Pháp luật về đại lý hải quan của Nhật Bản trong bối cảnh chuyển đổi số và khuyến nghị cho Việt Nam

04/08/2026

ThS. NCS. NGUYỄN XUÂN HƯỚNG

Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

Tóm tắt: Cùng với sự gia tăng về quy mô và tính phức tạp của hoạt động xuất nhập khẩu, hệ thống pháp luật hải quan cũng không ngừng được hoàn thiện theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Sự ra đời và phát triển của chế định đại lý hải quan trở thành một tất yếu khách quan nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hải quan một cách chính xác, nhanh chóng và tuân thủ pháp luật. Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, chuyển đổi số, hiện đại hóa hải quan và sửa đổi Luật Hải quan năm 2014, bài viết nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của đại lý hải quan ở nước ta.

Từ khóa: Chuyển đổi số, đại lý hải quan, pháp luật Nhật Bản.
Abstract:Along with the increase in scale and complexity of import-export operations, the customs legal system has been continuously perfected towards specialization, modernization, and enhanced application of information technology. The emergence and development of customs brokerage institutions have become an objective necessity to support businesses in performing customs procedures accurately, quickly, and compliantly. As Vietnam continues to implement international commitments on trade facilitation, digital transformation, customs modernization, and amendments to the 2014 Customs Law, this article examines Japan’s experience in order to contribute to the improvement of Vietnam’s legal framework and enhance the effectiveness of customs brokerage operations.
Keywords: Digital transformation, customs brokerage, Japanese law.
ĐẠI-LÝ-HẢI-QUAN.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1.      Đặt vấn đề
Toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử xuyên biên giới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động quản lý nhà nước về hải quan, vừa phải bảo đảm kiểm soát chặt chẽ, vừa phải tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trong bối cảnh đó, đại lý hải quan (ĐLHQ) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan chính xác, nhanh chóng mà còn được coi là “đối tác tuân thủ” của cơ quan hải quan, góp phần giảm thiểu sai phạm trong khai báo và thúc đẩy các mục tiêu tạo thuận lợi thương mại theo chuẩn mực quốc tế. Nhật Bản là quốc gia có nền thương mại quốc tế phát triển, đã xây dựng chế định pháp luật tương đối hoàn chỉnh về ĐLHQ, gắn liền với quá trình chuyển đổi số và hiện đại hóa hải quan. Tại Việt Nam, chế định ĐLHQ đã được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Hải quan năm 2001 và tiếp tục được kế thừa, bổ sung và hoàn thiện qua Luật Hải quan năm 2005 và 2014, song vẫn còn một số hạn chế về phạm vi hoạt động, cơ chế quản lý nghề nghiệp và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin. Trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế về tạo thuận lợi thương mại, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hải quan và sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan năm 2014, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống pháp luật về ĐLHQ phát triển như Nhật Bản, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Pháp luật về đại lý hải quan của Nhật Bản
Trên thế giới, ĐLHQ được xem là một chủ thể trung gian có tính chuyên nghiệp cao, thực hiện hoạt động đại diện cho chủ hàng trong việc khai báo, nộp hồ sơ và thực hiện các thủ tục với cơ quan hải quan. Không chỉ đóng vai trò cung cấp dịch vụ thương mại, ĐLHQ còn được coi là một “đối tác tuân thủ” của cơ quan hải quan, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm thiểu các sai phạm trong khai báo và thúc đẩy thực hiện các mục tiêu tạo thuận lợi thương mại theo các chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại năm 2014 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO Trade Facilitation Agreement)[1]. Chính vì vậy, nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, đã xây dựng chế định pháp luật tương đối hoàn chỉnh về ĐLHQ với các quy định chặt chẽ về điều kiện hành nghề, tiêu chuẩn chuyên môn, trách nhiệm nghề nghiệp, cơ chế giám sát và xử lý vi phạm.
