Tóm tắt:Bài viết phân tích những điểm mới trong quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi); đồng thời, đánh giá những điểm còn hạn chế và đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định của Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) về vấn đề này.
Từ khóa: Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi); các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; quyền con người; hoàn thiện pháp luật.
Abstract: The article analyzes new points in the provisions on crimes infringing upon human life, health, dignity, and honor in the Draft Criminal Code (Amended). It also assesses existing limitations and proposes recommendations to continue perfecting the provisions of the Draft Criminal Code (Amended) on this matter.
Keywords: Draft Criminal Code (Amended); crimes infringing upon life, health, dignity, and honor; human rights; legal improvement
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Đặt vấn đề
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025) (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015) được ban hành đã thể chế hoá đường lối, chủ trương cải cách tư pháp của Đảng trong tình hình mới; khắc phục những hạn chế của BLHS năm 1999; góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thi hành, BLHS năm 2015 đã bộc lộ nhiều vướng mắc, hạn chế, đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện để đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ đất nước và phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm trong tình hình hiện nay.
Thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ Công an đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ việc xây dựng Hồ sơ chính sách, xây dựng Hồ sơ dự án, đến tiếp thu ý kiến góp ý và hoàn thiện Dự thảo BLHS (sửa đổi) gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Ngày 02/7/2026, Bộ Tư pháp đã tổ chức cuộc họp thẩm định đối với Hồ sơ Dự án BLHS (sửa đổi)
[1] với nhiều điểm mới về tội phạm và trách nhiệm hình sự (TNHS).
Đối với nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế của BLHS hiện hành. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Dự thảo BLHS (sửa đổi) về vấn đề này, các tác giả nhận thấy vẫn còn những hạn chế nhất định cần được tiếp tục hoàn thiện.
2. Một số điểm mới trong quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người theo Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
Thứ nhất, về cấu thành tội phạm: Đối với Tội giết người (Điều 123), Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã thay đổi cách xây dựng điều luật theo hướng xác định trước cấu thành cơ bản của tội phạm: "Người nào cố ý tước đoạt mạng sống của người khác trái pháp luật thì bị phạt tù từ 07 năm đến dưới 15 năm", sau đó mới quy định các trường hợp định khung tăng nặng tại khoản 2. So với quy định hiện hành, cách xây dựng này thể hiện sự thay đổi về kỹ thuật lập pháp, tách bạch rõ cấu thành cơ bản và các trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng, đồng thời phản ánh chính sách xử lý nghiêm khắc hơn đối với người đang trong quá trình bị quản lý bởi cơ quan nhà nước nhưng vẫn thực hiện hành vi đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với Tội mua bán người (Điều 150), Dự thảo BLHS (sửa đổi) không tiếp tục mô tả cụ thể các hành vi phạm tội như quy định của BLHS hiện hành mà quay trở lại quy định theo hướng khái quát tương tự Điều 119 BLHS năm 1999 trước đây. Cách quy định này có cơ sở nhất định bởi hành vi mua bán người đã được giải thích tương đối đầy đủ trong Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024. Việc không lặp lại các dấu hiệu hành vi trong BLHS góp phần hạn chế sự trùng lặp giữa các văn bản pháp luật, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đối với Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Dự thảo BLHS (sửa đổi) mở rộng phạm vi đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ thông qua việc sửa đổi quy định về đối tượng tác động của tội phạm thành “Tội mua bán người dưới 18 tuổi”. Đây là một thay đổi quan trọng, mở rộng phạm vi bảo vệ của pháp luật hình sự đối với trẻ em theo đúng khái niệm "trẻ em" trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 và Nghị định thư Palermo năm 2000. So với quy định hiện hành, sửa đổi này không chỉ mở rộng nhóm đối tượng được bảo vệ mà còn khắc phục sự chưa thống nhất giữa BLHS với các cam kết quốc tế, góp phần tăng cường bảo vệ người chưa thành niên trước nguy cơ bị mua bán, bóc lột và các hình thức xâm hại khác.
