Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua phân tích một số vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc nhằm đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đang được xây dựng và chuẩn bị trình Quốc hội thông qua.
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ tiếp cận tín dụng; pháp luật; bảo lãnh tín dụng; luật so sánh.
Abstract: This article examines the legal framework governing support for access to credit for small and medium-sized enterprises (SMEs) through an analysis of the concept, the current legal framework in Vietnam, and the experiences of the United States, Japan, and South Korea. Based on legal analysis, comparative legal research, and synthesis, the article aims to propose directions for improving Vietnam's legal framework in the context of the ongoing revision of the Law on Support for Small and Medium-Sized Enterprises.
Keywords: Small and medium-sized enterprises (SMEs); support for access to credit; legal framework; credit guarantee; comparative law.
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Đặt vấn đề
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng vẫn là một trong những rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp này do hạn chế về tài sản bảo đảm, thông tin tài chính, năng lực quản trị và bất cân xứng thông tin trên thị trường tín dụng. Thực tiễn lập pháp của nhiều quốc gia cho thấy, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động cấp tín dụng, Nhà nước sử dụng pháp luật để thiết lập các cơ chế và thiết chế hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV trên cơ sở nguyên tắc thị trường.
Tại Việt Nam, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho các chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thi hành, nhiều quy định đã bộc lộ những hạn chế trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và sự đổi mới của thị trường tài chính. Hiện nay, Dự thảo Luật Phát triển DNNVV thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đang được tiếp tục hoàn thiện, trong đó hỗ trợ tiếp cận tín dụng là một trong những nội dung trọng tâm với nhiều định hướng đổi mới về phương thức hỗ trợ, cơ chế chia sẻ rủi ro và căn cứ đánh giá tín dụng. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời đối chiếu với pháp luật Việt Nam, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình hoàn thiện Dự thảo Luật này cũng như nâng cao hiệu quả pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV.
2. Khái quát pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong nền kinh tế thị trường, tiếp cận tín dụng trước hết là quan hệ pháp lý phát sinh giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng trên cơ sở thỏa thuận, được quyết định bởi khả năng trả nợ, mức độ rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn của bên vay. Vì vậy, hoạt động cấp tín dụng về nguyên tắc phải tuân theo cơ chế thị trường và quyền tự chủ kinh doanh của TCTD. Tuy nhiên, thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, DNNVV luôn là nhóm doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại hơn trong việc tiếp cận tín dụng do quy mô vốn nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm, thông tin tài chính chưa đầy đủ và chi phí thẩm định tương đối cao. Những hạn chế này làm gia tăng tình trạng bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và TCTD, khiến nhiều DNNVV có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng vẫn khó tiếp cận nguồn vốn chính thức
[1]. Đây cũng được xem là một trong những biểu hiện của thất bại thị trường trong phân bổ tín dụng đối với khu vực DNNVV
[2].
Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia không lựa chọn việc Nhà nước trực tiếp cấp tín dụng hoặc can thiệp hành chính vào quyết định cho vay của TCTD, mà sử dụng pháp luật như một công cụ để khắc phục những rào cản của thị trường tín dụng. Thông qua pháp luật, Nhà nước thiết lập các thiết chế và cơ chế hỗ trợ nhằm giảm thiểu rủi ro, cải thiện chất lượng thông tin, đa dạng hóa phương thức đánh giá tín dụng và tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn của DNNVV
[3]. Theo cách tiếp cận này, hỗ trợ tiếp cận tín dụng không đồng nghĩa với bảo đảm doanh nghiệp được vay vốn mà là tạo lập các điều kiện để doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn trên cơ sở nguyên tắc thị trường
[4].
