Đặt vấn đề
Nghề luật sư giữ vị trí đặc biệt trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và tạo lập niềm tin vào môi trường pháp lý. Trong bối cảnh Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu vào thị trường dịch vụ pháp lý quốc tế và chuyển đổi số, yêu cầu đối với luật sư không còn dừng ở kiến thức pháp luật và kỹ năng tranh tụng truyền thống mà mở rộng sang quản trị rủi ro, dữ liệu điện tử, công nghệ pháp lý, ngoại ngữ, đạo đức số và trách nhiệm xã hội. Giá trị nghề nghiệp vì vậy vừa gắn với năng lực phát triển nghề, vừa gắn với tinh thần cống hiến cho công lý và cộng đồng
[1].
Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã tạo nền tảng cho sự phát triển đội ngũ luật sư. Tuy nhiên, sau gần hai thập niên thi hành, nhiều quy định đã bộc lộ độ trễ so với pháp luật tố tụng, doanh nghiệp, giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và yêu cầu cạnh tranh. Chất lượng luật sư chưa đồng đều; năng lực hội nhập, đạo đức nghề nghiệp và cơ chế quản lý vẫn còn hạn chế
[2]. Luật Luật sư hiện hành cũng chưa cập nhật đầy đủ những thay đổi của hệ thống pháp luật sau năm 2012, làm phát sinh khoảng trống trong tổ chức thực hiện
[3].
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
[4] gồm 36 điều, lựa chọn cách tiếp cận cô đọng và tái cấu trúc nhiều chế định. Đây là cơ hội để xây dựng đạo luật vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa bảo vệ tính độc lập của luật sư; vừa nâng cao chất lượng đầu vào, vừa tạo điều kiện phát triển thị trường dịch vụ pháp lý. Bài viết góp ý các nội dung cụ thể của Dự thảo Luật và đề xuất phương án hoàn thiện để cụ thể hóa các chính sách xây dựng đạo luật và nâng cao hiệu quả thực thi khi được ban hành.
1. Bình luận một số quy định về tiêu chuẩn, quyền hành nghề của luật sư, chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý và sự tham gia của thành viên góp vốn trong công ty luật của Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)
Thứ nhất, về tiêu chuẩn trở thành luật sư.
Khoản 1 Điều 7 Dự thảo Luật quy định người muốn trở thành luật sư phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau đây: (i) Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực; (ii) Có bằng cử nhân luật, thạc sĩ luật hoặc tiến sĩ luật; (iii) Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề luật sư, trừ trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư; và (iv) Hoàn thành việc tập sự hành nghề luật sư, đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư, trừ trường hợp được miễn tập sự hành nghề luật sư.
So với Luật Luật sư hiện hành, một trong những nội dung mới đáng chú ý của Dự thảo Luật là việc bổ sung tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng”. Sự bổ sung này nhằm thể chế hóa yêu cầu tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới: “
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế”
[5]. Về chủ trương, việc đề cao bản lĩnh chính trị của luật sư là cần thiết. Luật sư không chỉ cung cấp dịch vụ pháp lý mà còn thực hiện chức năng xã hội, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích quốc gia và dân tộc
[6]. Trong quá trình hành nghề, luật sư thường xuyên phải đối diện với áp lực từ khách hàng, cơ quan tiến hành tố tụng, dư luận xã hội, lợi ích vật chất và những xung đột lợi ích phức tạp. Vì vậy, bản lĩnh của luật sư cần được thể hiện ở khả năng giữ vững tính độc lập nghề nghiệp, không bị chi phối bởi áp lực hoặc lợi ích không chính đáng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan, kiên quyết bảo vệ công lý và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng bằng các phương thức hợp pháp.
Theo cách tiếp cận này, “bản lĩnh chính trị vững vàng” không nên được hiểu đơn thuần là một yêu cầu về nhận thức hoặc quan điểm mang tính trừu tượng, mà cần được gắn với bản lĩnh nghề nghiệp và những hành vi có thể nhận biết, kiểm chứng trong thực tiễn. Một luật sư có bản lĩnh không phải là người né tránh những vụ việc khó khăn hoặc nhạy cảm, mà là người có đủ sự độc lập, dũng khí, tỉnh táo và trách nhiệm để tham gia giải quyết các vụ việc đó trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của khách hàng mà không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.
