bài học của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cho thấy sự ổn định không dựa trên năng suất và trách nhiệm sẽ tích tụ mất cân đối, tâm lý ỷ lại và sự khan hiếm động lực đổi mới.
Thứ hai, tuyệt đối hóa tính tự phát của thị trường. Thị trường là cơ chế mạnh trong phân bổ nguồn lực, nhưng không tự bảo đảm công bằng, ổn định vĩ mô, cạnh tranh lành mạnh hay bảo vệ môi trường. Khi quy định an toàn bị nới lỏng thiếu kiểm soát, động cơ lợi nhuận ngắn hạn có thể tạo đòn bẩy quá mức, bong bóng tài sản và rủi ro lan truyền. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008
[8] cho thấy sự thất bại của giám sát, quản trị rủi ro, minh bạch thông tin và các cơ chế khuyến khích đã biến sự năng động của thị trường tài chính thành bất ổn hệ thống - biểu hiện của động năng được giải phóng vượt quá năng lực định hướng, phản hồi và giảm chấn.
Thứ ba, suy yếu nền tảng xã hội và đứt gãy niềm tin. Khi khoảng cách giữa chính sách và trải nghiệm của người dân kéo dài, lợi ích và nghĩa vụ được phân bổ thiếu công bằng, hoặc thông tin bị phân mảnh, quan hệ liên kết giữa Nhà nước và xã hội sẽ suy yếu, kéo theo chi phí thực thi gia tăng và tâm lý hoài nghi lan rộng. Kinh nghiệm cải tổ và tan rã của Liên Xô cho thấy, khi năng lực lãnh đạo, kỷ cương nhà nước và các liên kết xã hội đồng thời suy yếu, hệ thống có thể mất điểm tựa chính trị - xã hội và khả năng tự điều chỉnh trước những xung đột tích tụ.
Thứ tư, ổn định cứng nhắc và tâm lý né tránh rủi ro. Một bộ máy quá coi trọng an toàn thủ tục có thể tránh được những sai sót nhỏ nhưng lại bỏ lỡ những cơ hội lớn. Tâm lý “không làm thì không sai”, quy trình nhiều tầng nấc và trách nhiệm không rõ ràng khiến quyết định chậm hơn tốc độ biến đổi của thực tiễn - dạng ma sát đặc biệt nguy hiểm trong kỷ nguyên số, khi cơ hội công nghệ có vòng đời ngắn còn thể chế phản ứng chậm làm nguồn lực và nhân tài dịch chuyển sang môi trường thuận lợi hơn. Ổn định có giá trị phải là ổn định để hành động, không phải ổn định bằng cách trì hoãn hành động.
Bốn trạng thái trên cho thấy mục tiêu của quản trị không phải là giữ hệ thống đứng yên tại một điểm, cũng không phải đẩy biên độ vận động tới cực đại, mà là kiến tạo trạng thái “cân bằng động”: Hệ thống vận động mạnh, hấp thụ được cú sốc, có khả năng tự sửa sai và trở lại quỹ đạo phát triển mà không đánh mất các giá trị nền tảng - ổn định có năng lực phát triển và phát triển có năng lực tự ổn định, hai mặt thống nhất của cùng một quá trình biện chứng.
5. “Bộ tứ trụ cột” trong cấu trúc chuyển hóa năng lực phát triển
Từ cuối năm 2024 đến đầu tháng 5/2025, Bộ Chính trị đã ban hành bốn nghị quyết có ý nghĩa nền tảng: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Tổng Bí thư Tô Lâm gọi đây là “Bộ tứ trụ cột”
[9] và yêu cầu triển khai trong mối liên hệ chặt chẽ, gắn với các chỉ tiêu đánh giá cụ thể. Bốn nghị quyết không tương ứng cơ học với từng biến số của mô hình con lắc, mà hợp thành một cấu trúc chiến lược thống nhất: Bổ sung động lực mới, mở rộng không gian phát triển, giảm ma sát thể chế và phát huy vai trò của các chủ thể trực tiếp tạo ra động năng.
