Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích thực trạng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp kê biên tài sản, chỉ ra những điểm còn hạn chế, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về biện pháp này.
Từ khóa: Biện pháp cưỡng chế; kê biên tài sản; tố tụng hình sự.
Abstract: Within the scope of this article, the author analyzes the current provisions of the Criminal Procedure Code on the measure of asset seizure, points out certain shortcomings, and proposes a number of recommendations to further improve the legal provisions on this measure.
Keywords: Coercive measures; asset seizure; criminal procedure.
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự (TTHS) là biện pháp dùng quyền lực nhà nước buộc người có liên quan trong vụ án hình sự phải tuân theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong Bộ luật TTHS hiện hành, kê biên tài sản được quy định tại Mục II. Biện pháp cưỡng chế (Chương VII. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế)
[1]. Cụ thểĐiều 126 Bộ luật TTHS hiện hành quy định về các biện pháp cưỡng chế:
“Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản”. Như vậy, theo quy định trên, có 04 biện pháp cưỡng chế, bao gồm:
biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Theo đó, kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm bảo đảm thi hành phần dân sự trong bản án hình sự; là việc cơ quan có thẩm quyền kiểm kê và cấm chuyển dịch tài sản của bị can, bị cáo phạm các tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm thi hành án
[2].
1. Thực trạng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp kê biên tài sản
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng.
Khoản 1 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành quy định: “Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”. Với quy định này thì đối tượng bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản phải là bị can, bị cáo. Tuy nhiên không phải mọi bị can, bị cáo đều bị áp dụng biện pháp kê biên tài sản mà biện pháp này chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
Nếu như trong Bộ luật TTHS năm 2003, kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với cá nhân phạm tội, thì trong Bộ luật TTHS hiện hành, kê biên tài sản còn được áp dụng đối với pháp nhân. Việc bổ sung này để bảo đảm sự phù hợp với chủ thể của tội phạm là pháp nhân được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025). Theo đó, kê biên tài sản còn áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại
[3].
Thứ hai, về thẩm quyền áp dụng.
Khoản 2 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành quy định: “Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi thi hành”. Với quy định này, người có thẩm quyền ra lệnh kê biên tài sản bao gồm:
- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. Trường hợp này, lệnh kê biên tài sản phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi thi hành.
- Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp.
- Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
Thứ ba, về mức tài sản bị kê biên và bảo quản tài sản bị kê biên.
- Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là cá nhân:
Theo khoản 3 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành thì chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại; đồng thời, tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Đây cũng là điểm mới so với Bộ luật TTHS năm 2003. Vì theo khoản 2 Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2003 thì
“Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người thân thích của họ bảo quản”; với quy định này, nhiều trường hợp sẽ khó khăn cho việc kê biên tài sản nếu chủ tài sản vắng mặt tại nơi cư trú; trong khi đó, chủ tài sản không còn người thân thích hoặc người thân thích của họ cũng vắng mặt tại nơi cư trú… Do đó, để bảo đảm tính bao quát, phù hợp với quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú trong Bộ luật Dân sự năm 2015
[4], khoản 3 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành đã bổ sung việc giao tài sản kê biên cho cả người quản lý hợp pháp.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành cũng quy định trách nhiệm pháp lý đối với người được giao bảo quản tài sản bị kê biên, cụ thể: “Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”. Như vậy, người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự vềTội vi phạm việc kê biên tài sản được quy định tại Điều 385 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024 và 2025).
- Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là pháp nhân:
Cũng giống như đối với cá nhân, chỉ kê biên phần tài sản đối với pháp nhân tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại; đồng thời, tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
[5].
Thứ tư, về sự có mặt của những người khi tiến hành kê biên tài sản.
- Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là cá nhân:
Theo khoản 4 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành: “Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến”.