Tuy nhiên, Dự thảo Luật hiện chưa làm rõ nội hàm, tiêu chí nhận diện, phương thức đánh giá và chủ thể có thẩm quyền xác định một cá nhân có hay không có “bản lĩnh chính trị vững vàng”. Đây là hạn chế cần được xem xét thận trọng, bởi tiêu chuẩn này không chỉ được áp dụng tại thời điểm xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì quyền hành nghề của luật sư.
Cụ thể, điểm a khoản 3 Điều 11 Dự thảo Luật quy định người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư có thể bị thu hồi chứng chỉ nếu không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn luật sư. Như vậy, việc bị xác định là không còn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” có thể trở thành căn cứ thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư. Thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư là một biện pháp pháp lý nghiêm khắc, trực tiếp chấm dứt hoặc hạn chế khả năng tiếp tục hành nghề của cá nhân. Vì vậy, căn cứ thu hồi phải được quy định rõ ràng, có thể dự đoán trước và dựa trên các sự kiện, hành vi hoặc quyết định pháp lý có thể kiểm chứng. Nếu sử dụng một khái niệm mang tính định tính cao nhưng không kèm theo tiêu chí đánh giá cụ thể, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể đưa ra những cách hiểu khác nhau đối với cùng một hành vi. Điều này không chỉ dẫn đến nguy cơ áp dụng pháp luật thiếu thống nhất mà còn có thể ảnh hưởng đến tính độc lập nghề nghiệp, quyền giải trình và quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của luật sư.
Thứ hai, về bảo đảm quyền hành nghề của luật sư.
Điểm a và điểm d khoản 1 Điều 12 Dự thảo Luật quy định luật sư có quyền được pháp luật bảo đảm hoạt động hành nghề; được tiếp cận thông tin, thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan trực tiếp đến vụ án, vụ việc do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm thực hiện các quyền này, khoản 2 Điều 6 Dự thảo Luật nghiêm cấm cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư, bao gồm: Từ chối, trì hoãn, ngăn cản hoặc gây khó khăn trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng hoặc đại diện bảo vệ quyền lợi của khách hàng; can thiệp trái pháp luật vào hoạt động tố tụng, tư vấn pháp luật và cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư; gây áp lực, đe dọa hoặc sử dụng biện pháp trái pháp luật nhằm tác động đến tính độc lập, khách quan trong hoạt động hành nghề; xúc phạm nhân phẩm, uy tín, đe dọa hành hung hoặc gây thương tích cho luật sư và người thân của luật sư trong quá trình hành nghề. Đây là những quy định cần thiết, góp phần củng cố vị trí pháp lý, bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp và nâng cao vai trò của luật sư trong quá trình tranh tụng.
Tuy nhiên, Dự thảo Luật hiện mới dừng lại ở việc ghi nhận quyền của luật sư và xác định những hành vi bị nghiêm cấm mà chưa thiết lập đầy đủ cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền đó trên thực tế. Dự thảo Luật chưa quy định thời hạn để cá nhân, cơ quan, tổ chức phản hồi yêu cầu tiếp cận hoặc cung cấp thông tin của luật sư; chưa xác định rõ những trường hợp được quyền từ chối cung cấp; chưa bắt buộc việc từ chối phải được lập thành văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý và lý do cụ thể; đồng thời, chưa có cơ chế khiếu nại, kiến nghị hoặc xử lý nhanh trong trường hợp yêu cầu hợp pháp của luật sư bị trì hoãn, từ chối hoặc cản trở. Vì vậy, quyền tiếp cận thông tin và thu thập chứng cứ có nguy cơ chỉ mang tính nguyên tắc, phụ thuộc nhiều vào sự hợp tác của chủ thể đang quản lý tài liệu, dữ liệu.