5.1. Nghị quyết số 57-NQ/TW: Tạo nguồn năng lượng mới cho hệ thống
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định phát triển quốc gia, là điều kiện tiên quyết và thời cơ để đất nước phát triển giàu mạnh, hùng cường - nguồn động lực mới có thể bù đắp sự suy giảm của các động lực truyền thống và nâng trần năng suất của toàn hệ thống, tác động đồng thời tới Nhà nước, thị trường và xã hội. Bổ sung động lực không đồng nghĩa gia tăng chi tiêu đơn thuần: Nguồn lực khoa học, công nghệ chỉ biến thành kết quả phát triển khi thể chế chấp nhận thử nghiệm, thị trường có năng lực hấp thụ, doanh nghiệp có động cơ đổi mới và xã hội có kỹ năng số; hiệu quả thực thi vì vậy phụ thuộc trực tiếp vào Nghị quyết số 66-NQ/TW về hành lang pháp lý, Nghị quyết số 68-NQ/TW về lực lượng doanh nghiệp và Nghị quyết số 59-NQ/TW về khả năng tiếp cận tri thức và mạng lưới đổi mới toàn cầu.
5.2. Nghị quyết số 59-NQ/TW: Mở rộng không gian phát triển và tăng năng lực thích ứng
Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt hội nhập quốc tế trong một tư duy mới: đồng bộ, chủ động, toàn diện, sâu rộng, chất lượng, hiệu quả; tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để củng cố nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao vị thế đất nước. Coi quốc gia là một hệ mở, hội nhập vừa mở rộng không gian vận động, tiếp nhận vốn, công nghệ, tri thức, tiêu chuẩn, cơ hội thị trường, vừa là kênh truyền dẫn cú sốc và áp lực cạnh tranh vào hệ thống. Nghị quyết số 59-NQ/TW, vì thế, không dừng ở yêu cầu “mở cửa”, mà nhấn mạnh nâng cao sức chống chịu, củng cố tự chủ chiến lược: không gian hội nhập càng rộng, năng lực nội sinh và cơ chế giảm chấn càng phải tăng cường tương xứng, chủ động tham gia định hình luật chơi thay vì chỉ tuân thủ.
5.3. Nghị quyết số 66-NQ/TW: Giảm ma sát, ổn định quỹ đạo và nâng hệ số chuyển hóa
Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển; yêu cầu hệ thống pháp luật phải dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi và kiến tạo phát triển. Đây là trụ cột tác động trực tiếp tới ma sát thể chế: một ý tưởng đổi mới, dự án đầu tư hay mô hình kinh doanh có thể bị triệt tiêu giá trị nếu phải đi qua những quy định chồng chéo, thủ tục bất định. Giảm ma sát không có nghĩa hạ thấp chuẩn mực quản lý, mà là chuyển từ kiểm soát bằng nhiều tầng thủ tục tiền kiểm sang quản lý rủi ro, hậu kiểm có trọng tâm, dữ liệu liên thông và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
5.4. Nghị quyết số 68-NQ/TW: Phát huy chủ thể tạo động năng của nền kinh tế
Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặt mục tiêu đến năm 2030 có 02 triệu doanh nghiệp hoạt động, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, tăng trưởng bình quân khoảng 10 - 12%/năm. Doanh nghiệp và người dân là những chủ thể trực tiếp chuyển hóa tiềm năng thành kết quả phát triển; song mở rộng không gian kinh doanh chỉ tạo ra kết quả khi quyền tài sản được bảo vệ, cạnh tranh bình đẳng, tiếp cận nguồn lực minh bạch. Phát triển kinh tế tư nhân đòi hỏi chuyển đổi vai trò Nhà nước: từ làm thay, cấp phát sang kiến tạo thể chế, cung cấp hàng hóa công và đồng hành với doanh nghiệp trên cơ sở pháp quyền.