2.1. Quá trình xây dựng pháp luật về đại lý hải quan của Nhật Bản
Sự hình thành chế định ĐLHQ tại Nhật Bản gắn liền với tiến trình hiện đại hóa nền hành chính hải quan sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai và sự phát triển nhanh chóng của hoạt động thương mại quốc tế. Trong giai đoạn tái thiết nền kinh tế, cùng với việc cải cách toàn diện hệ thống pháp luật hải quan, Nhật Bản nhận thấy hoạt động khai báo hải quan ngày càng mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi người thực hiện không chỉ am hiểu pháp luật hải quan mà còn phải có kiến thức về phân loại hàng hóa, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa và các quy định quản lý chuyên ngành. Trong bối cảnh đó, việc hình thành một đội ngũ trung gian chuyên nghiệp thực hiện thủ tục hải quan thay mặt doanh nghiệp được xem là giải pháp nhằm bảo đảm tính chính xác của hoạt động khai báo, giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Trong số các quốc gia có hệ thống pháp luật về ĐLHQ phát triển, Nhật Bản được đánh giá là một trong những mô hình điển hình ở khu vực châu Á. Ngay từ giữa thế kỷ XX, Nhật Bản đã ban hành đạo luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động của ĐLHQ, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc cấp phép, quản lý và giám sát hoạt động nghề nghiệp. Không giống nhiều quốc gia chỉ quy định rải rác trong Luật Hải quan, Nhật Bản xây dựng một đạo luật riêng về ĐLHQ (Customs Brokerage Act, 1967[2]), đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa đạo luật này với Luật Hải quan (Customs Act, 1954[3]) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967 thay thế cơ chế quản lý phân tán trước đây đối với những người thực hiện dịch vụ khai báo hải quan. Việc ban hành một đạo luật chuyên biệt cho thấy, nhà lập pháp Nhật Bản không coi ĐLHQ đơn thuần là một ngành nghề kinh doanh dịch vụ mà là một chủ thể có vai trò đặc biệt trong hệ thống quản lý hải quan quốc gia, cần được quản lý thông qua cơ chế cấp phép, tiêu chuẩn nghề nghiệp và chế độ trách nhiệm pháp lý riêng. Theo đó, ĐLHQ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản trị hải quan hiện đại. Điều 1 Luật này xác định mục đích của đạo luật là nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng đắn hoạt động kinh doanh ĐLHQ bằng cách thiết lập hệ thống cấp phép đối với hoạt động kinh doanh ĐLHQ và quy định các biện pháp cần thiết để quản lý hoạt động này; qua đó, góp phần bảo đảm việc thực hiện đúng đắn các thủ tục hải quan.
Trong các thập niên tiếp theo, cùng với quá trình tự do hóa thương mại và sự phát triển của logistics quốc tế, chế định ĐLHQ của Nhật Bản liên tục được sửa đổi để thích ứng với yêu cầu mới của quản lý hải quan. Các sửa đổi không làm thay đổi bản chất của chế định mà chủ yếu hướng tới đơn giản hóa thủ tục cấp phép, nâng cao tính chuyên nghiệp của người hành nghề, tăng cường trách nhiệm tuân thủ và thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông quan. Lịch sử sửa đổi của Luật ĐLHQ Nhật Bản cho thấy, đạo luật này được cập nhật thường xuyên nhằm bảo đảm sự phù hợp với những thay đổi của Luật Hải quan, các cam kết quốc tế và yêu cầu hiện đại hóa quản lý hải quan.
2.2. Nội dung pháp luật và tổ chức hoạt động của đại lý hải quan tại Nhật Bản
Thứ nhất, về phạm vi hoạt động của đại lý hải quan
Mặc dù Nhật Bản áp dụng chế độ ĐLHQ, nhưng việc sử dụng dịch vụ ĐLHQ là “tùy chọn” đối với các nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Các nhà nhập khẩu và xuất khẩu có thể chọn tự mình xử lý và tiến hành thủ tục thông quan mà không cần phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu hoặc tham gia kỳ thi/cuộc kiểm tra nào. Trên thực tế, cho dù việc sử dụng dịch vụ khai hải quan tại Nhật Bản là “tùy chọn” và làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tuy nhiên khoảng 98% thủ tục hải quan ở Nhật Bản được thực hiện bởi các ĐLHQ[4]. Tại Nhật Bản, ĐLHQ đóng vai trò điều phối viên chuỗi cung ứng. Tỷ lệ sử dụng ĐLHQ tại Nhật Bản rất cao là do rất ít ĐLHQ chỉ giới hạn hoạt động của mình ở phạm vi ĐLHQ. Hầu hết ĐLHQ tại Nhật Bản cung cấp các dịch vụ tiếp vận, như kho bãi và/hoặc vận chuyển. Các nhà nhập khẩu và xuất khẩu sử dụng ĐLHQ làm điều phối viên tiếp vận đối với hàng hóa trên lộ trình từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Cụ thể, theo quy trình nhập khẩu hàng hóa vào Nhật Bản, trước tiên hàng hóa được đưa vào khu vực do Hải quan kiểm soát, được khai báo nhập khẩu và sau đó được giải phóng và được đưa từ khu vực kiểm soát của Hải quan để vận chuyển đến người nhận hàng. Các nhà nhập khẩu khó có thể ủy quyền cho các bên khác nhau xử lý từng quy trình độc lập; vì vậy, hầu hết nhà nhập khẩu thường ủy quyền cho một Bên, thông thường là ĐLHQ để xử lý toàn bộ quy trình nhập khẩu như nêu trên[5]. ĐLHQ là những chuyên gia về thủ tục xuất nhập khẩu, nhu cầu sử dụng ĐLHQ vốn đã cao, nay lại càng tăng cao hơn nữa ở Nhật Bản. Mặc dù hệ thống thông quan hàng hóa ở mỗi nước là khác nhau, nhưng rõ ràng rằng việc sử dụng ĐLHQ đã mang lại những lợi ích tích cực trong quá trình thông quan hàng hóa, bảo đảm tốt hơn việc tuân thủ và nâng cao an toàn chuỗi cung ứng.