Khoảng trống này càng đáng lưu ý đối với chứng cứ điện tử. Khác với tài liệu truyền thống, dữ liệu điện tử có thể bị chỉnh sửa, ghi đè, di chuyển hoặc xóa trong thời gian ngắn; việc tiếp cận còn phụ thuộc vào hệ thống thông tin, thiết bị và sự hợp tác của các tổ chức, doanh nghiệp hoặc bên thứ ba đang quản lý dữ liệu. Nếu không có cơ chế yêu cầu bảo toàn và cung cấp dữ liệu kịp thời, những thông tin quan trọng có thể bị mất trước khi luật sư có điều kiện thu thập, kiểm tra và sử dụng. Bên cạnh đó, luật sư có thể gặp khó khăn về kiến thức kỹ thuật, phương tiện chuyên môn cũng như phương pháp xác định nguồn gốc, tính toàn vẹn, độ tin cậy và chuỗi bảo quản của dữ liệu điện tử, từ đó ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa dữ liệu thu thập được thành chứng cứ hợp pháp trong tố tụng
[7].
Thứ ba, về chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý.
Dự thảo Luật quy định luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Dự thảo Luật cũng giải thích: “
Dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác được quy định tại Luật này”
[8]. Cụ thể hóa quy định này, Dự thảo Luật quy định luật sư Việt Nam được hành nghề trong phạm vi sau đây: (i) Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; (ii) Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; (iii) Thực hiện tư vấn pháp luật; (iv) Thực hiện dịch vụ pháp lý khác, bao gồm tư vấn soạn thảo tài liệu pháp lý, đại diện theo uỷ quyền và tư vấn thông tin pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
[9]. Còn luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam được hành nghề trong phạm vi: (i) Tư vấn pháp luật quốc tế, tư vấn pháp luật nước ngoài, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác liên quan đến pháp luật nước ngoài trong phạm vi hành nghề được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp phép hoặc công nhận; (ii) Tư vấn pháp luật Việt Nam trong trường hợp có bằng cử nhân luật của Việt Nam và đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện đối với luật sư Việt Nam quy định tại các điểm b, c, d khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật này, có phẩm chất đạo đức tốt, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực
[10]. Đồng thời, Dự thảo Luật cũng quy định rõ dịch vụ pháp lý chỉ được thực hiện bởi luật sư, nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư quảng bá, giới thiệu, sử dụng tên gọi gây nhầm lẫn, mạo danh luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi thuộc trường hợp này bị buộc chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
[11]. Quy định này nhằm mục đích ngăn chặn tình trạng các cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư nhưng vẫn cung cấp dịch vụ pháp lý dưới nhiều hình thức trong thực tế; góp phần bảo vệ quyền lợi của khách hàng, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và xây dựng thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, lành mạnh.
Tuy nhiên, quy định của Dự thảo Luật hiện hành lại có điểm chưa thống nhất với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật. Cụ thể, trong các hoạt động thuộc phạm vi “dịch vụ pháp lý” có dịch vụ “tư vấn pháp luật” hiện đang được điều chỉnh bởi Nghị định số 77/2008/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP). Theo nội dung của Nghị định này, Trung tâm tư vấn pháp luật được thực hiện tư vấn pháp luật; được cử luật sư làm việc theo hợp đồng cho Trung tâm tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đối với vụ việc mà Trung tâm thực hiện tư vấn pháp luật; được thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý
[12]. Người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm: (i) Tư vấn viên pháp luật; (ii) Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật; (iii) Cộng tác viên tư vấn pháp luật
[13]. Như vậy, ngoài luật sư thì tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên tư vấn pháp luật vẫn có quyền cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật. Đối chiếu quy định về chủ thể thực hiện dịch vụ pháp lý, cụ thể là dịch vụ “tư vấn pháp luật” giữa Dự thảo Luật và Nghị định số 77/2008/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP) đang có sự thiếu thống nhất. Vì vậy, Ban soạn thảo cần có quy định loại trừ đối với trường hợp cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật để bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Thứ tư, về sự tham gia của thành viên góp vốn trong tổ chức hành nghề luật sư.