Từ đó có thể thấy, pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng không phải là pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của TCTD, mà là bộ phận các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động hỗ trợ của Nhà nước đối với quá trình tiếp cận tín dụng của DNNVV. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật này không phải là quyết định cho vay, mà là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước thiết lập và vận hành các công cụ hỗ trợ như bảo lãnh tín dụng, phát triển hệ thống thông tin tín dụng, hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, đa dạng hóa tài sản bảo đảm, chia sẻ rủi ro và các phương thức hỗ trợ khác nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV. Chính vì vậy, pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng có phạm vi điều chỉnh rộng hơn pháp luật ngân hàng thuần túy, bởi ngoài các quy định liên quan đến hoạt động tín dụng còn bao gồm các quy định về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, TCTD và các thiết chế hỗ trợ tài chính.
Quan niệm này cũng phù hợp với xu hướng hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam. Nếu Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 chủ yếu tập trung vào việc khuyến khích TCTD tăng dư nợ cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị và thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng, thì Dự thảo Luật Phát triển DNNVV đã mở rộng đáng kể nội hàm của hỗ trợ tiếp cận tín dụng. Theo đó, các biện pháp hỗ trợ không chỉ dừng lại ở bảo lãnh tín dụng mà còn hướng đến việc khuyến khích TCTD xem xét cấp tín dụng trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh, phương án mở rộng thị trường, dữ liệu, dòng tiền và chuỗi giá trị; đồng thời đa dạng hóa tài sản bảo đảm bằng động sản, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản hợp pháp khác
[5]. Cùng với đó, Dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện vai trò của Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV theo hướng tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro và phát triển các công cụ hỗ trợ tài chính mới. Điều này cho thấy tư duy lập pháp của Việt Nam đang chuyển từ việc hỗ trợ mở rộng tín dụng đơn thuần sang xây dựng một khuôn khổ pháp luật toàn diện hơn nhằm cải thiện các điều kiện tiếp cận tín dụng của DNNVV.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước thiết lập, tổ chức thực hiện và giám sát các cơ chế, thiết chế và công cụ hỗ trợ nhằm giảm thiểu các rào cản trong tiếp cận tín dụng, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của DNNVV, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp với quyền tự chủ trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD và yêu cầu an toàn của hệ thống tài chính. Theo cách tiếp cận này, mục tiêu của pháp luật không phải là bảo đảm mọi DNNVV đều được vay vốn mà là tạo lập một môi trường pháp lý minh bạch, công bằng và hiệu quả để mọi DNNVV có đủ điều kiện đều có cơ hội tiếp cận tín dụng trên cơ sở nguyên tắc thị trường.
3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ở Việt Nam, pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV không được điều chỉnh trong một đạo luật chuyên biệt mà được xây dựng theo mô hình pháp luật tổng hợp, bao gồm các quy định về hỗ trợ DNNVV, hoạt động ngân hàng và các thiết chế tài chính hỗ trợ của Nhà nước. Trong đó, Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 giữ vai trò là đạo luật trung tâm xác lập chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng; Luật Các TCTD năm 2024 quy định khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động cấp tín dụng và các chủ thể cung ứng tín dụng; Nghị định số 80/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hỗ trợ DNNVV; Nghị định số 34/2018/NĐ-CP quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; Nghị định số 39/2019/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển DNNVV (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 45/2024/NĐ-CP), cùng nhiều văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành có liên quan. Có thể thấy, thay vì lựa chọn cơ chế Nhà nước trực tiếp cung ứng tín dụng, pháp luật Việt Nam từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý theo hướng kết hợp giữa chính sách hỗ trợ của Nhà nước với cơ chế thị trường, thông qua việc phát triển các thiết chế tài chính, khuyến khích TCTD mở rộng khả năng cung ứng vốn và nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng của DNNVV.
Có thể nhận thấy, điểm tích cực của pháp luật hiện hành là đã hình thành được tư duy hỗ trợ tiếp cận tín dụng theo hướng Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động cấp tín dụng của TCTD. Điều 8 Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 được xem là hạt nhân của khuôn khổ pháp luật này khi định hướng các chính sách hỗ trợ tập trung vào ba nhóm giải pháp cơ bản.