Như vậy, so với quy định trước đây tại khoản 3 Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2003
[6], Bộ luật TTHS hiện hành đã sửa đổi theo hướng bổ sung hoàn thiện, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các quy định khác, cụ thể:
Bộ luật TTHS năm 2003 quy định về sự có mặt của đương sự hoặc người đã thành niên trong gia đình. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, trong một số trường hợp không thể có mặt của những người này vì những lý do khác nhau, do đó để bảo đảm việc tiến hành kê biên tài sản một cách bình thường, Bộ luật TTHS hiện hành đã bổ sung người đại diện của bị can, bị cáo.
Bộ luật TTHS năm 2003 quy định về sự có mặt của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, quy định này còn rất chung chung vì chưa rõ đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú hay nơi tiến hành kê biên tài sản. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất trong nhận thức và phù hợp với việc kê biên tài sản, Bộ luật TTHS hiện hành đã quy định rõ sự có mặt đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên.
Bộ luật TTHS năm 2003 quy định về sự có mặt của người láng giềng. Tuy nhiên, trong Bộ luật TTHS hiện hành đã quy định chung về người chứng kiến (không cần thiết phải là người láng giềng) khi tiến hành một số hoạt động tố tụng, như khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt bị can, bị cáo để tạm giam… Do đó, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, Bộ luật TTHS hiện hành đã quy định sự có mặt của người chứng kiến nói chung thay cho người láng giềng như trước đây.
- Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là pháp nhân:
Trong trường hợp này, khi kê biên tài sản phải có mặt những người sau: Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên; người chứng kiến
[7].
Thứ năm, về việc lập biên bản khi tiến hành kê biên tài sản.
Theo quy định trong Bộ luật TTHS năm 2003, nếu đương sự vắng mặt thì phải có mặt của người đã thành niên trong gia đình của họ. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2003
[8], khiếu nại của người đã thành niên trong gia đình của họ lại không được ghi vào biên bản. Khắc phục hạn chế này, khoản 4 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành đã sửa đổi, bổ sung theo hướng:
“Ý kiến, khiếu nại của những người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên”. Với quy định này thì ý kiến, khiếu nại của bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Ngoài ra, nếu theo quy định tại khoản 3 Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Biên bản kê biên được lập thành ba bản: một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biên xong; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án” thì khoản 4 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành quy định: “Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản này sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và một bản đưa vào hồ sơ vụ án”. Như vậy, để phù hợp với sự tham gia của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên khi tiến hành kê biên tài sản, Bộ luật TTHS hiện hành đã bổ sung việc giao biên bản kê biên cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên.
Thứ sáu, về việc hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản.
Khoản 4 Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định:
“Khi xét thấy việc kê biên không còn cần thiết thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải kịp thời ra quyết định hủy bỏ lệnh kê biên”. Có thể thấy, quy định này còn chung chung, mang tính chủ quan của người có thẩm quyền. Do đó, khắc phục hạn chế này, Bộ luật TTHS hiện hành đã bổ sung Điều 130 quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản với những căn cứ, quy định cụ thể, rõ ràng
[9].
2. Một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện liên quan đến các quy định về biện pháp kê biên tài sản trong tố tụng hình sự
Thứ nhất, về thi hành lệnh kê biên tài sản.
Theo khoản 2 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Vấn đề đặt ra là việc thi hành lệnh kê biên tài sản do cơ quan nào thực hiện? Theo Công văn số 5024/VKSTC-V14, ngày 19/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của Bộ luật TTHS và nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân thì người có thẩm quyền của cơ quan nào ra lệnh thì cơ quan đó có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, đối với lệnh kê biên tài sản do Viện kiểm sát, Tòa án ban hành thì nên giao cho Cơ quan điều tra thực hiện, bởi Viện kiểm sát, Tòa án không có đủ lực lượng, phương tiện để thực hiện. Điều này cũng phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên quy định tại điểm e khoản 1 Điều 37 Bộ luật TTHS hiện hành: “Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng”.
Thứ hai, về phạm vi kê biên tài sản.