Thứ hai, về quản lý đại lý hải quan và ứng dụng chuyển đổi số
Tháng 3/2016, Hải quan Nhật Bản đã tiến hành sửa đổi các luật và quy định liên quan đến hải quan (có hiệu lực thi hành từ Quý III/2017)[6]. Trong đó, có một sửa đổi đặc biệt chú trọng đến Luật ĐLHQ, đặc biệt là về thủ tục cấp giấy phép. Theo pháp luật trước đây, một ĐLHQ chỉ được phép hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của khu vực nơi đại lý đó đã được đăng ký, do giấy phép hoạt động của đại lý được cấp bởi Cục trưởng Hải quan vùng đó. Theo Luật ĐLHQ sửa đổi, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản sẽ cấp giấy phép ở cấp quốc gia, tạo điều kiện cho các ĐLHQ được làm việc trên phạm vi toàn quốc với chỉ một giấy phép duy nhất. Cải cách này làm giảm đáng kể chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, tăng tính thống nhất của thị trường dịch vụ ĐLHQ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô kinh doanh của các doanh nghiệp logistics. Đây được xem là một trong những cải cách lập pháp tiêu biểu nhằm cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và mục tiêu tạo thuận lợi thương mại.
Ở Nhật Bản, để được hoạt động trong lĩnh vực ĐLHQ, công ty hoặc cá nhân phải được cấp giấy phép và được chứng nhận hoặc phải thuê nhân viên đã được chứng nhận là Chuyên gia hải quan (Registered Customs Specialists) - một cấp bậc được trao cho những người chuyên nghiệp đã đỗ kỳ thi quốc gia được tổ chức hằng năm. Kỳ thi này được tổ chức nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ tốt nhất dành cho các thương nhân và tỉ lệ tuân thủ cao dành cho cơ quan Hải quan. Ở những công ty cung cấp dịch vụ ĐLHQ, chỉ những chuyên gia này mới được kiểm tra và làm các hồ sơ liên quan đến quá trình thông quan hàng hóa. Theo số liệu do Hải quan Nhật Bản công bố ngày 01/4/2025[7], Nhật Bản có 988 doanh nghiệp kinh doanh khai báo hải quan, với 2.042 địa điểm kinh doanh trên toàn quốc. Lực lượng thực hiện nghiệp vụ khai báo hải quan gồm 16.712 người, trong đó có 8.340 Chuyên gia hải quan và 8.372 nhân viên thực hiện nghiệp vụ thông quan khác. Các số liệu này cho thấy hệ thống dịch vụ khai báo hải quan của Nhật Bản được tổ chức theo mô hình chuyên nghiệp, với đội ngũ Chuyên gia hải quan chiếm gần 50% tổng số lao động trực tiếp tham gia hoạt động khai báo hải quan. Cơ chế này góp phần duy trì chất lượng dịch vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp của nghề ĐLHQ và bảo đảm sự tin cậy của Cơ quan Hải quan đối với các chủ thể hành nghề.
Liên quan đến vấn đề đánh giá năng lực, Nhật Bản gần như không áp dụng một chương trình đo lường hiệu quả hoạt động chặt chẽ cho các ĐLHQ vì họ tin rằng, khung cấp phép hiện tại của mình đang mang lại kết quả mong muốn[8]. Nhật Bản quy định một số tiêu chí được xem xét, đánh giá trước khi cấp phép hoạt động và tổ chức hoạt động như: (i) Thế mạnh của tổ chức xin phép, năng lực và uy tín của tổ chức đó trong việc thực hiện các quy định về dịch vụ khai thuê hải quan[9]; (ii) Địa điểm kinh doanh nơi dự kiến thực hiện hoạt động ĐLHQ theo đơn xin cấp phép đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 13 Luật ĐLHQ năm 1967. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ĐLHQ phải bố trí ít nhất một Chuyên gia hải quan đã đăng ký tại mỗi địa điểm kinh doanh nơi thực hiện hoạt động ĐLHQ.
Sau khi được công nhận, các ĐLHQ phải nộp báo cáo hằng năm cho Bộ trưởng Bộ Tài chính, bao gồm các nội dung về số tác vụ ĐLHQ đã thực hiện, các khoản phí liên quan nhận được trong năm tài chính trước đó, tổng số tiền và hoạch toán chi phí liên quan đến hoạt động ĐLHQ trong năm tài chính trước đó, thông tin chi tiết về tài sản được sử dụng cho hoạt động ĐLHQ tính đến cuối năm tài chính và bất kỳ vấn đề liên quan nào khác[10]. Không có báo cáo tổng hợp và dữ liệu riêng lẻ từ các báo cáo này được cung cấp cho các ĐLHQ và công chúng.
