Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi): những vấn đề cốt lõi cần hoàn thiện

28/07/2026

PGS. TS. NGUYỄN THỊ LAN

Trường Đại học Luật Hà Nội.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở phân tích và đánh giá một số nội dung chính của Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), tác giả đưa ra một vài kiến nghị hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi, cũng như bảo vệ trật tự công.
Từ khóa: Nuôi con nuôi; điều kiện nuôi con nuôi; chấm dứt nuôi con nuôi.
Abstract: In this article, based on the analysis and assessment of several key contents of the Draft Law on Adoption (amended), the author suggests a number of recommendations for improvement in order to ensure the lawful rights and interests of the parties involved in adoption relations, as well as to safeguard public order.
Keywords: Adoption; conditions for adoption; termination of adoption.

01.Nguôn-ChatGPT-Bai-so-1-cua-Tap-chi-so-14.png 
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
Đặt vấn đề
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) được xây dựng nhằm thay thế Luật Nuôi con nuôi năm 2010, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh xã hội hiện nay là cần thiết. Về cơ bản, Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi)[1] đã khắc phục được một số hạn chế của Luật Nuôi con nuôi hiện hành và bao quát được hầu hết các vấn đề về nuôi con nuôi, điều chỉnh kịp thời các quan hệ nuôi con nuôi trong hoàn cảnh mới. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) vẫn còn thiếu tính liên kết giữa các điều luật, giữa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chi tiết hơn, Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc điều chỉnh các vấn đề cốt lõi của việc nuôi con nuôi như mục đích nuôi con nuôi, điều kiện nuôi con nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, hủy việc nuôi con nuôi… đòi hỏi cần phải có sự xem xét, đánh giá để tiếp tục hoàn thiện hơn.
1. Về mục đích nuôi con nuôi
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) quy định, mục đích nuôi con nuôi hướng tới bảo vệ trẻ em là người được nhận làm con nuôi: “Việc nuôi con nuôi nhằm bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình an toàn, ổn định, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của con nuôi” (Điều 2). Bên cạnh đó, trong Điều 3 về giải thích từ ngữ, Dự thảo Luật cũng có giải thích thuật ngữ: “Nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Trong Bản so sánh Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) với Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Ban soạn thảo thuyết minh: “Kế thừa quy định hiện hành. Tuy nhiên, lược bỏ nội dung “xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vữngđể tránh trùng lặp với khoản 1 Điều 3”. Theo quan điểm của tác giả, phần mục đích của việc nuôi con nuôi là một vấn đề cốt lõi nhất của việc nuôi con nuôi. Tất cả các nội dung khác trong Luật Nuôi con nuôi phải xoay quanh nội dung này để bảo đảm việc nuôi con nuôi đúng mục đích, ý nghĩa xã hội của nó. Còn phần giải thích từ ngữ trong mỗi văn bản pháp luật, đơn thuần chỉ là xác định nội hàm của một thuật ngữ hay một khái niệm. Với khái niệm “Nuôi con nuôi” cần giải thích theo hướng đó là việc một cá nhân hoặc một cặp vợ chồng muốn nhận một hoặc nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt làm con của mình theo quy định của pháp luật. Việc xác định rõ nội dung của mục đích nhận nuôi con nuôi tại Điều 2 thay vì Điều 3 của Dự thảo Luật sẽ thể hiện rõ sự cân bằng vì lợi ích cũng như phải hướng đến sự gắn kết giữa người được nhận nuôi với người nhận nuôi trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con chứ không đơn thuần để cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình. Việc gắn kết một mối quan hệ phát triển dần theo năm tháng như cha mẹ đẻ và con đẻ là điều vô cùng quan trọng giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Điều đó mới là động lực để giữa họ thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con một cách tự nguyện bằng cả tình yêu thương và trách nhiệm một cách lâu dài, bền vững không mang tính đền bù ngang giá như các mối quan hệ dân sự thông thường. Vì vậy, Dự thảo Luật nên sửa đổi quy định mục đích nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, đặc biệt là trẻ em được nhận làm con nuôi. Việc quy định mục đích nuôi con nuôi như vậy phù hợp với nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi. Quan điểm này cũng phù hợp với nhận định trong Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội khi cho rằng: “quy định rõ mục đích của việc nuôi con nuôi là nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi là cơ sở để phân biệt giữa con nuôi với những việc làm có ý nghĩa nhân đạo, từ thiện khác như nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, đỡ đầu…”[2].