Điều 19 Dự thảo Luật tiếp tục duy trì các hình thức tổ chức hành nghề luật sư gồm văn phòng luật sư và công ty luật. Trong đó, công ty luật có thể tổ chức theo mô hình công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Để phát triển được các tổ chức hành nghề luật sư thành các tổ chức hành nghề luật sư có quy mô lớn, chuyên nghiệp, Dự thảo Luật đã bổ sung quy định cho phép công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn không được làm người đại diện theo pháp luật, không được cung cấp dịch vụ pháp lý và không được tham gia hoạt động điều hành của công ty và giao cho Chính phủ quy định chi tiết việc tham gia góp vốn trong công ty luật.
Việc mở rộng khả năng tiếp nhận vốn là hướng tiếp cận hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý. Nguồn vốn bổ sung có thể giúp tổ chức hành nghề luật sư đầu tư vào công nghệ, bảo mật dữ liệu, tuyển dụng và đào tạo nhân lực, xây dựng hệ thống quản trị, mở rộng mạng lưới hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh. Để luật sư Việt Nam có thể cạnh tranh hiệu quả với luật sư ở các thị trường Đông Nam Á, châu Á và các thị trường phát triển khác, vấn đề không chỉ nằm ở năng lực cá nhân của các luật sư mà còn ở khung pháp luật về hoạt động hành nghề của luật sư
[14]. Vì vậy, vấn đề đặt ra không nhất thiết là cấm hoàn toàn nguồn vốn của người không hành nghề luật sư, mà là phải thiết kế được các “hàng rào nghề nghiệp” đủ mạnh để bảo đảm tính độc lập, liêm chính và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.
Tuy nhiên, quy định hiện nay mới chủ yếu kiểm soát sự tham gia trực tiếp và mang tính hình thức của thành viên góp vốn, chưa xử lý đầy đủ nguy cơ chi phối trên thực tế. Một nhà đầu tư dù không giữ chức danh quản lý vẫn có thể tác động đến hoạt động của công ty thông qua tỷ lệ sở hữu vốn, quyền biểu quyết, quyền phủ quyết, điều kiện giải ngân, thỏa thuận phân chia lợi nhuận, quyền tiếp cận thông tin, quyền yêu cầu thay đổi nhân sự hoặc các thỏa thuận nội bộ khác.
Đặc biệt, quy định quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn chủ yếu thông qua điều lệ công ty và thỏa thuận giữa các thành viên có thể dẫn đến tình trạng những giới hạn về tính độc lập nghề nghiệp bị thay đổi hoặc vô hiệu hóa bằng các thỏa thuận riêng. Trong khi đó, tính độc lập của luật sư không chỉ là vấn đề quản trị nội bộ mà còn là điều kiện để bảo vệ quyền lợi của khách hàng, bảo mật thông tin, kiểm soát xung đột lợi ích và duy trì niềm tin của xã hội đối với nghề luật sư. Vì vậy, những nguyên tắc cốt lõi không nên được giao hoàn toàn cho Chính phủ hoặc để các thành viên tự thỏa thuận mà cần được xác lập ngay trong Luật.
Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng chưa làm rõ khái niệm, điều kiện và giới hạn đối với “thành viên góp vốn”. Chẳng hạn, chưa xác định thành viên góp vốn có thể là cá nhân hay tổ chức; có được là khách hàng lớn, tổ chức tài chính, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoặc chủ thể có lợi ích liên quan đến các vụ việc của công ty luật hay không. Dự thảo Luật cũng chưa quy định nghĩa vụ công khai chủ sở hữu hưởng lợi, người có liên quan, nguồn vốn góp, thỏa thuận kiểm soát hoặc các quan hệ có khả năng làm phát sinh xung đột lợi ích.