Sự phát triển của chế định ĐLHQ tại Nhật Bản gắn liền với quá trình hiện đại hóa quản lý hải quan và chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Việc triển khai hệ thống thông quan điện tử NACCS (Nippon Automated Cargo and Port Consolidated System) đã tạo điều kiện để ĐLHQ thực hiện khai báo hoàn toàn bằng phương thức điện tử, giảm đáng kể thời gian thông quan và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp. Trong mô hình này, ĐLHQ không chỉ thực hiện các thủ tục khai báo mà còn tham gia tư vấn pháp lý về hải quan, hỗ trợ doanh nghiệp quản trị rủi ro, thực hiện các quy định về xuất xứ hàng hóa, trị giá hải quan, phân loại hàng hóa và tuân thủ các quy định quản lý chuyên ngành. Điều đó cho thấy phạm vi hoạt động của ĐLHQ ngày càng mở rộng theo hướng cung cấp dịch vụ và tư vấn chuyên nghiệp thay vì chỉ thực hiện các công việc mang tính kỹ thuật.
Thứ ba, về chế tài xử lý vi phạm
Nhật Bản cho phép tiến hành các biện pháp trừng phạt tiêu chuẩn khi các bên chịu sự điều chỉnh của Luật không đáp ứng nghĩa vụ của họ nhưng đồng thời cũng cho phép các hành động không có mục tiêu trừng phạt mà có tính hướng dẫn[11]. Theo Luật ĐLHQ, “nếu xét thấy cần thiết để bảo đảm hoạt động đúng đắn của ĐLHQ, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể ra lệnh cho ĐLHQ thực hiện trong phạm vi cần thiết các biện pháp để cải thiện hoạt động kinh doanh”[12]. Giấy phép ĐLHQ có thể đình chỉ hoặc bị thu hồi hoặc ĐLHQ có thể tự động mất đăng ký[13]. Một Chuyên gia hải quan đã đăng ký sẽ tự động mất trạng thái đã đăng ký nếu Chuyên gia hải quan ngừng tham gia thực hiện nghiệp vụ ĐLHQ cho một ĐLHQ được cấp phép; hoặc Chuyên gia hải quan ngừng tuân thủ các yêu cầu đăng ký ban đầu theo quy định; hoặc Chuyên gia hải quan bị phát hiện tham gia vào kỳ thi thông qua các phương tiện lừa đảo; hoặc quá trình xác minh dẫn đến việc sử dụng chức danh Chuyên gia hải quan đã đăng ký được thực hiện bằng sự lừa dối hoặc các phương tiện bất chính khác[14]. Khi Bộ trưởng Bộ Tài chính đang xem xét phương án xử lý một ĐLHQ, một ủy ban kiểm tra được thành lập để xem xét bằng chứng.
Mặc dù ở Nhật Bản, Luật ĐLHQ năm 1967 cho phép thực hiện các hoạt động hỗ trợ cải thiện hiệu suất bên cạnh các hành động trừng phạt, quy định về phạt tù đã tiến xa hơn một bước so với các quy định “dành cho ĐLHQ” thường thấy[15]. Các điều luật này quy định hình phạt “bằng cách phạt tù với thời gian làm việc không quá một năm hoặc phạt tiền không quá một triệu yên" đối với các vi phạm liên quan đến gian lận cấp phép, thực hiện hoạt động ĐLHQ ngoài những nghiệp vụ đã được cho phép, tiết lộ thông tin bí mật; hoạt động trong thời gian bị đình chỉ. Các Chuyên gia hải quan đã đăng ký phải chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật hình sự tương tự[16]. Luật cũng xác định các vi phạm cụ thể có thể chỉ bị phạt tiền. Các trường hợp này bao gồm: cho phép bất kỳ người nào khác sử dụng tên của ĐLHQ hoặc Chuyên gia hải quan đã đăng ký; sử dụng giả mạo chức danh ĐLHQ hoặc Chuyên gia hải quan đã đăng ký; không báo cáo theo quy định, báo cáo gian dối, không trả lời hoặc trả lời sai sự thật đối với các câu hỏi của công chức hải quan[17]. Khi vi phạm, bất kỳ nhân viên, ĐLHQ, hoặc đại diện của một pháp nhân được cấp phép làm ĐLHQ đều bị phạt tiền[18].