2. Về điều kiện nuôi con nuôi
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) quy định về điều kiện nuôi con nuôi theo hướng lồng ghép điều kiện nội dung, thẩm quyền xác nhận điều kiện nuôi con nuôi, thủ tục ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi việc nuôi con nuôi đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (Mục 1, Chương II). Cách phân bổ các điều luật trong mục này chưa hợp lý, nội dung sơ sài, chưa bao quát được tất cả các điều kiện nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài.
2.1. Điều kiện của người được nhận làm con nuôi (Điều 14)
Dự thảo Luật tập trung vào hai vấn đề: hoàn cảnh của người được nhận nuôi và độ tuổi của người được nhận nuôi.
Về hoàn cảnh của người được nhận nuôi:
Đối với hoàn cảnh của người được nhận nuôi phải thuộc trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Bao gồm trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa và trẻ em bị bỏ rơi. Trong mối liên hệ với pháp luật về trẻ em có thể xác định rõ các trường hợp trẻ em mồ côi cha mẹ, trẻ em không nơi nương tựa thuộc trường hợp được nhận làm con nuôi. Tuy nhiên, đối với trẻ em bị bỏ rơi thì chưa có văn bản nào đưa ra định nghĩa. Hiện nay, Luật Trẻ em năm 2016 chỉ giải thích hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ người chăm sóc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em (khoản 9 Điều 4). Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về hạn chế quyền của cha mẹ đối với con, trong đó có vi phạm quyền chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con. Như vậy, hành vi vi phạm này cũng được coi là bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em. Tuy nhiên, Điều 62 Luật Trẻ em năm 2016 có sự phân biệt giữa trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em bị chính cha mẹ xâm hại quyền, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ (khoản 1, 2, 4) và hai nhóm trẻ em này đều cần chăm sóc thay thế, trong đó có chăm sóc thay thế bằng hình thức nhận con nuôi. Do đó, Dự thảo Luật cần phải xác định rõ nhóm trẻ em bị bỏ rơi theo hướng: Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em bị tước đi quyền biết nguồn gốc huyết thống hoặc quyền được sống chung với cha mẹ và gia đình do hành vi trái pháp luật của cha mẹ (người sinh ra trẻ em) hoặc của người giám hộ. Mặt khác, nếu mục đích của nhà làm luật muốn dùng tiêu chí hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em để làm căn cứ xác định trẻ em đó có được nhận làm con nuôi hay không thì cần đưa thêm các tiêu chí khác về ý chí của cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc người thân thích của trẻ em trong việc cho đứa trẻ đi làm con nuôi người khác. Bởi vì trên thực tế, không ít trường hợp cha mẹ có hành vi xâm phạm quyền của con (là trẻ em), bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con, nhưng họ vẫn không muốn đứa trẻ đi làm con nuôi người khác.
Về độ tuổi được nhận làm con nuôi:
Theo quy định của Dự thảo Luật có dùng từ “trẻ em” - điều đó có nghĩa là về nguyên tắc, người được nhận làm con nuôi phải dưới 16 tuổi. Trong trường hợp đặc biệt, nếu việc nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình thì người nhận nuôi có thể dưới 18 tuổi. Dự thảo Luật có giải thích: “Nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình là việc nuôi con nuôi giữa cha dượng với con riêng của vợ, giữa mẹ kế với con riêng của chồng, giữa cô, cậu, dì, chú, bác với cháu ruột” (khoản 6 Điều 3). Đây là quy định kế thừa Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nhằm mục đích người được nhận nuôi vẫn sống trong gia đình gốc. Tuy nhiên, cách Dự thảo Luật dùng thuật ngữ “Nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình” thì cần phải dẫn chiếu đến định nghĩa ở điều luật khác. Mặt khác, cụm từ “phạm vi gia đình” khá rộng chứ không chỉ là quan hệ giữa cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng, quan hệ giữa cô, cậu, dì, chú, bác và cháu ruột. Do đó, nên kế thừa như Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và có thêm văn bản hướng dẫn cụ thể cho trường hợp này.