Thứ hai, về hình phạt: Dự thảo BLHS (sửa đổi) tiếp tục điều chỉnh chính sách hình phạt theo hướng tăng cường tính răn đe và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Mức hình phạt tiền của một số tội danh thuộc Chương XIV được điều chỉnh tăng gấp hai lần so với quy định hiện hành, bao gồm: Tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135), Tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136), Tội vô ý gây thương tích (Điều 138), Tội vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (Điều 139), Tội mua bán người (Điều 150), Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi (Điều 152), Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153), Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154), Tội làm nhục người khác (Điều 155) và Tội vu khống (Điều 156). Việc điều chỉnh này xuất phát từ thực tế mức phạt tiền được quy định trong BLHS năm 2015 không còn tương xứng với sự biến động của giá trị đồng tiền và điều kiện phát triển kinh tế, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Bên cạnh đó, Dự thảo BLHS (sửa đổi) cũng điều chỉnh tăng hình phạt tù đối với một số tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 155 về Tội làm nhục người khác, mức hình phạt được nâng từ 02 năm đến 05 năm tù lên 03 năm đến 07 năm tù; tại khoản 1 Điều 156 về Tội vu khống, mức hình phạt tù được nâng từ 03 tháng đến 01 năm lên 06 tháng đến 02 năm. Những sửa đổi này cho thấy xu hướng tăng cường bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người trước thực trạng các hành vi xúc phạm, bôi nhọ, vu khống ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt trên không gian mạng.
Thứ ba, về các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng mới trong Tội giết người (Điều 123) là phạm tội “Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang cai nghiện trong cơ sở cai nghiện công lập” tại điểm r khoản 2 Điều 123. Việc bổ sung tình tiết này nhằm tăng tính răn đe đối với trường hợp phạm tội giết người tại các môi trường đặc thù, nơi sự quản lý của Nhà nước cần được thực hiện nghiêm minh, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý các hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cao (người phạm tội trong các trường hợp trên cho thấy sự coi thường pháp luật, ý thức chấp hành kỷ luật kém, không có sự ăn năn, hối cải…).
Dự thảo BLHS (sửa đổi) mở rộng phạm vi truy cứu TNHS đối với hành vi chuẩn bị phạm tội đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội ở các tội xâm hại tình dục từ Điều 141 đến Điều 147 và các tội mua bán người (Điều 150, Điều 151). Đây là điểm mới đáng chú ý, thể hiện quan điểm xử lý tội phạm từ sớm, từ xa, tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm từ giai đoạn chuẩn bị.
Dự thảo BLHS (sửa đổi) cũng bổ sung quy định người phạm tội phải chịu TNHS đối với hành vi mua bán người dưới 18 tuổi kể từ khi nạn nhân còn là thai nhi trong Điều 151. Quy định này mở rộng phạm vi bảo vệ của pháp luật hình sự đối với trẻ em, đồng thời phản ánh sự điều chỉnh của pháp luật trước những phương thức phạm tội mới trong thực tiễn liên quan đến việc mua bán trẻ em ngay từ giai đoạn trước khi sinh ra.