5.5. Giá trị cộng hưởng: Từ bốn nghị quyết riêng lẻ đến một kiến trúc điều hành phát triển
Tính chỉnh thể của “Bộ tứ trụ cột” thể hiện ở quan hệ điều kiện và khuếch đại lẫn nhau giữa bốn nghị quyết. Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo động lực công nghệ mới, nhưng cần Nghị quyết số 66-NQ/TW để hình thành không gian pháp lý, Nghị quyết số 68 để doanh nghiệp thương mại hóa tri thức, Nghị quyết số 59-NQ/TW để kết nối thị trường và mạng lưới đổi mới toàn cầu. Nghị quyết số 68-NQ/TW mở rộng chủ thể và không gian thị trường, nhưng cần Nghị quyết số 66-NQ/TW để bảo vệ quyền và cạnh tranh, Nghị quyết số 57-NQ/TW để nâng cao năng suất, Nghị quyết số 59-NQ/TW để mở rộng quy mô, tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Do đó, không thể triển khai bốn nghị quyết như bốn chương trình hành chính song song, mà phải đặt trong một kiến trúc điều hành thống nhất, xem xét đồng thời: mức độ mở rộng không gian hành động; khả năng giảm ma sát pháp lý; năng lực huy động công nghệ, dữ liệu; và hiệu quả tận dụng hội nhập gắn với củng cố tự chủ.
6. Hoàn thiện mô hình con lắc trong quản trị phát triển
Từ những phân tích về mối quan hệ giữa “thế năng ổn định” và “động năng phát triển”, có thể hoàn thiện mô hình con lắc như một khung lý luận về quản trị phát triển, phản ánh bản chất của quá trình chuyển hóa liên tục giữa tích lũy và phát triển, giữa ổn định và đổi mới, giữa định hướng chiến lược và năng lực thích ứng. Khác với cách tiếp cận xem phát triển là kết quả của một chuỗi chính sách tuyến tính, mô hình con lắc nhấn mạnh tính hệ thống, tính động và khả năng tự điều chỉnh của toàn bộ cấu trúc quản trị quốc gia, trong đó năm thành phần liên kết hữu cơ, tác động qua lại, tạo thành một chu trình vận động liên tục.
6.1. Trục định hướng: Là điều kiện tiên quyết bảo đảm toàn bộ hệ thống vận động đúng phương hướng. Trong mô hình con lắc, trục không trực tiếp tạo ra chuyển động nhưng quyết định quỹ đạo dao động của toàn bộ hệ thống; tương tự, sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa giữ vai trò xác lập mục tiêu phát triển, định hướng chiến lược, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm kỷ cương pháp luật và thống nhất ý chí trong tổ chức thực hiện - nền tảng chính trị để các chủ thể phát huy sáng kiến nhưng vẫn vận động trong khuôn khổ lợi ích quốc gia, dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa.
6.2. Thế năng ổn định: Được hình thành từ sự tích lũy lâu dài của các nguồn lực phát triển, bao gồm chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, khoa học và công nghệ, vốn xã hội, niềm tin của nhân dân và năng lực chống chịu của nền kinh tế. Thế năng không đồng nghĩa với nguồn lực sẵn có, mà là năng lực phát triển đã được tích lũy nhưng chưa được chuyển hóa đầy đủ thành kết quả thực tiễn; một quốc gia có thế năng lớn chưa chắc đã phát triển nhanh nếu thiếu cơ chế giải phóng và chuyển hóa nguồn lực đó.