Về xác nhận đủ điều kiện được nhận làm con nuôi:
Khoản 2 Điều 14 Dự thảo Luật có đề cập nội dung về xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi, trong đó xác định rõ thẩm quyền xác nhận thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan đại diện tùy thuộc vào từng trường hợp nhận nuôi con nuôi nhất định. Tuy nhiên, việc đặt điều kiện này trong nội dung điều luật về điều kiện của người được nhận làm con nuôi là chưa hoàn toàn hợp lý. Cần tách điều kiện về mặt nội dung với điều kiện về mặt hình thức sẽ khoa học và dễ theo dõi hơn.
2.2. Điều kiện của người nhận con nuôi (Điều 15)
Điều 15 Dự thảo Luật quy định về điều kiện của người nhận con nuôi khá chi tiết và đầy đủ.
Về tình trạng hôn nhân của người nhận con nuôi: 
Theo Dự thảo Luật, người nhận con nuôi bao gồm: Người độc thân; một cặp vợ chồng; một bên vợ hoặc chồng trong trường hợp nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi. Quy định này về cơ bản kế thừa Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Theo đó, người độc thân được xác định là chưa kết hôn hoặc đã kết hôn và đã chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn hay một bên vợ hoặc chồng chết, bị tuyên bố chết. Đối với người đang chung sống như vợ chồng thì vẫn được coi là độc thân. Vì vậy, họ chỉ có thể một mình nhận con nuôi chứ pháp luật không chấp nhận việc hai người chung sống như vợ chồng được nhận con nuôi chung. Đây cũng là vấn đề hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có quan điểm đang có hướng gợi mở cho việc những cặp đôi đồng tính do không được kết hôn, họ chung sống với nhau và mong muốn được nuôi con nuôi chung. Hoặc trường hợp họ nhận con của nhau làm con nuôi với tư cách là người độc thân và có thể dẫn đến tranh chấp về đứa trẻ sau khi chấm dứt việc sống chung. Do đó, cần cân nhắc khi mở rộng đối tượng được nhận con nuôi trong những trường hợp đặc biệt, cũng như cần bổ sung cơ chế giải quyết tranh chấp trong trường hợp này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, bảo đảm sự bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử về giới, về xu hướng tính dục và bản dạng giới. Đây cũng là vấn đề phải đối diện trong xã hội hiện đại ở tất cả các quốc gia trên thế giới, theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn quyền của nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) được hiện thực hóa trong xã hội từ quyền được kết hôn đồng giới đến việc nhận con nuôi chung. Quan điểm này cũng được đề cập trong một công trình nghiên cứu, theo đó: Nguyên tắc không phân biệt đối xử là một trong các nguyên tắc nền tảng của quyền con người được đề cập đến trong các văn kiện quốc tế… những quyền này có mối quan hệ tương quan, phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời, kể cả với cộng đồng LGBT bao gồm: quyền kết hôn, quyền lập gia đình, quyền nuôi con, quyền nhận con nuôi…”[3]. Tất nhiên, trong bối cảnh xã hội Việt Nam, việc xây dựng pháp luật chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố mang tính truyền thống, phong tục tập quán thì cần phải có lộ trình lâu dài đối với vấn đề này cho đến thời điểm thích hợp.