Thứ tư, về Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và Hiệp hội Đại lý hải quan
Quá trình thông quan hàng hóa đang ngày càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt trong việc phân loại hàng hóa, lựa chọn quy tắc xuất xứ để áp dụng và tính trị giá hải quan, đặc biệt là việc ngày càng nhiều các Hiệp định Đối tác kinh tế (EPAs) hoặc các Hiệp định Thương mại tự do (FTAs) có hiệu lực trong những năm gần đây. Số lượng của những trường hợp “khó” ngày càng tăng do môi trường kinh doanh phức tạp và đa dạng dẫn đến ĐLHQ được gửi gắm nhiều kỳ vọng[19]. Để bảo đảm an toàn và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu, từ năm 2008, Hải quan Nhật Bản đã mở rộng phạm vi áp dụng Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên (Authorized Economic Operator - AEO)[20] và cho phép ĐLHQ đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định được chứng nhận là AEO. Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy quản lý của Cơ quan Hải quan Nhật Bản, từ mô hình kiểm tra chủ yếu dựa trên giám sát trực tiếp sang mô hình quản lý dựa trên đánh giá mức độ tuân thủ và quản trị rủi ro. ĐLHQ không còn chỉ là người thực hiện khai báo thay doanh nghiệp mà trở thành một chủ thể góp phần bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng và nâng cao mức độ tuân thủ của khách hàng đối với pháp luật hải quan. Điều kiện để một ĐLHQ được công nhận là AEO cũng tương tự như điều kiện đối với người giao nhận vận tải, bao gồm ĐLHQ phải có kinh nghiệm ít nhất ba năm hoạt động, không vi phạm pháp luật hải quan, sử dụng hệ thống điện tử để thực hiện thủ tục hải quan, xây dựng chương trình tuân thủ…[21] Tính đến tháng 6/2026, có 264/988 (gần 27%) ĐLHQ được chứng nhận là AEO[22]. Trong trường hợp nhà nhập khẩu ủy quyền cho ĐLHQ được công nhận là AEO, nhà nhập khẩu vẫn có thể được hưởng các lợi ích cụ thể, ngay cả khi nhà nhập khẩu không phải là AEO như hàng hóa được giải phóng trước khi kê khai và nộp thuế…
Hiệp hội ĐLHQ Nhật Bản (JCBA)[23] được các ĐLHQ cùng nhau thành lập và quản lý có vai trò quan trọng trong việc phát triển và duy trì các kiến thức và kỹ năng của nhân viên ĐLHQ. JCBA chia sẻ thông tin về thủ tục hải quan với các thành viên của mình và tổ chức các hội thảo và khóa đào tạo. Trong cơ cấu tổ chức của mình, JCBA thành lập một số ủy ban như Ủy ban Chuyên gia hải quan hoặc Ủy ban Hàng hóa hàng không. JCBA cũng có vai trò quan trọng trong việc kịp thời cập nhật bất kỳ sửa đổi quy định pháp luật nào tới các thành viên, cũng như với từng hiệp hội ĐLHQ khu vực. Ngoài ra, JCBA có thể tham gia vào quy trình rà soát chính sách bằng cách gửi đề xuất và ý kiến thay mặt các thành viên của mình. Bên cạnh đó, JCBA có vai trò tích cực trong việc tuyên truyền các cải cách hoặc sửa đổi của pháp luật cho các thành viên của mình, cũng như với các hiệp hội môi giới hải quan khu vực khác[24].
Tựu trung lại, quá trình phát triển của chế định ĐLHQ tại Nhật Bản cho thấy ba xu hướng nổi bật: (i) Chuyên môn hóa bằng luật riêng, thay vì chỉ quy định trong Luật Hải quan; (ii) Chuyên nghiệp hóa đội ngũ hành nghề thông qua chế độ cấp phép và kỳ thi quốc gia; (iii) Hiện đại hóa phương thức quản lý theo hướng gắn kết ĐLHQ với quản trị rủi ro, chương trình AEO và hệ thống thông quan điện tử. Đây cũng là những xu hướng được WCO đánh giá là thông lệ tốt trong quản lý ĐLHQ, góp phần đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật và tạo thuận lợi thương mại quốc tế. Ở góc độ quản trị công, pháp luật Nhật Bản thể hiện xu hướng chuyển từ mô hình quản lý dựa chủ yếu vào kiểm tra trực tiếp sang mô hình quản lý dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và các chủ thể trung gian. ĐLHQ được xem là một mắt xích quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khai báo, giảm số lượng tờ khai sai sót và hỗ trợ cơ quan hải quan tập trung nguồn lực vào hoạt động quản lý rủi ro. Đây cũng là xu hướng đang được WCO khuyến nghị trong các tài liệu hướng dẫn về cải cách và hiện đại hóa hải quan, theo đó cơ quan hải quan cần tăng cường hợp tác với các chủ thể trung gian có năng lực nhằm bảo đảm cân bằng giữa mục tiêu kiểm soát và tạo thuận lợi thương mại.
3. Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về đại lý hải quan của Việt Nam từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay
Có thể thấy, ĐLHQ là một loại hình dịch vụ rất phát triển trong hoạt động xuất, nhập khẩu; một khâu trong chuỗi dịch vụ giao nhận hàng hóa mà nhiều nước (trong đó có Nhật Bản) đã áp dụng hiệu quả. Tại Việt Nam, chế định đại lý làm thủ tục hải quan đã được ghi nhận trong pháp luật từ nhiều năm trước và tiếp tục được hoàn thiện trong Luật Hải quan năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2022 và 2025) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia khác, hệ thống pháp luật Việt Nam về đại lý làm thủ tục hải quan vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi hoạt động của đại lý chưa thực sự rộng, số lượng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ còn khiêm tốn, cơ chế quản lý nghề nghiệp chưa thật sự chuyên nghiệp và vai trò của đại lý trong hỗ trợ tuân thủ pháp luật hải quan chưa được phát huy đầy đủ. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, có thể rút ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động ĐLHQ tại Việt Nam như sau:
Thứ nhất, xem xét mở rộng phạm vi hoạt động của ĐLHQ, không chỉ dừng lại ở hoạt động “khai thuê”. Cần xác định rõ địa vị pháp lý của ĐLHQ trong mối quan hệ với chủ hàng và cơ quan Hải quan, đặc biệt là mối quan hệ giữa hải quan với ĐLHQ. Cần có quy định cơ quan Hải quan được ủy quyền cho ĐLHQ thực hiện một số hành vi/nghiệp vụ quản lý trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở một thỏa thuận, cam kết hợp tác giữa cơ quan hải quan với ĐLHQ để phát huy vai trò “cánh tay nối dài” của cơ quan Hải quan. Bên cạnh đó, khái niệm ĐLHQ cần được quy định trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan[25] và nên dùng cụm từ “ĐLHQ” thay cho cụm từ “Đại lý làm thủ tục hải quan”[26] trong toàn bộ các văn bản pháp luật. Việc mở rộng phạm vi hoạt động của ĐLHQ sẽ góp phần nâng cao vai trò, thúc đẩy sự phát triển của ĐLHQ trong thực tế. Điều này đã được kiểm chứng thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc mở rộng phạm vi hoạt động của ĐLHQ theo hướng cung cấp dịch vụ và tư vấn chuyên nghiệp thay vì chỉ thực hiện các công việc mang tính kỹ thuật. Nhìn chung, ĐLHQ không chỉ là người thực hiện dịch vụ khai báo mà là chủ thể trung gian chuyên nghiệp, kết nối doanh nghiệp với cơ quan hải quan thông qua việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hải quan[27].
Thứ hai, việc cấp phép, chứng nhận ĐLHQ cần được thực hiện theo những tiêu chí và quy trình chặt chẽ để bảo đảm cho những ĐLHQ đủ năng lực và kinh nghiệm mới được phép thay mặt chủ hàng làm việc với cơ quan Hải quan. Theo đó, cần xây dựng hệ thống cấp phép hoạt động và chứng nhận chuyên môn theo mô hình hai tầng đối với ĐLHQ như quy định của pháp luật Nhật Bản. Tầng một là “điều kiện của doanh nghiệp” quy định ai được phép kinh doanh dịch vụ ĐLHQ, tầng hai là “tiêu chuẩn chuyên môn của cá nhân” quy định ai đủ năng lực thực hiện nghiệp vụ khai báo. Đây là phạm trù của pháp luật hành nghề chuyên môn, hoàn toàn không phải điều kiện kinh doanh. Mô hình hai tầng này tránh được tình trạng cơ quan quản lý nhà nước “mượn danh” tiêu chuẩn kỹ thuật để áp đặt thêm điều kiện gia nhập thị trường vượt quá khuôn khổ pháp luật. Điều 20 Luật Hải quan hiện hành (sửa đổi bởi Luật số 90/2025/QH15) bỏ các điều kiện gia nhập thị trường đối với ĐLHQ là bước đi phù hợp với chủ trương của Luật Đầu tư năm 2025 về việc bãi bỏ “kinh doanh dịch vụ khai hải quan” khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện[28]. Việc bỏ điều kiện kinh doanh này không đồng nghĩa với việc bỏ ngỏ hoàn toàn cơ chế bảo đảm năng lực hành nghề. Khoản 3 Điều 20 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan giao Bộ trưởng Bộ Tài chính “quy định tiêu chuẩn và quản lý hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan” theo một cách diễn đạt chưa phân định rõ ranh giới giữa “tiêu chuẩn hành nghề” và “điều kiện kinh doanh”. Đây là điều mà Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đã lưu ý tại Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, cho rằng quy định như dự thảo “có thể dẫn tới việc đặt ra các điều kiện kinh doanh mới”, đồng thời đề nghị chỉnh lý theo hướng Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật làm cơ sở cho công tác hậu kiểm, chứ không phải điều kiện tiền kiểm khi gia nhập thị trường[29]. Trên cơ sở này, tác giả khuyến nghị hoàn thiện Điều 20 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan[30] theo hướng: (i) Giữ nguyên định nghĩa đại lý làm thủ tục hải quan tại khoản 1, 2 theo hướng không đặt điều kiện gia nhập thị trường, bảo đảm nhất quán với Luật Đầu tư năm 2025; (ii) Bổ sung tại khoản 3 quy định giao Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ hành nghề áp dụng cho nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan, có tính chất là tiêu chuẩn hành nghề chuyên môn phục vụ công tác hậu kiểm, tương tự mô hình quản lý đại lý thuế đã được quy định tại Luật Quản lý thuế năm 2025[31], theo đó cá nhân hành nghề đại lý thuế phải có chứng chỉ hành nghề riêng dù doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đại lý thuế không phải là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; (iii) Nghiên cứu lộ trình xây dựng kỳ thi chứng nhận nghiệp vụ khai hải quan ở cấp quốc gia, tiến tới hình thành đội ngũ nhân viên ĐLHQ có chứng chỉ hành nghề thống nhất trên toàn quốc, tương tự chế định “Chuyên gia hải quan” của Nhật Bản đã trình bày ở trên. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm không tái lập điều kiện kinh doanh trái với chủ trương cải cách hiện hành, vừa đáp ứng đúng tinh thần góp ý của cơ quan thẩm tra Quốc hội, đồng thời có tiền lệ trong nước (đại lý thuế) để bảo đảm tính khả thi và nhất quán của hệ thống pháp luật[32].