Thứ nhất, nâng cao năng lực tiếp cận tín dụng của DNNVV thông qua hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý và minh bạch hóa thông tin tài chính. Đây là hướng tiếp cận phù hợp bởi khả năng tiếp cận tín dụng bền vững trước hết phải được xây dựng từ năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Thứ hai, thiết lập các cơ chế chia sẻ rủi ro, trong đó Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV được hình thành nhằm hỗ trợ những doanh nghiệp có dự án khả thi nhưng còn hạn chế về khả năng đáp ứng các điều kiện vay vốn.
Thứ ba, khuyến khích các TCTD mở rộng tín dụng đối với DNNVV thông qua các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời từng bước thúc đẩy việc xem xét cấp tín dụng trên cơ sở xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho thấy pháp luật Việt Nam không đồng nhất hỗ trợ tiếp cận tín dụng với việc Nhà nước trực tiếp cấp vốn, mà hướng tới việc tạo lập các điều kiện để DNNVV cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn từ thị trường tín dụng. Đây là định hướng phù hợp với nguyên tắc thị trường, vừa bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của TCTD, vừa tạo cơ sở để Nhà nước thực hiện vai trò hỗ trợ thông qua các công cụ pháp lý và thiết chế tài chính thay vì can thiệp vào quyết định cấp tín dụng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và sự đổi mới của thị trường tài chính, khuôn khổ pháp luật hiện hành về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV đã bộc lộ một số hạn chế. Rõ ràng, các quy định vẫn chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của mô hình tín dụng truyền thống, trong đó việc đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng còn phụ thuộc nhiều vào tài sản bảo đảm và thông tin tài chính của doanh nghiệp. Trong khi đó, đối với nhiều DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp đổi mới công nghệ hoặc doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, giá trị tín dụng không chỉ được thể hiện qua tài sản hữu hình mà còn thông qua dòng tiền, dữ liệu kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác. Những yếu tố này chưa được pháp luật hiện hành ghi nhận đầy đủ như một căn cứ quan trọng trong hoạt động hỗ trợ tiếp cận tín dụng.
Bên cạnh đó, các thiết chế hỗ trợ như Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV tuy đã được hình thành nhưng chưa tạo được cơ chế phối hợp hiệu quả với TCTD và các chủ thể liên quan trong việc chia sẻ rủi ro. Hệ thống pháp luật cũng chưa xây dựng được cơ chế đồng bộ về khai thác dữ liệu, đánh giá tín dụng và kết nối thông tin phục vụ hoạt động cấp tín dụng đối với DNNVV
[6]. Chính những hạn chế này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng mở rộng phương thức hỗ trợ tiếp cận tín dụng, đa dạng hóa căn cứ đánh giá tín dụng và tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với TCTD. Đây cũng là định hướng được thể hiện rõ trong Dự thảo Luật Phát triển DNNVV
[7], góp phần từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp luật phù hợp với sự phát triển của thị trường tín dụng hiện đại.
4. Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số nước về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và gợi mở cho Việt Nam
4.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ
Pháp luật Hoa Kỳ về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV được xây dựng trên quan điểm nhất quán rằng việc tiếp cận tín dụng trước hết phải được thực hiện thông qua cơ chế thị trường, còn sự can thiệp của Nhà nước chỉ được đặt ra khi thị trường không thể cung ứng tín dụng cho doanh nghiệp trong những điều kiện hợp lý. Quan điểm này được xác lập ngay trong Đạo luật Doanh nghiệp nhỏ (
Small Business Act), khi Quốc hội Hoa Kỳ tuyên bố chính sách của Chính phủ Liên bang là hỗ trợ, tư vấn, bảo vệ và tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ phát triển nhằm duy trì cạnh tranh tự do và tăng cường sức mạnh của nền kinh tế
[8].