6.3. Quá trình chuyển hóa thế năng thành động năng: Được thúc đẩy đồng thời bởi bốn cơ chế chiến lược của “Bộ tứ trụ cột” đã phân tích ở mục 5: Nghị quyết số 57-NQ/TW bổ sung nguồn năng lượng mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW giảm ma sát thể chế; Nghị quyết số 68-NQ/TW giải phóng các chủ thể phát triển; Nghị quyết số 59-NQ/TW mở rộng không gian phát triển và sức chống chịu. Bốn cơ chế này không vận hành độc lập mà cộng hưởng lẫn nhau, cùng quyết định hệ số chuyển hóa của toàn hệ thống.
6.4. Động năng phát triển: Là kết quả của sự vận hành đồng bộ nêu trên, được biểu hiện bằng năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng dịch vụ công, giá trị công và mức sống của nhân dân. Động năng phát triển không chỉ phản ánh tốc độ vận động của nền kinh tế mà còn phản ánh chất lượng của toàn bộ hệ thống quản trị, bởi cùng một quy mô nguồn lực nhưng các quốc gia khác nhau có thể tạo ra mức động năng rất khác nhau tùy thuộc vào năng lực tổ chức và điều hành.
6.5. Cơ chế phản hồi và điều chỉnh: Bảo đảm hệ thống duy trì được trạng thái cân bằng động, bao gồm hệ thống dữ liệu quản trị, giám sát xã hội, đánh giá chính sách, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và năng lực tự điều chỉnh của bộ máy nhà nước. Phản hồi kịp thời giúp phát hiện sai lệch, điều chỉnh chính sách và khắc phục những điểm nghẽn trước khi chúng tích tụ thành rủi ro hệ thống - chính khả năng tự hiệu chỉnh này tạo nên sức sống của mô hình quản trị phát triển, bảo đảm hệ thống luôn vận động trong giới hạn an toàn nhưng không rơi vào trạng thái trì trệ.
Điểm quan trọng của mô hình là chu trình này không vận hành theo logic tuyến tính mà theo chu trình tuần hoàn động: động năng phát triển sau mỗi chu kỳ không kết thúc ở tăng trưởng kinh tế mà tiếp tục được tích lũy trở thành thế năng mới thông qua đầu tư cho thể chế, giáo dục, khoa học - công nghệ, hạ tầng và vốn xã hội. Phát triển, vì vậy, không phải là quá trình tiêu hao nguồn lực, mà là quá trình tái tạo, tích lũy và làm giàu liên tục năng lực phát triển quốc gia - duy trì cân bằng động giữa ổn định và đổi mới, giữa tích lũy và chuyển hóa, giữa năng lực nội sinh và cơ hội bên ngoài, nhằm bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Có thể khái quát: Một quốc gia phát triển nhanh và bền vững không phải là quốc gia sở hữu nhiều nguồn lực nhất, mà là quốc gia có năng lực cao nhất trong việc liên tục chuyển hóa thế năng ổn định thành động năng phát triển thông qua một thể chế có khả năng bổ sung năng lượng mới, giảm ma sát, mở rộng không gian phát triển và phát huy vai trò của mọi chủ thể xã hội.
Kết luận
Phát triển và ổn định từ lâu thường được nhìn nhận như hai trạng thái hoặc hai mục tiêu cần dung hòa trong quá trình quản trị quốc gia. Từ cách tiếp cận của mô hình con lắc, bài viết cho rằng đây không phải hai phạm trù đối lập mà là hai phương diện thống nhất của cùng một quá trình phát triển. “Thế năng ổn định” không phải là trạng thái tĩnh mà là năng lực được tích lũy trong thể chế, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, hạ tầng, vốn xã hội và niềm tin; “động năng phát triển” là sự hiện thực hóa năng lực đó thành năng suất, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng kinh tế, giá trị công và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Bản chất của quản trị phát triển, vì vậy, không nằm ở việc lựa chọn giữa ổn định hay đổi mới, giữa Nhà nước hay thị trường, mà ở năng lực tổ chức quá trình chuyển hóa liên tục từ thế năng ổn định thành động năng phát triển trong một trạng thái cân bằng động.