2. Kiến nghị hoàn thiện quy định trong Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) về tiêu chuẩn, quyền hành nghề của luật sư, chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý và sự tham gia của thành viên góp vốn trong công ty luật
Một là,điểm a khoản 1 Điều 7 Dự thảo Luật bổ sung tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” để trở thành luật sư là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng nhưng cần làm rõ nội hàm của tiêu chuẩn này theo hướng gắn với bản lĩnh nghề nghiệp, tính độc lập, sự liêm chính, tinh thần tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và trách nhiệm bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, lợi ích quốc gia, dân tộc. Việc đánh giá tiêu chuẩn này phải dựa trên hành vi cụ thể, tài liệu và chứng cứ hợp pháp, không được căn cứ vào suy đoán, nhận xét chủ quan hoặc quan điểm pháp lý mà luật sư đưa ra trong quá trình hành nghề đúng pháp luật. Đồng thời, không nên sử dụng tiêu chuẩn “không còn bản lĩnh chính trị vững vàng” như một căn cứ độc lập để thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư nếu chưa có hành vi vi phạm cụ thể được xác định theo trình tự, thủ tục chặt chẽ. Dự thảo Luật cũng nên quy định rõ cơ quan có thẩm quyền đánh giá, trình tự xác minh, trách nhiệm giải trình và các quyền của luật sư như quyền được thông báo, tiếp cận hồ sơ, cung cấp chứng cứ, giải trình, khiếu nại và khởi kiện. Việc hoàn thiện theo hướng này vừa bảo đảm thể chế hóa yêu cầu xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh, đạo đức và trách nhiệm xã hội, vừa hạn chế nguy cơ áp dụng tùy nghi, bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp và quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư.
Hai là,Dự thảo Luật nên xem xét bổ sung cơ chế bảo đảm quyền hành nghề của luật sư theo hướng quy định rõ trách nhiệm và thời hạn của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc tiếp nhận, phản hồi và giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ; xác định cụ thể các trường hợp được từ chối trên cơ sở bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh và các lợi ích hợp pháp khác; đồng thời, yêu cầu mọi trường hợp từ chối hoặc cung cấp không đầy đủ phải được trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật. Dự thảo Luật cũng cần thiết lập cơ chế khiếu nại, kiến nghị khẩn cấp để luật sư yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét hành vi trì hoãn, từ chối hoặc cản trở trái pháp luật; quy định trách nhiệm xử lý đối với chủ thể vi phạm và cơ chế bồi thường khi hành vi cản trở gây thiệt hại. Riêng đối với dữ liệu, chứng cứ điện tử, cần bổ sung trong Dự thảo Luật quyền yêu cầu bảo toàn dữ liệu, tạm ngừng việc xóa hoặc thay đổi dữ liệu có liên quan; quy trình tiếp nhận, sao chép, niêm phong, xác thực và bảo quản dữ liệu nhằm bảo đảm tính toàn vẹn và giá trị chứng minh; đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp giữa luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức giám định, chuyên gia công nghệ và đơn vị quản lý hệ thống thông tin. Những quy định này sẽ giúp chuyển quyền hành nghề của luật sư từ sự ghi nhận mang tính nguyên tắc thành quyền có khả năng thực hiện và được bảo vệ hiệu quả trên thực tế, qua đó nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo đảm quyền bào chữa, quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và góp phần bảo vệ công lý.
Ba là,nên sửa đổi quy định của Dự thảo Luật theo hướng không quy định luật sư là chủ thể duy nhất được cung cấp mọi loại dịch vụ pháp lý, mà cần bổ sung ngoại lệ đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật chuyên ngành cho phép thực hiện tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý hoặc các dịch vụ pháp lý khác trong phạm vi chức năng, điều kiện và hình thức luật định. Theo đó, có thể bổ sung vào khoản 4 Điều 2 Dự thảo Luật như sau: “Dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác được quy định tại Luật này. Dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật này do luật sư thực hiện, trừ trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật khác cho phép thực hiện tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý hoặc dịch vụ pháp lý khác”.