Triết lý này được thể hiện rõ thông qua nguyên tắc “không thể tiếp cận tín dụng từ các nguồn khác” (
credit elsewhere) - một nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp luật hỗ trợ DNNVV tại Hoa Kỳ. Theo khoản 636(a)(1)(A) Đạo luật Doanh nghiệp nhỏ, không một khoản hỗ trợ tín dụng nào được thực hiện nếu doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn tín dụng từ khu vực tư nhân với các điều kiện hợp lý
[9]. Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại Mục 120.101, Tiêu đề 13 Bộ Quy tắc Liên bang Hoa Kỳ (
13 CFR §120.101), theo đó Cơ quan Quản lý doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ
(Small Business Administration
- SBA) chỉ hỗ trợ đối với những trường hợp tổ chức cho vay xác định doanh nghiệp không thể tiếp cận tín dụng từ các nguồn phi chính phủ với các điều kiện hợp lý sau khi đã xem xét toàn diện các yếu tố như đặc điểm ngành nghề, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, khả năng bảo đảm tiền vay, dòng tiền dự kiến và các yếu tố rủi ro khác
[10]. Như vậy, pháp luật Hoa Kỳ không trao cho doanh nghiệp quyền được vay vốn từ Nhà nước, mà chỉ trao cho doanh nghiệp cơ hội tiếp cận các cơ chế hỗ trợ khi thị trường tín dụng không thể cung ứng.
Trên cơ sở nguyên tắc đó,
SBA được thiết kế như một thiết chế thực thi chính sách thay vì một TCTD của Nhà nước. Chức năng chủ yếu của SBA là tổ chức thực hiện các chương trình hỗ trợ tiếp cận tín dụng, bảo lãnh các khoản vay, hỗ trợ kỹ thuật, quản lý chương trình và giám sát việc thực hiện chính sách; còn hoạt động thẩm định, quyết định cho vay và quản lý khoản vay vẫn thuộc về các TCTD tham gia chương trình. Cơ chế này bảo đảm sự phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh tiền tệ, đồng thời duy trì nguyên tắc thị trường trong quyết định cấp tín dụng. Chính vì vậy, mặc dù khoản vay có sự tham gia hỗ trợ của Nhà nước, trách nhiệm đánh giá khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro vẫn thuộc về bên cho vay, qua đó hạn chế tình trạng ỷ lại vào cơ chế bảo lãnh hoặc chuyển giao toàn bộ rủi ro sang khu vực công
[11].
Để hiện thực hóa chính sách hỗ trợ, pháp luật Hoa Kỳ phát triển nhiều chương trình tín dụng khác nhau, trong đó nổi bật là Chương trình cho vay 7(a), Chương trình cho vay 504 và Chương trình cho vay vi mô, đều được xây dựng trên cơ sở Mục 7 của Đạo luật Doanh nghiệp nhỏ và các quy định chi tiết tại Phần 120, Tiêu đề 13 Bộ Quy tắc Liên bang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý không nằm ở sự đa dạng của các chương trình, mà ở phương thức điều chỉnh pháp luật. Các chương trình này đều vận hành theo nguyên tắc sử dụng nguồn lực công để
chia sẻ rủi ro thay vì thay thế thị trường; Nhà nước không trực tiếp quyết định khoản vay mà tạo cơ chế để TCTD mạnh dạn mở rộng tín dụng đối với những DNNVV có khả năng phát triển nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tín dụng truyền thống. Cách tiếp cận này vừa mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV, vừa duy trì kỷ luật thị trường và bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính
[12].
4.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Pháp luật Nhật Bản về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV được xây dựng trên quan điểm Nhà nước có trách nhiệm thiết lập khuôn khổ pháp lý để bổ trợ cho thị trường tín dụng, qua đó khắc phục những hạn chế mà DNNVV thường gặp trong quá trình tiếp cận vốn. Quan điểm này được thể chế hóa trong
Đạo Luật cơ bản về DNNVV (Small and Medium-sized Enterprise Basic Act), theo đó Nhà nước và chính quyền địa phương có trách nhiệm xây dựng và thực hiện đồng bộ các chính sách nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của DNNVV, trong đó hỗ trợ tài chính và hỗ trợ tiếp cận tín dụng là một nội dung quan trọng
[13]. Khác với mô hình Hoa Kỳ, Nhật Bản không can thiệp trực tiếp vào quyết định cấp tín dụng mà xây dựng một hệ thống pháp luật hỗ trợ dựa trên sự phối hợp giữa Nhà nước, các TCTD và các thiết chế bảo lãnh tín dụng.