Thứ tư, về vấn đề miễn TNHS: Dự thảo BLHS (sửa đổi) bổ sung hai trường hợp được miễn TNHS đối với Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145). Theo đó, người phạm tội có thể được miễn TNHS trong trường hợp “phạm tội do lạc hậu và được người bị hại hoặc người đại diện theo pháp luật của người bị hại đề nghị miễn TNHS”; hoặc “Do yếu tố khách quan dẫn đến nhận thức sai lầm về độ tuổi của bị hại là từ đủ 16 tuổi trở lên”. Đây là quy định mới, thể hiện sự phân hóa TNHS linh hoạt hơn, góp phần bảo đảm việc xử lý đúng bản chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Nhìn chung, các thay đổi trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay, góp phần hoàn thiện khung pháp lý, giúp hệ thống hình phạt trở nên nghiêm minh và sát thực tế hơn. Tuy nhiên, việc hoàn thiện pháp luật hình sự không chỉ để khắc phục những vướng mắc, khó khăn đã xảy ra mà còn phải dự liệu được những tình huống phức tạp có thể xảy ra trong tương lai; bảo đảm tính đồng bộ, chặt chẽ, khoa học; thể hiện đầy đủ chính sách pháp luật hình sự; bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự; phòng chống có hiệu quả tình hình tội phạm và phù hợp với yêu cầu hợp tác quốc tế về tư pháp hình sự. Trên cơ sở đó, các tác giả cho rằng, quy định của Dự thảo BLHS (sửa đổi) về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người vẫn còn những nội dung chưa phù hợp, cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi.
3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Dự thảo BLHS (sửa đổi)
Một là, cần tiếp tục chuẩn hóa cách sử dụng thuật ngữ định lượng tại Điều 123. Quy định tại Điều 123 (Tội giết người) vẫn còn tình tiết định khung tăng nặng chưa được định lượng bằng chữ số rõ ràng. Một trong những điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 là đã định lượng bằng chữ số một số thuật ngữ pháp lý để quy định của Bộ luật được hiểu một cách rõ ràng, cụ thể, tránh gây tranh cãi. Từ “nhiều người” được cụ thể thành “02 người trở lên”. Ở Tội giết người, tình tiết định khung tăng nặng “giết nhiều người” đã được đổi thành “giết 02 người trở lên” [điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS hiện hành và điểm a khoản 2 Điều 123 Dự thảo BLHS (sửa đổi)]. Tuy nhiên, tình tiết định khung tăng nặng “bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” [điểm l khoản 1 Điều 123 BLHS hiện hành và điểm l khoản 2 Điều 123 Dự thảo BLHS (sửa đổi)] lại chưa được sửa đổi. Như vậy, trong cùng một khung hình phạt mà 02 tình tiết định khung lại sử dụng 02 thuật ngữ khác nhau với nghĩa như nhau (“nhiều người” và “02 người trở lên”). Điều này một mặt cho thấy sự không thống nhất về kỹ thuật lập pháp; mặt khác có thể gây hiểu lầm hoặc tranh cãi rằng “nhiều người” khác “02 người trở lên”, 02 người có phải là nhiều người hay không? Vì vậy, cần sửa đổi quy định tại điểm l khoản 2 Điều 123 Dự thảo BLHS (sửa đổi) thành: “Bằng phương pháp có khả năng làm chết 02 người trở lên”. Quy định như vậy vừa tránh gây tranh cãi, vừa làm cho quy định tại Điều 123 thống nhất trong nội dung và tương thích với các điều luật khác của Dự thảo BLHS (sửa đổi).
Hai là, cần phân hóa rõ trách nhiệm hình sự tại Điều 124 về trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên. Quy định tại Điều 124 (Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ) chưa có sự phân hóa về hình phạt giữa trường hợp phạm tội thông thường và trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên. Trong các tội xâm phạm tính mạng của con người từ Điều 123 đến Điều 140, chỉ có Điều 124 là không quy định tình tiết định khung tăng nặng phạm tội đối với 02 người trở lên hoặc phạm tội làm chết 02 người trở lên. Theo đó, người mẹ giết con mới đẻ bị phạt tối đa 03 năm tù, người mẹ vứt bỏ con mới đẻ bị phạt tối đa 02 năm tù, không phụ thuộc vào việc người mẹ đã giết hoặc vứt bỏ bao nhiêu đứa con. Mặc dù giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được coi là trường hợp có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, do hoàn cảnh đặc biệt đưa lại, người phạm tội đã thực hiện trong tình trạng tâm sinh lí không bình thường, khả năng nhận thức và kiềm chế đều bị hạn chế nhưng cũng không nên vì thế mà không phân hóa TNHS trong trường hợp phạm tội với 02 người trở lên (trường hợp sinh đôi, sinh ba…). Vì rõ ràng, trường hợp phạm tội với 02 người trở lên thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn rất nhiều. Nếu so sánh với điều luật khác từ Điều 123 đến Điều 140 thì mức hình phạt đối với trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên hoặc phạm tội làm chết 02 người trở lên cao hơn hẳn so với trường hợp thông thường. Mặc dù trên thực tế có thể chưa ghi nhận trường hợp nào người mẹ giết hoặc vứt bỏ từ 02 con mới đẻ trở lên nhưng điều này là hoàn toàn có thể xảy ra. Quy định của pháp luật cần dự liệu được hết các tình huống có thể xảy ra trên thực tế.