Theo khoản 3 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành, cơ quan có thẩm quyền “Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại”; đối với vụ án mà bị can, bị cáo là pháp nhân thì “Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại”. Tuy nhiên, việc ước tính này chỉ mang tính tương đối. Trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền gặp rất nhiều khó khăn trong việc kê biên đối với một số tài sản có giá trị lớn hơn nhiều giá trị cần kê biên. Đối với những bị can, bị cáo chỉ có duy nhất những tài sản lớn như bất động sản, công xưởng; tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất… thì việc kê biên làm ảnh hưởng nhiều đến quyền và lợi ích của bị can, bị cáo. Do đó, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể về cách hiểu “phần tài sản tương ứng” để áp dụng thống nhất, bảo đảm tốt nhất quyền lợi của bị can, bị cáo.
Thứ ba, về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 130 Bộ luật TTHS hiện hành: “Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định”. Trong giai đoạn điều tra, chủ thể áp dụng biện pháp kê biên tài sản là Cơ quan điều tra, và theo quy định thì trước khi tiến hành phải thông báo cho Viện kiểm sát, do đó trước khi quyết định hủy bỏ phải thông báo cho Viện kiểm sát là phù hợp. Trong giai đoạn truy tố, thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản thuộc về Viện kiểm sát, do đó việc hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản thuộc về Viện kiểm sát. Tuy nhiên, theo quy định trên thì ngay cả trong trường hợp này vẫn phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định. Điều này là không phù hợp. Do đó, để hợp lý và bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 130 Bộ luật TTHS hiện hành như sau:
“Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định”.
Thứ tư, về kê biên tài sản đối với pháp nhân.
Khoản 2 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành quy định:
“Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại”. Tuy nhiên, khoản 1 Điều này
[10] lại không quy định kê biên tài sản đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định bị tịch thu tài sản. Trong khi đó, khoản 1 Điều 128 Bộ luật TTHS hiện hành
[11] có quy định về việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định bị tịch thu tài sản. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành như sau:
“Kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”.
Ngoài ra, cũng theo khoản 2 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành thì:
“Tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản…”. Vậy người đứng đầu pháp nhân được hiểu như thế nào? Bộ luật TTHS hiện hành cũng như các bộ luật, luật khác không giải thích thuật ngữ
“người đứng đầu pháp nhân”. Trong khi đó quy định tại khoản 1 Điều 434 Bộ luật TTHS hiện hành thì
“Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân”; đồng thời theo điểm a, khoản 3 Điều này
[12] thì khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Do đó, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và cụ thể, rõ ràng, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành như sau:
“Tài sản bị kê biên được giao cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có trách nhiệm bảo quản…”.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành quy định: “Thẩm quyền, trình tự, thủ tục kê biên tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật này”. Quy định này chưa điều chỉnh việc hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành như sau:
“Thẩm quyền, trình tự, thủ tục kê biên tài sản và hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 128 và Điều 130 của Bộ luật này”.
Kết luận
So với Bộ luật TTHS năm 2003, biện pháp kê biên tài sản trong Bộ luật TTHS hiện hành đã có nhiều sửa đổi, bổ sung theo hướng chặt chẽ hơn, cụ thể hơn và phù hợp hơn với thực tiễn áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tác giả cho rằng, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn cụ thể hơn, đồng thời khi sửa đổi Bộ luật TTHS hiện hành cần tiếp tục hoàn thiện quy định về biện pháp này như đã phân tích ở trên./.
[1] Mục II. Biện pháp cưỡng chế cũng là mục mới được quy định trong Bộ luật TTHS hiện hành.
[3] Xem: Khoản 1 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành.
[4] Xem: Điều 65 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Xem: khoản 2 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành.
[6] “Khi tiến hành kê biên tài sản, phải có mặt đương sự hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến”.
[7] Xem: Khoản 3 Điều 437 Bộ luật TTHS hiện hành.
[8] “Những khiếu nại của đương sự được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên”.
[9] “Điều 130. Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
b) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
c) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;
d) Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.
Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định”.
[10] “Kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”.
[11] “Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại”.
[12] “Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người sau:
a) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân…”.