Trên cơ sở đó, Nhật Bản hình thành hệ thống bổ trợ tín dụng (Credit Supplementation System), được xem là trụ cột của pháp luật hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV. Hệ thống này được vận hành thông qua ba chủ thể chính gồm: TCTD, Hiệp hội Bảo lãnh tín dụng (Credit Guarantee Corporations - CGCs) và Công ty Tài chính Nhật Bản (Japan Finance Corporation - JFC). Theo đó, TCTD thực hiện thẩm định và quyết định cho vay; CGCs bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp; còn JFC thực hiện bảo hiểm đối với các khoản bảo lãnh theo quy định của
Luật Bảo hiểm tín dụng dành cho DNNVV (Small and Medium-sized Enterprise Credit Insurance Act)[14]. Cơ chế này giúp phân bổ rủi ro giữa nhiều chủ thể, qua đó tạo điều kiện để các TCTD mở rộng tín dụng đối với những DNNVV có phương án kinh doanh khả thi nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn theo phương thức truyền thống.
Điểm nổi bật của pháp luật Nhật Bản là cơ chế bảo lãnh tín dụng được thiết kế như một công cụ chia sẻ rủi ro chứ không phải cơ chế thay thế hoạt động thẩm định tín dụng. Trách nhiệm đánh giá khả năng trả nợ vẫn thuộc về TCTD, trong khi CGCs thực hiện đánh giá độc lập trước khi chấp nhận bảo lãnh. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ DNNVV tiếp cận tín dụng, vừa bảo đảm kỷ luật thị trường và an toàn của hệ thống tài chính. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng, hệ thống bảo lãnh tín dụng đã góp phần cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận vốn của DNNVV nhưng không làm suy giảm chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng
[15].
Bên cạnh cơ chế bảo lãnh, JFC còn thực hiện các chương trình tài chính chính sách nhằm hỗ trợ DNNVV trong các giai đoạn khó khăn hoặc các lĩnh vực ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản vẫn xác định rõ vai trò của JFC là bổ trợ cho khu vực tài chính tư nhân chứ không thay thế hoạt động của các ngân hàng thương mại. Chính sự kết hợp giữa bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm tín dụng và tài chính chính sách đã tạo nên một khuôn khổ pháp luật tương đối hoàn chỉnh, trong đó mỗi thiết chế thực hiện một chức năng riêng nhưng cùng hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV.
4.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Pháp luật Hàn Quốc về hỗ trợ tiếp cận tín dụng đối với DNNVV được xây dựng trên quan điểm Nhà nước có trách nhiệm chủ động kiến tạo hệ thống pháp lý và thiết chế tài chính nhằm khắc phục những hạn chế về khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV, đặc biệt là các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp khởi nghiệp. Hàn Quốc lựa chọn mô hình kết hợp giữa chính sách tín dụng, bảo lãnh tín dụng và bảo lãnh công nghệ trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất. Quan điểm này được thể hiện trong Luật Khung về DNNVV (Framework Act on Small and Medium Enterprises), theo đó Nhà nước có trách nhiệm xây dựng các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng độc lập và sáng tạo của DNNVV, đồng thời hoàn thiện các biện pháp về tài chính, tín dụng và bảo lãnh để nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp này
[16].