Vì vậy, cần thiết phải bổ sung thêm 01 khoản tại Điều 124 quy định hình phạt trong trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên. Cụ thể:
“Điều 124. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ
1.…
2.…
3. Phạm tội đối với 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”.
Ba là, cần làm rõ tình tiết định khung tăng nặng tại điểm a khoản 2 Điều 130. Quy định tại Điều 130 (Tội bức tử) vẫn còn tình tiết định khung tăng nặng chưa rõ ràng. Cụ thể: Tội bức tử quy định hành vi “đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi, hoặc làm nhục người lệ thuộc mình” và quy định hậu quả “làm người đó tự sát” là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm (khoản 1 Điều 130). Trong khi đó, điểm a khoản 2 Điều 130 lại quy định tình tiết định khung tăng nặng “đối với 02 người trở lên”. Điều này sẽ dẫn đến khó hiểu: Có nhất thiết cả 02 người bị đối xử tàn ác, ức hiếp, ngược đãi…trở lên đều phải tự sát thì mới thuộc trường hợp phạm tội tại điểm a khoản 2 Điều 130 hay không? Ví dụ: Một người cha đã đối xử tàn ác, ngược đãi, thường xuyên đánh đập 02 người con của mình làm một trong 02 người con đó tự sát. Trường hợp phạm tội này có thuộc điểm a khoản 2 Điều 130 hay không?
So sánh với quy định tại Điều 131 (Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát), chúng ta thấy rằng, Điều 131 cũng quy định hậu quả nạn nhân tự sát là dấu hiệu bắt buộc. Đồng thời khoản 2 Điều 131 cũng quy định tình tiết định khung tăng nặng tương tự: “phạm tội làm 02 người trở lên tự sát”. Quy định này rất rõ ràng, dễ hiểu, tránh gây tranh luận không cần thiết. Vì vậy, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 130 nên sửa lại như quy định tại khoản 2 Điều 131: “phạm tội làm 02 người trở lên tự sát”. Sửa đổi này vừa giúp cho quy định của điều luật trở nên rõ ràng, tránh gây tranh cãi, vừa làm cho các điều luật có tính đồng bộ, tương thích với nhau về nội dung và kỹ thuật lập pháp.