Đóng góp lý luận của bài viết thể hiện ở ba điểm. Thứ nhất, phát triển phép ẩn dụ con lắc từ hình ảnh minh họa thành khung phân tích quản trị phát triển, trong đó quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội được đặt trong một cấu trúc vận động thống nhất - ba cơ chế điều phối bổ sung, kiểm soát và hiệu chỉnh lẫn nhau, thay vì ba lĩnh vực tách biệt. Thứ hai, chuyển trọng tâm nghiên cứu từ các yếu tố đầu vào của phát triển sang cơ chế chuyển hóa nguồn lực, nhấn mạnh rằng chất lượng quản trị được quyết định không chỉ bởi quy mô nguồn lực mà còn bởi năng lực tổ chức, điều phối và phát huy hiệu quả của toàn hệ thống. Thứ ba, đề xuất mô hình con lắc quản trị phát triển hoàn chỉnh gồm năm thành phần liên kết hữu cơ - trục định hướng, thế năng ổn định, chuyển hóa năng lượng, động năng phát triển và cơ chế phản hồi - trong đó “Bộ tứ trụ cột” gồm các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 59-NQ/TW, 66-NQ/TW và 68-NQ/TW được khái quát thành bốn cơ chế vận hành tương ứng, góp phần tạo lập một khung lý luận thống nhất để nhận diện mối quan hệ nội tại giữa các chủ trương lớn của Đảng trong bối cảnh phát triển mới.
Về phương diện thực tiễn, mô hình con lắc gợi mở cách tiếp cận quản trị các mối quan hệ và toàn bộ quá trình chuyển hóa nguồn lực thành giá trị công, thay vì điều hành theo từng lĩnh vực hay chương trình riêng lẻ. Điều đó đòi hỏi Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, giảm ma sát trong thực thi chính sách, phát huy vai trò của doanh nghiệp và người dân, mở rộng không gian hội nhập, đồng thời xây dựng hệ thống dữ liệu, giám sát và phản hồi đủ mạnh để bảo đảm khả năng tự điều chỉnh của hệ thống; hiệu quả quản trị, theo đó, không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng mà còn bằng khả năng duy trì cân bằng giữa đổi mới và ổn định, giữa hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội, giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững.
Mô hình đề xuất không nhằm cơ học hóa các quy luật phát triển xã hội mà hướng tới cung cấp một khung tư duy phương pháp luận; đây cũng là giới hạn của nghiên cứu, khi mô hình mới dừng ở mức khái quát lý luận và cần tiếp tục được kiểm chứng qua các nghiên cứu thực nghiệm, xây dựng hệ thống chỉ báo đo lường và đánh giá tác động của từng thành tố trong những bối cảnh cụ thể. Bài viết kỳ vọng mô hình con lắc quản trị phát triển sẽ gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về lý thuyết chuyển hóa động năng phát triển, trong đó trọng tâm quản trị không còn là quản lý các nguồn lực riêng lẻ mà là nâng cao năng lực kiến tạo, kết nối và chuyển hóa liên tục các nguồn lực thành động lực phát triển quốc gia - yêu cầu cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,
tập 1. tr. 26.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.285 - 386.
[3] V.I. Lênin,
Toàn tập, tập 29, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1981, tr.
379 - 380.
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen,
Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994,
tr. 459 - 465.
[5] North, Douglass C.,
Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, Cambridge, 1990, tr. 7 - 9, 73 - 78.
[6] Đoàn Minh Huấn,
Những vấn đề đặt ra về xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quản lý phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản - Chuyên đề, số 1/2021, tr. 5-8.
[7] Đoàn Minh Huấn,
Phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng trong tiến trình chín mươi năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 935, tháng 2/2020, tr. 18 - 19.
[8] Financial Crisis Inquiry Commission,
The Financial Crisis Inquiry Report, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 2011.
[9] Tô Lâm,
Bốn nghị quyết đột phá là “Bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 18/5/2025.