Hệ thống pháp luật không chỉ điều chỉnh quan hệ giữa doanh nghiệp và TCTD mà còn thiết lập một mạng lưới các thiết chế tài chính công có chức năng chia sẻ rủi ro và hỗ trợ quá trình đánh giá tín dụng. Trong hệ thống này, Quỹ Bảo lãnh tín dụng Hàn Quốc (Korea Credit Guarantee Fund - KODIT)vàCông ty Tài chính công nghệ Hàn Quốc (Korea Technology Finance Corporation - KIBO) giữ vai trò trung tâm, hoạt động trên cơ sở các đạo luật chuyên ngành nhằm thực hiện chức năng bảo lãnh tín dụng và bảo lãnh công nghệ đối với DNNVV
[17]. Điểm nổi bật của pháp luật Hàn Quốc là không giới hạn cơ chế hỗ trợ ở việc khắc phục tình trạng thiếu tài sản bảo đảm mà mở rộng sang hỗ trợ những doanh nghiệp có tiềm năng công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo Luật về Công ty tài chính công nghệ Hàn Quốc (
Korea Technology Finance Corporation Act), KIBO được thành lập nhằm ổn định và phát triển hệ thống bảo lãnh công nghệ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sở hữu công nghệ mới có thể tiếp cận tín dụng ngay cả khi chưa có đủ tài sản bảo đảm theo tiêu chuẩn truyền thống
[18]. Song song với cơ chế bảo lãnh công nghệ,
KODIT được thiết kế như một thiết chế bảo lãnh tín dụng quốc gia nhằm hỗ trợ các DNNVV gặp khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu về tài sản bảo đảm hoặc năng lực tín dụng. Theo cơ chế này, KODIT thực hiện thẩm định doanh nghiệp, phát hành chứng thư bảo lãnh và cam kết thanh toán thay cho doanh nghiệp khi phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh; trong khi quyết định cấp tín dụng vẫn thuộc về các TCTD. Quy trình này cho thấy pháp luật Hàn Quốc không chuyển giao toàn bộ rủi ro cho Nhà nước mà phân chia trách nhiệm giữa doanh nghiệp, tổ chức bảo lãnh và TCTD. Các TCTD vẫn phải thực hiện hoạt động thẩm định độc lập, còn KODIT chịu trách nhiệm đối với phần rủi ro đã cam kết bảo lãnh. Chính cơ chế phân bổ rủi ro này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV nhưng vẫn duy trì nguyên tắc an toàn của hệ thống tài chính
[19].
Một điểm đáng chú ý khác là pháp luật Hàn Quốc gắn hoạt động hỗ trợ tiếp cận tín dụng với mục tiêu phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bên cạnh các cơ chế bảo lãnh truyền thống, các thiết chế như KIBO còn phát triển hệ thống đánh giá công nghệ (Technology Appraisal System) để lượng hóa giá trị của công nghệ và tài sản trí tuệ trong quá trình xem xét bảo lãnh. Điều này giúp doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ cao có thể tiếp cận tín dụng ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mặc dù chưa hình thành đầy đủ tài sản hữu hình hoặc lịch sử tín dụng. Cách tiếp cận này phản ánh xu hướng hiện đại của pháp luật Hàn Quốc, theo đó việc hỗ trợ tiếp cận tín dụng không chỉ hướng tới giải quyết khó khăn về vốn mà còn trở thành công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
5. Một số bình luận và đề xuất trong bối cảnh Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa chuẩn bị trình Quốc hội thông qua
Nghiên cứu pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, mặc dù có sự khác biệt về mô hình tổ chức và công cụ hỗ trợ, nhưng đều thống nhất ở quan điểm coi hỗ trợ tiếp cận tín dụng là một bộ phận của chính sách phát triển DNNVV, được thực hiện thông qua các công cụ pháp lý nhằm khắc phục những hạn chế của thị trường thay vì thay thế cơ chế thị trường. Theo đó, pháp luật không đặt mục tiêu bảo đảm mọi DNNVV đều được vay vốn, cũng không can thiệp vào quyền tự chủ của TCTD trong hoạt động cấp tín dụng, mà tập trung tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận nguồn vốn trên cơ sở các tiêu chí minh bạch và cơ chế quản trị rủi ro phù hợp. Bên cạnh đó, xu hướng lập pháp hiện đại đều hướng tới việc đa dạng hóa các phương thức hỗ trợ thông qua cơ chế bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro, phát triển hệ thống thông tin tín dụng, đổi mới phương thức đánh giá tín dụng trên cơ sở dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và tài sản trí tuệ, đồng thời hình thành các thiết chế chuyên trách hỗ trợ DNNVV hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Có thể thấy, điểm chung của các mô hình này là chuyển trọng tâm từ việc hỗ trợ trực tiếp về nguồn vốn sang hoàn thiện thể chế và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp. Đây cũng là xu hướng lập pháp phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế số, góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ DNNVV, quyền tự chủ kinh doanh của TCTD và sự an toàn, ổn định của hệ thống tài chính.