Bốn là, cân nhắc việc bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai” và “tái phạm nguy hiểm” đối với một số tội danh cụ thể. Trong Chương XIV, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, tình tiết phạm tội với “phụ nữ mà biết là có thai” được quy định tại các điều luật: Điều 123 (Tội giết người), Điều 130 (Tội bức tử), 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác), Điều 137 (Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ), Điều 140 (Tội hành hạ người khác). Điều này cho thấy, nhà làm luật Việt Nam thừa nhận và bảo vệ một cách đặc biệt tính dễ bị tổn thương của phụ nữ mang thai, đồng thời coi hành vi xâm hại đối tượng này là tình tiết tăng nặng TNHS mang tính chất khách quan, xuất phát từ yêu cầu bảo vệ kép đối với cả người mẹ và thai nhi. Tuy nhiên, đối với Tội đe dọa giết người (Điều 133) và các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự, đặc biệt là các tội xâm hại tình dục, nhà làm luật lại không quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt. Khi người phụ nữ mang thai bị rơi vào tình trạng lo sợ, hoang mang, hãi hùng, bị xâm hại tình dục thì không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, sinh lý của bản thân mà còn có thể ảnh hưởng tiêu cực, thậm chí nguy hiểm cho sự phát triển bình thường của thai nhi… Trong khi đó, Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 ngay trong Phần mở đầu đã ghi nhận:
Ghi nhớ rằng, “
trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”
[2]. Vì vậy, cần bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai” vào các tội tại Điều 133,141, 142, 143, 144, 150, 151, 154
. Việc sửa đổi này sẽ giúp quy định của BLHS (sửa đổi) sau khi được ban hành bảo đảm thống nhất về kỹ thuật lập pháp, phù hợp với yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, đồng thời cũng thể hiện xu hướng phân hóa, quốc tế hóa trong Luật Hình sự, phù hợp với tinh thần Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 các điều 141, 142, 143, 144, 146 và 147 Dự thảo BLHS (sửa đổi) liên quan đến các tội xâm hại tình dục, nhà làm luật đều quy định tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm”, trong khi Điều 145 Dự thảo BLHS (sửa đổi) lại không ghi nhận tình tiết định khung này. Sự thiếu thống nhất trong kỹ thuật lập pháp nêu trên bộc lộ những bất cập nhất định, chưa bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống các quy định về tội phạm xâm hại tình dục, đồng thời chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phân hóa TNHS đối với tội danh này.
Năm là, cân nhắc
bổ sung điều luật riêng quy định về Tội làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân. Dự thảo BLHS (sửa đổi) chưa có quy định riêng đối với trường hợp này. Theo đó, người cố ý tước đoạt tính mạng của người khác dù cho là theo yêu cầu của nạn nhân vẫn phạm tội giết người và phải chịu hình phạt rất nghiêm khắc. Trong khi đó, thực tế đã xảy ra những trường hợp nạn nhân là người bị bệnh hiểm
nghèo, đau đớn về thể xác kéo dài, không còn khả năng cải thiện, chất lượng cuộc sống khổ sở… và thực sự mong muốn được chấm dứt cuộc sống, để “giải thoát” nỗi đau. Người phạm tội (thường là người thân của nạn nhân) vì thương xót và đồng cảm với nạn nhân, đồng thời thấy cũng không còn cách khác để cải thiện tình hình nên đã tước đoạt tính mạng của nạn nhân theo yêu cầu của họ. Như trường hợp được nêu trong Bản án số 466/2022/HS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
[3].
Tham khảo pháp luật của các quốc gia trên thế giới, cũng có những quốc gia quy định làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân là tội phạm độc lập (Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Sĩ) hoặc là tình tiết định khung giảm nhẹ của Tội giết người (Tây Ban Nha)
[4]. Thậm chí, nếu làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân thuộc trường hợp “an tử” (euthanasia) thì một số quốc gia không coi là tội phạm (Hà Lan, Bỉ, Albania, Luxembourg
…). Xu hướng đang diễn ra trên thế giới là an tử ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận hơn. “Quyền sống nên được coi là một quyền tùy nghi và nó không mâu thuẫn mà song hành với quyền an tử”[5]. Ở Việt Nam, hiện chưa cho phép “an tử”, nhưng theo các tác giả, cũng không nên vì thế mà coi trường hợp làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân như những trường hợp giết người thông thường. Vì rõ ràng động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội và tính chất nguy hiểm có nhiều điểm khác biệt so với giết người thông thường. Người phạm tội làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân cần được áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với những trường hợp thông thường.