 Thứ ba, tiếp tục sửa đổi, bổ sung cơ chế để triển khai áp dụng công nhận doanh nghiệp ĐLHQ là một AEO. Khi doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện về tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế, kim ngạch, số lượng lô hàng đã khai báo tuân thủ pháp luật hải quan... thì được công nhận là ĐLHQ ưu tiên, đồng nghĩa với việc được hưởng các chế độ ưu tiên[33]. Không nên quy định chế độ ưu tiên đối với ĐLHQ tương đồng với chế độ ưu tiên áp dụng cho doanh nghiệp xuất, nhập khẩu và cân nhắc xem xét quy định vấn đề chủ hàng hóa, chủ phương tiện cũng được hưởng chế độ ưu tiên khi ủy quyền cho đại lý ưu tiên làm thủ tục hải quan.
Thứ tư, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc áp dụng công nghệ thông tin, cơ sở vật chất cùng với việc chuyển đổi số đối với ngành hải quan nói chung và hoạt động của ĐLHQ nói riêng là xu hướng tất yếu. Từ kinh nghiệm của Nhật Bản, Hải quan Việt Nam cần có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp là ĐLHQ phát triển cũng như ứng dụng các nền tảng công nghệ trong quản lý hoạt động của ĐLHQ. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp làm ĐLHQ tham gia nền tảng số, ứng dụng công nghệ trong chuyển đổi số để có thể tương thích với hệ thống VNACCS/VICS của ngành, và thực hiện việc quản lý số một cách dễ dàng. Theo đó, các văn bản pháp luật về ĐLHQ cần xác định rõ vai trò phối hợp, hỗ trợ của cơ quan hải quan trong việc kết nối, trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan với ĐLHQ gồm kết nối kỹ thuật và trao đổi dữ liệu nghiệp vụ. Đối với kết nối kỹ thuật như thiết lập giao diện kỹ thuật giữa hệ thống công nghệ thông tin, sử dụng các chuẩn giao tiếp dữ liệu (API, Web Service, EDI...), bảo đảm khả năng tích hợp, truy xuất và xử lý dữ liệu đồng bộ giữa cơ quan hải quan với ĐLHQ. Đối với trao đổi dữ liệu nghiệp vụ, cần có quy định cụ thể về danh mục dữ liệu bắt buộc chia sẻ và dữ liệu chia sẻ theo thỏa thuận. Từ đó, xác định rõ trách nhiệm của ĐLHQ và cơ quan hải quan[34].
Thứ năm, khuyến khích, xây dựng Hiệp hội ĐLHQ theo mô hình của Nhật Bản. Đây sẽ là tổ chức thay mặt cộng đồng ĐLHQ để thông tin về nhu cầu, vướng mắc và kiến nghị với cơ quan Hải quan. Việc thành lập Hiệp hội ĐLHQ góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, bài bản và tăng cường tính tổ chức của ĐLHQ, đóng góp tích cực cho quá trình thuận lợi hóa thương mại của cơ quan Hải quan.
4. Kết luận
Từ kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản cho thấy, để chế định ĐLHQ phát huy hiệu quả trong bối cảnh chuyển đổi số, pháp luật cần được xây dựng theo hướng chuyên môn hóa bằng các quy định phù hợp, chuyên nghiệp hóa đội ngũ hành nghề thông qua chế độ cấp phép và kỳ thi quốc gia, đồng thời gắn kết chặt chẽ với quản trị rủi ro, chương trình doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và hệ thống thông quan điện tử. Đây cũng là những thông lệ tốt được WCO khuyến nghị, góp phần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu quản lý nhà nước và tạo thuận lợi thương mại điện tử xuyên biên giới. Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan năm 2014 và đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan, việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Nhật Bản về mở rộng phạm vi hoạt động, xây dựng cơ chế cấp phép hai tầng, phát triển chương trình ĐLHQ ưu tiên, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử và xây dựng hiệp hội nghề nghiệp là cần thiết, phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan./.

 


[1] Xem nội dung Hiệp định này tại địa chỉ: Văn kiện Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại (TFA), https://trungtamwto.vn/chuyen-de/10269-hiep-dinh-thuan-loi-hoa-thuong-mai-tfa, truy cập ngày 01/7/2026.
[2] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.kanzei.or.jp/kanzei_law/342AC0000000122.en.html, truy cập ngày 20/7/2026. Luật này được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, trong đó 2 lần gần nhất là năm 2016 (Act No. 108 of November 28, 2016) và năm 2022 (Act No. 68 of June 17, 2022).
[3] Xem bản tiếng Nhật và tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.japaneselawtranslation.go.jp/en/laws/view/3703, truy cập ngày 20/7/2026. Luật này được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, gần nhất là năm 2025 (Act No. 16 of March 31, 2025).