Đối chiếu với thực trạng pháp luật Việt Nam và trong bối cảnh Dự thảo Luật Phát triển DNNVV thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đang được xây dựng, chuẩn bị trình Quốc hội thông qua, tác giả cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về hỗ trợ tiếp cận tín dụng theo các định hướng chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện quan điểm lập pháp về hỗ trợ tiếp cận tín dụng theo hướng khẳng định rõ vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Pháp luật cần nhất quán với nguyên tắc Nhà nước không thay thế cơ chế thị trường, không can thiệp vào quyền tự chủ của TCTD trong hoạt động cấp tín dụng, mà tập trung xây dựng các công cụ hỗ trợ nhằm khắc phục những hạn chế của thị trường và giảm bất cân xứng thông tin. Theo đó, hỗ trợ tiếp cận tín dụng cần được hiểu là việc tạo lập cơ hội để DNNVV có đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức, thay vì bảo đảm doanh nghiệp được vay vốn. Quan điểm này cần tiếp tục được thể hiện rõ hơn trong Dự thảo Luật Phát triển DNNVV nhằm tạo cơ sở thống nhất cho việc thiết kế và thực hiện các chính sách hỗ trợ.
Thứ hai, cần hoàn thiện các phương thức hỗ trợ tiếp cận tín dụng theo hướng phù hợp với sự phát triển của thị trường tín dụng hiện đại. Bên cạnh các biện pháp truyền thống như nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa tài chính và bảo lãnh tín dụng, pháp luật cần mở rộng căn cứ đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh, phương án mở rộng thị trường, dòng tiền, dữ liệu, chuỗi giá trị, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và các loại tài sản hợp pháp khác. Đồng thời, cần khuyến khích phát triển các phương thức cấp tín dụng dựa trên dữ liệu và công nghệ, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số của nền kinh tế. Những định hướng này không chỉ góp phần phản ánh đúng năng lực tạo lập giá trị của DNNVV mà còn phù hợp với nội dung sửa đổi Điều 8 của Dự thảo Luật Phát triển DNNVV.
Thứ ba, cần tiếp tục hoàn thiện và khai thác hiệu quả cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng đã được thiết lập theo Nghị định số 94/2025/NĐ-CP. Hiện cơ chế này áp dụng đối với ba nhóm giải pháp Fintech gồm chấm điểm tín dụng, chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và cho vay ngang hàng
[20]. Trên cơ sở kết quả thử nghiệm, có thể nghiên cứu mở rộng phạm vi đối với các mô hình hỗ trợ tiếp cận tín dụng dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các công nghệ mới khác khi có đủ cơ sở thực tiễn và yêu cầu quản lý. Qua đó, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tín dụng, vừa bảo đảm kiểm soát rủi ro và cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật.
Thứ tư, cần tiếp tục hoàn thiện các thiết chế hỗ trợ và cơ chế tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng. Theo đó, pháp luật cần tăng cường vai trò của Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Quỹ Phát triển DNNVV theo hướng trở thành các thiết chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và TCTD, thay vì chỉ hỗ trợ từng khoản vay riêng lẻ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, TCTD và các thiết chế hỗ trợ; thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ hoạt động thẩm định tín dụng; xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ trên cơ sở các tiêu chí định lượng cụ thể. Đây là những điều kiện quan trọng để bảo đảm các quy định của Dự thảo Luật sau khi được ban hành có thể triển khai thống nhất, hiệu quả và góp phần nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV trên thực tế.