Việc bổ sung điều luật riêng quy định về Tội làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân sẽ vừa thể hiện xu hướng nhân đạo hóa, vừa thể hiện xu hướng phân hóa TNHS, đồng thời cũng thể hiện xu hướng quốc tế hóa pháp luật hình sự. Tuy nhiên, việc bổ sung tội danh này cùng với việc ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng cần bảo đảm chặt chẽ, tránh trường hợp lợi dụng quy định để giết người mà nạn nhân không thực sự thể hiện được ý chí hoặc nạn nhân là người dưới 18 tuổi (chưa đủ trưởng thành để bày tỏ ý chí về một vấn đề quan trọng với cuộc sống của bản thân)… Với những phân tích như đã trình bày, có thể cân nhắc bổ sung điều luật cụ thể như sau:
“Điều 125 a. Tội làm chết người theo yêu cầu của nạn nhân
1. Người nào làm chết người theo yêu cầu nghiêm túc, khẩn thiết và rõ ràng của nạn nhân từ đủ 18 tuổi trở lên để giải thoát nạn nhân khỏi sự đau đớn kéo dài do mắc bệnh hiểm nghèo, không còn khả năng chữa trị thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội đối với 02 người trở lên thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.
Sáu là, hoàn thiện quy định tại Điều 134 nhằm truy cứu TNHS đối với trường hợp phạm tội chưa đạt. Quy định tại Điều 134 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến việc có thể truy cứu TNHS ngay từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội nhưng lại không thể truy cứu TNHS ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Cụ thể, khoản 6 Điều 134 quy định: “Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Quy định này giúp các cơ quan chức năng có thể ngăn chặn và xử lý người có hành vi cố ý gây thương tích ngay từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội, khắc phục được hạn chế của BLHS năm 1999 và phần nào đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, Điều 134 BLHS hiện hành và Dự thảo BLHS (sửa đổi) lại không hề có quy định về trường hợp người phạm tội sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc đã thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm và đã thực hiện hành vi gây thương tích nhưng chưa gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cụ thể:
- Khoản 1 Điều 134 quy định phải gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% (tức là phải có tổn thương cơ thể) nếu thuộc một số trường hợp luật định;
- Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 134 đều quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể tăng dần so với khoản 1 hoặc quy định hậu quả chết người;
- Khoản 6 Điều 134 là khoản duy nhất không quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể nhưng đây là khoản quy định về hành vi chuẩn bị phạm tội, tức là người phạm tội chỉ mới “tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm” chứ chưa thực hiện hành vi gây thương tích.
Quy định như trên của điều luật dẫn đến một điểm bất hợp lý là không thể truy cứu TNHS đối với tội phạm này ở giai đoạn phạm tội chưa đạt nhưng lại có thể truy cứu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Trong khi đó, giai đoạn phạm tội chưa đạt có tính chất nguy hiểm cao hơn so với giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Chẳng hạn, một người chuẩn bị hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho người khác nhưng chưa thực hiện hành vi đã bị phát hiện, ngăn chặn thì bị xử lý theo quy định tại khoản 6 Điều 134. Nhưng nếu họ đã sử dụng hung khí nguy hiểm đó để chém nạn nhân và nạn nhân tránh được, không có thương tích thì không thể xử lý họ theo khoản nào của điều luật vì các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 đòi hỏi phải có tỷ lệ tổn thương cơ thể, còn khoản 6 chỉ quy định trường hợp chuẩn bị phạm tội.
Vì vậy, cần sửa đổi quy định tại Điều 134 theo hướng đối với những hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc trước đó đã thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì dù không gây ra tổn thương cơ thể cho người khác vẫn cấu thành tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 134.
Theo đó, khoản 1 Điều 134 nên sửa lại như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; hoặc trước đó đã thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hoặc gây tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; hoặc gây tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”.