Đồng thời sửa quy định về hành vi bị nghiêm cấm theo hướng chỉ áp dụng đối với cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư và không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép cung cấp dịch vụ pháp lý. Theo đó, cần điều chỉnh khoản 3 Điều 6 Dự thảo Luật như sau: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư và không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép cung cấp dịch vụ pháp lý quảng bá, giới thiệu, sử dụng tên gọi gây nhầm lẫn, mạo danh luật sư, tổ chức hành nghề luật sư hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi thuộc trường hợp này bị buộc chấm dứt hành vi vi phạm, bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Cách quy định này vừa bảo đảm ngăn chặn tình trạng mạo danh luật sư, hành nghề và cung cấp dịch vụ pháp lý trái phép, vừa duy trì cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp pháp của Trung tâm tư vấn pháp luật, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật và các chủ thể khác được pháp luật chuyên ngành thừa nhận; qua đó bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, tránh phát sinh xung đột trong áp dụng và không làm gián đoạn quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Bốn là, việc Dự thảo Luật cho phép công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thành viên góp vốn là hướng mở cần thiết, tạo điều kiện huy động nguồn lực để đầu tư công nghệ, phát triển nhân lực và nâng cao năng lực quản trị. Tuy nhiên, quy định hiện tại mới chỉ ngăn cấm sự can thiệp trực tiếp, trong khi thành viên góp vốn vẫn có thể tác động gián tiếp thông qua tỷ lệ sở hữu, quyền biểu quyết, quyền tiếp cận thông tin, điều kiện tài trợ hoặc thỏa thuận phân chia lợi nhuận. Do đó, nên xem xét bổ sung vào Dự thảo Luật các giới hạn cơ bản, gồm tỷ lệ sở hữu và quyền biểu quyết tối đa của thành viên không hành nghề; bảo đảm luật sư thành viên luôn nắm quyền kiểm soát thực tế; công khai chủ sở hữu hưởng lợi và các thỏa thuận có khả năng chi phối; tách biệt quyết định kinh doanh với quyết định chuyên môn; hạn chế quyền tiếp cận hồ sơ, dữ liệu khách hàng; đồng thời, ghi nhận quyền của luật sư từ chối các yêu cầu thương mại trái pháp luật, đạo đức nghề nghiệp hoặc lợi ích của khách hàng.
Kết luận
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính rõ ràng, thống nhất và khả thi. Trước hết, tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” cần được giải thích cụ thể, gắn với tính độc lập, liêm chính, tuân thủ pháp luật và trách nhiệm bảo vệ công lý; đồng thời, phải quy định rõ thẩm quyền, trình tự đánh giá và quyền giải trình, khiếu nại của luật sư. Bên cạnh đó, quyền hành nghề, tiếp cận thông tin và thu thập chứng cứ cần được bảo đảm bằng thời hạn phản hồi, nghĩa vụ trả lời bằng văn bản, cơ chế xử lý hành vi cản trở và biện pháp bảo toàn dữ liệu điện tử. Dự thảo Luật cũng cần bổ sung ngoại lệ đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật chuyên ngành cho phép cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật. Đối với thành viên góp vốn trong công ty luật, cần kiểm soát tỷ lệ sở hữu, quyền biểu quyết, khả năng tiếp cận thông tin và xung đột lợi ích để bảo vệ tính độc lập nghề nghiệp, bí mật khách hàng và sự phát triển bền vững của nghề luật sư./.
[1]Nguyễn Minh Hằng - Lê Mai Anh,
Nghề luật sư - Hành trình phát triển và cống hiến trong kỷ nguyên mới của dân tộc, Tạp chí Nghề luật, số 3, năm 2025, tr. 67-68.
[2]Trần Thị Thu,
Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, tập 9 (50), số 02, năm 2025, tr. 43-47.
[3]Phạm Minh Gia Ý,
Quy định chung về luật sư và hành nghề luật sư tại Việt Nam: Bất cập và kiến nghị, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Phan Thiết, tập 3, số 2, năm 2025, tr. 99-105.
[4] Dự thảo trình Chính phủ ngày 09/06/2026.
[5] Mục IV.7 Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[7]Ngô Thị Ngọc Vân - Nguyễn Hồng Sơn,
Kinh nghiệm của luật sư khi thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, Tạp chí Nghề luật, số 8, năm 2024, tr. 41.
[8] Khoản 4 Điều 2 Dự thảo Luật.
[9] Khoản 1 Điều 16 Dự thảo Luật.
[10] Khoản 1 Điều 16 Dự thảo Luật.
[11] Khoản 3 Điều 6 Dự thảo Luật.
[12] Điều 7 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP).
[13] Điều 18 Nghị định số 77/2008/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP và Nghị định số 18/2026/NĐ-CP).
[14] Nguyễn Hưng Quang,
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của luật sư Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,số 8, năm 2026, tr. 52.