6. Kết luận
Hỗ trợ tiếp cận tín dụng là một trong những chính sách quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của DNNVV. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, xu hướng chung của pháp luật hiện đại là Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào hoạt động cấp tín dụng mà tập trung hoàn thiện thể chế, thiết lập các cơ chế chia sẻ rủi ro, đa dạng hóa phương thức hỗ trợ và phát triển các thiết chế tài chính nhằm tạo điều kiện để DNNVV tiếp cận tín dụng trên cơ sở nguyên tắc thị trường.
Đối chiếu với pháp luật Việt Nam cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý hiện hành đã từng bước hình thành các cơ chế hỗ trợ cần thiết, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và thị trường tài chính hiện đại. Trong bối cảnh Dự thảo Luật Phát triển DNNVV thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017 đang được xây dựng, những kinh nghiệm quốc tế được phân tích trong bài viết có thể là nguồn tham khảo hữu ích cho việc hoàn thiện quan điểm lập pháp, phương thức hỗ trợ và các thiết chế hỗ trợ tiếp cận tín dụng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV ở Việt Nam./.
[1] Thorsten Beck, Asli Demirgüç-Kunt,
Small and Medium-Size Enterprises: Access to Finance as a Growth Constraint,
Journal of Banking & Finance, 30(11), 2006, p. 2931–2943.
[2] Gregory F. Udell,
SME Access to Intermediated Credit: What Do We Know and What Don't We Know?, Reserve Bank of Australia, Sydney, 2015, p. 61–109.
[3] OECD,
2022 Updated G20/OECD High-Level Principles on SME Financing, OECD Publishing, Paris, 2022, p. 5–14.
[4] Marek Hudon,
Should Access to Credit Be a Right?, Journal of Business Ethics, 84(1), 2009, p. 17–28.
[5] Bản so sánh, thuyết minh nội dung Dự thảo Luật Phát triển DNNVV với Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, ngày 14/8/2026, Điều 8, tr. 11–13.
[6] Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Hỗ trợ DNNVV, số 562/BC-BTC, ngày 17/7/2026, mục 3.1, tr. 13-16.
[8] Small Business Act, 15 U.S.C. §631(a), Declaration of Policy.
[9] Small Business Act, 15 U.S.C. §636(a)(1)(A), Credit Elsewhere.
[10] 13 CFR §120.101 - Credit not available elsewhere.
[11] U.S. Government Accountability Office,
Small Business Loans: Additional Actions Needed to Improve Compliance with the Credit Elsewhere Requirement, GAO-18-421, 2018.
[12] Small Business Act, 15 U.S.C. §636; xem thêm: Báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ về cải cách chương trình 7(a).
[13] Japan,
Small and Medium-sized Enterprise Basic Act (Act No. 154 of 1963, as amended).
[14] Japan,
Small and Medium-sized Enterprise Credit Insurance Act (Act No. 264 of 1950); Japan Finance Corporation,
JFC 2024: Small and Medium Enterprise Unit, Tokyo, 2024.
[15] Iichiro Uesugi, Koji Sakai, Guy M. Yamashiro,
The Effectiveness of Public Credit Guarantees in the Japanese Loan Market,
Journal of the Japanese and International Economies, 24(4), 2010, p. 457–480.
[16] Republic of Korea,
Framework Act on Small and Medium Enterprises, arts. 1, 3, 6.
[17] Ministry of SMEs and Startups,
Framework Act on Small and Medium Enterprises; Regional Credit Guarantee Foundation Act; Korea Technology Finance Corporation Act.
[18] Republic of Korea,
Korea Technology Finance Corporation Act, art. 1.
[19] Korea Credit Guarantee Fund (KODIT),
Credit Guarantee Services – Overview and Procedure.
[20] Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.