Bảy là, điều chỉnh chính sách hình sự nhằm tăng cường bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người trong môi trường số. Các quy định về Tội làm nhục người khác và Tội vu khống chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người trong môi trường số. Dự thảo BLHS (sửa đổi) chủ yếu điều chỉnh theo hướng tăng hình phạt đối với Tội làm nhục người khác và Tội vu khống, nhưng chưa có sự thay đổi tương ứng về chính sách hình sự. Các quy định hiện hành vẫn được xây dựng trên cơ sở các hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm trong không gian vật lý, trong khi thực tiễn cho thấy phần lớn các hành vi làm nhục, vu khống hiện nay được thực hiện thông qua mạng xã hội, nền tảng số hoặc công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI). Đặc điểm của các hành vi này là khả năng lan truyền nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng, hậu quả kéo dài và khó khắc phục hơn nhiều so với các hành vi truyền thống.
Bên cạnh đó, Dự thảo BLHS (sửa đổi) chưa phản ánh đầy đủ các hành vi lợi dụng công nghệ số để tạo lập hoặc phát tán thông tin, hình ảnh, video giả mạo (deepfake), công khai trái phép hình ảnh riêng tư hoặc tổ chức lan truyền thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Điều này cho thấy, chính sách hình sự vẫn chủ yếu hướng đến bảo vệ danh dự, nhân phẩm trong các quan hệ xã hội truyền thống mà chưa chuyển sang tư duy bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường số, chưa bảo đảm sự tương thích với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 và yêu cầu nội luật hóa Công ước Hà Nội về Chống tội phạm mạng.
Do đó, cần sửa đổi Điều 155 và Điều 156 theo hướng bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với hành vi “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử hoặc trí tuệ nhân tạo để phạm tội”; đồng thời, nghiên cứu bổ sung hành vi phát tán trái phép hình ảnh, dữ liệu cá nhân hoặc nội dung giả mạo nhằm xâm phạm danh dự, nhân phẩm như những phương thức phạm tội có tính nguy hiểm cao hơn trong bối cảnh chuyển đổi số.
Tám là, cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn. Một số quy định mới của Dự thảo BLHS (sửa đổi) chưa bảo đảm tính minh bạch, có thể gây khó khăn trong áp dụng pháp luật. Khoản 6 Điều 145 bổ sung các trường hợp miễn TNHS khi “phạm tội do lạc hậu” hoặc “do yếu tố khách quan dẫn đến nhận thức sai lầm về độ tuổi của bị hại”. Tuy nhiên, các khái niệm “phạm tội do lạc hậu” và “yếu tố khách quan” chưa được định nghĩa hoặc xác định tiêu chí áp dụng, dẫn đến nguy cơ cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Tương tự, tại Điều 151, việc bổ sung khoản 5: “Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều này đối với hành vi mua bán người từ khi còn đang là bào thai” thể hiện chính sách tăng cường bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, cũng sẽ phát sinh những vấn đề cần phải làm rõ như: thời điểm xác định thai nhi là đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ và các dấu hiệu pháp lý của hành vi mua bán trong trường hợp này, nếu không sẽ gây lúng túng trong quá trình áp dụng.
Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định này theo hướng cụ thể hóa ngay trong BLHS hoặc có hướng dẫn áp dụng thống nhất của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và khả thi của pháp luật.
3. Kết luận
Dự thảo BLHS (sửa đổi) đã có nhiều đổi mới quan trọng đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Những sửa đổi này góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, một số quy định của Dự thảo BLHS (sửa đổi) về vấn đề này vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo BLHS (sửa đổi) theo các kiến nghị nêu trên sẽ góp phần nâng cao tính khả thi, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người và hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay./.
[2] Xem tại: https://www.unicef.org/vietnam/vi/báo-cáo/công-ước-của-liên-hợp-quốc-về-quyền-trẻ-em.
[4] Hồ Sỹ Sơn,
Luật Hình sự so sánh, sách chuyên khảo dành cho học viên cao học, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr. 365, 368.
[5] Đào Trí Úc - Vũ Công Giao - Trương Thị Hồng Hà,
Quyền sống và hình phạt tử hình, sách tham khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr. 224.