[4] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, Báo cáo tổng hợp Đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số”, Mã số: BTC/ĐT/2024-02, Hà Nội, 2025, tr. 44-45.
[5] Xem thêm: Sách điện tử về Thủ tục hải quan khu vực Đông Á: Quy định về thủ tục hải quan Nhật Bản, nguồn: https://trungtamwto.vn/file/20225/japan--vie.pdf, truy cập ngày 15/7/2026.
[6] Shoichi Sudo, An Overview of Japan's Customs Brokerage Legislation, WCO News No. 81, World Customs Organization, 2016, pp. 44-45, https://www.wcoomd.org/-/media/wco/public/global/pdf/media/wco-news-magazines/wco_news_81.pdf, truy cập ngày 10/7/2026.
[7] Xem bản tiếng Anh của Thông báo tại địa chỉ: https://www.customs.go.jp/english/c-answer_e/sonota/9104_e.htm, truy cập ngày 20/7/2026.
[8] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tlđd, tr. 46.
[9] Khoản (i), (ii) Điều 5 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[10] Khoản 3 Điều 22 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967; Submission of Annual Reports on the Number of Customs Clearance Cases Handled and the Amount of Their Charges; Business Report of Customs Brokerage (Customs Form B No. 1190).
[11] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tlđd, tr. 47.
[12] Điều 33-2 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[13] Điều 10 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[14] Điều 32 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[15] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tlđd, tr. 48.
[16] Điều 41 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[17] Điều 43, 44 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[18] Điều 45 Luật ĐLHQ Nhật Bản năm 1967.
[19] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tlđd, tr. 49.
[20] Xem bản tiếng Anh tại địa chỉ: https://www.customs.go.jp/english/aeo/index.htm, truy cập ngày 01/7/2026. Xem thêm: Harumi Chikada (September 2010), AEO Program in Japan, https://www.carecprogram.org/uploads/Day2-JPN-Customs-AEO-Program.pdf, truy cập ngày 01/7/2026.
[21] Nguồn: Luật Hải quan Nhật Bản năm 1954; AEO Operational Guidelines; Check Sheet for the Compliance Program; Shoichi Sudo (2016), tlđd.
[22] Nguồn: https://www.customs.go.jp/zeikan/seido/kaizen.htm, truy cập ngày 20/7/2026.
[23] Trang thông tin điện tử của Hiệp hội: https://www.tsukangyo.or.jp/pages/52/, truy cập ngày 20/7/2026.
[24] Cục Hải quan - Bộ Tài chính, tlđd, tr. 50
[25] Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan kèm theo Tờ trình số 376/TTr-CP ngày 03/7/2026 của Chính phủ.
[26] Nguyễn Thị Thương Huyền, Phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra, https://phapluatphattrien.vn/phat-trien-dai-ly-hai-quan-trong-boi-canh-chuyen-doi-so-o-viet-nam-va-nhung-van-de-phap-ly-dat-ra-d5037.html, truy cập ngày 20/7/2026.
[27] Điều 5 Bộ luật Hải quan Cộng đồng châu Âu năm 1992 (Council Regulation (EEC) No 2913/92). Xem toàn văn tại: https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/?uri=CELEX%3A31992R2913, truy cập ngày 20/7/2026.
[28] Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan, số 532/BC-UBPLTP16, ngày 14/7/2026, Mục 7.2.
[29] Điều 20 Luật Hải quan năm 2014 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 90/2025/QH15); Điều 20 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan kèm theo Tờ trình số 376/TTr-CP ngày 03/7/2026 của Chính phủ.
[30] Dự thảo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XVI tại phiên họp thứ 4 (tháng 7/2026).
[31] Luật Quản lý thuế năm 2025 quy định về chứng chỉ hành nghề đại lý thuế.
[32] Từ những phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, Điều 20 Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan nên điều chỉnh lại như sau:
Điều 20. Đại lý hải quan
1. Đại lý hải quan là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, thay mặt chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải để làm thủ tục hải quan và các thủ tục hành chính khác liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; được cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật hải quan và hỗ trợ chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải thực hiện pháp luật hải quan theo thỏa thuận.
2. Đại lý hải quan có nhân viên đại lý hải quan để thực hiện việc khai hải quan và các nghiệp vụ liên quan.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiệp vụ hành nghề áp dụng đối với nhân viên đại lý hải quan; quy định việc quản lý hoạt động của đại lý hải quan, nhân viên đại lý hải quan phục vụ công tác hậu kiểm.
4. Trên cơ sở thỏa thuận, cam kết hợp tác với đại lý hải quan, cơ quan hải quan được ủy quyền cho đại lý hải quan thực hiện một số hành vi, nghiệp vụ quản lý trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết phạm vi, điều kiện, trình tự, thủ tục ủy quyền quy định tại khoản này”.
[33] Nguyễn Thị Thương Huyền, tlđd.
[34] Nguyễn Thị Thương Huyền, tlđd.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15 (522), tháng 08/2026.)


Thống kê truy cập

42322680

Tổng truy cập