Về năng lực nhận con nuôi, độ tuổi và khoảng cách độ tuổi giữa các chủ thể:
Theo Dự thảo Luật, người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hơn con nuôi ít nhất 20 tuổi và nhiều nhất là 50 tuổi, trừ một số trường hợp ngoại lệ hơn con nuôi nhiều hơn 50 tuổi (do luật quy định). Nếu vợ chồng nhận con nuôi thì khoảng cách độ tuổi tính cho người chồng hoặc người vợ có độ tuổi ít hơn. Khoảng cách độ tuổi không áp dụng cho trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của chồng hoặc vợ làm con nuôi hay cô, dì, chú, bác nhận cháu ruột làm con nuôi. Về cơ bản điều kiện này là hợp lý. Tuy nhiên, cách xác định khoảng cách độ tuổi theo người vợ hoặc chồng có độ tuổi thấp hơn có thể dẫn đến những trường hợp chưa thật sự hợp lý khi khoảng cách độ tuổi giữa vợ chồng khá lớn (có thể chênh vài chục tuổi). Do đó, nếu lấy tuổi của người chồng hoặc vợ là người ít tuổi hơn thì trong nhiều trường hợp độ tuổi chênh quá xa. Một vấn đề nữa là khi khoảng cách độ tuổi không áp dụng cho trường hợp nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình thì khoảng cách này có thể tiệm cận đến hơn kém nhau 1 ngày. Điều này thật sự là không hợp lý để gắn kết mối quan hệ giữa hai thế hệ. Ví dụ, một người mẹ kế đủ 18 tuổi, còn con riêng của chồng là dưới 18 tuổi thì vẫn được xác lập quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, cần phải xác định một khoảng cách độ tuổi tối thiểu trong trường hợp này.
Về điều kiện thực tế đảm nhận việc nuôi con nuôi:
Dự thảo Luật quy định người nhận con nuôi phải có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi. Đây là điều kiện rất cần thiết vì lợi ích của người con nuôi. Tuy nhiên, để trẻ em không bị tách ra khỏi gia đình gốc, Dự thảo Luật quy định việc nuôi con nuôi trong phạm vi gia đình sẽ không bị áp dụng điều kiện này và họ cũng là người được ưu tiên nhận con nuôi trước. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn quy định chi tiết điều khoản này. Đối với điều kiện về chỗ ở, cần hướng dẫn cụ thể về các trường hợp xác định người nhận con nuôi có chỗ ở bao gồm là chủ sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, là người thuê nhà theo hợp đồng có thời hạn bao nhiêu, môi trường sống của nơi ở để bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng và sự phát triển hài hòa về nhân cách của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Về tư cách đạo đức và các điều kiện có liên quan khác:
Điều kiện tư cách đạo đức tốt của người nhận con nuôi còn mang tính định tính, khá chung chung, chưa có tiêu chí xác định cụ thể. Trong các trường hợp không được nhận con nuôi như Dự thảo Luật quy định thì có thể bao gồm việc xác định tư cách đạo đức của người nhận con nuôi. Tuy nhiên, việc để điều kiện này cũng có thể hướng tới những hành vi khác như bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới mà chưa đến mức xử lý hình sự… để xác định thiếu tư cách đạo đức trong việc nhận con nuôi.
Về xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi:
Cũng tương tự như trên, thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan đại diện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tùy vào từng trường hợp nhận con nuôi. Tuy nhiên, việc để nội dung này ở trong điều kiện nhận con nuôi là chưa hoàn toàn hợp lý và khoa học. Dự thảo Luật nên có một điều luật riêng về thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi theo hướng dẫn chiếu sang pháp luật về hộ tịch.
3. Về ý chí tự nguyện trong việc nhận con nuôi
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) không đưa nội dung này vào phần điều kiện của việc nhận con nuôi mà để ở phần thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi[4]. Theo tác giả, nên coi đây là một điều kiện của việc nhận con nuôi và chuyển sang phần điều kiện nhận con nuôi thì hợp lý hơn.
Về sự đồng ý của người được nhận nuôi
Độ tuổi trẻ em được thể hiện ý chí của mình trong việc nuôi con nuôi là từ đủ 7 tuổi trở lên. Độ tuổi này thể hiện sự thống nhất với các luật có liên quan như Luật Hôn nhân và gia đình. Việc thể hiện ý chí của trẻ em trong việc đi làm con nuôi người khác mang tính bắt buộc chứ không chỉ xem xét nguyện vọng. Nếu đứa trẻ không đồng ý thì không thể xác lập việc nuôi con nuôi được. Tuy nhiên, để xác định ý chí của trẻ em trong việc đi làm con nuôi có thật sự là tự nguyện, không bị ép buộc… thì không dễ kiểm soát vì trẻ em luôn phụ thuộc vào người lớn, vào gia đình hoặc cơ sở trợ giúp xã hội.
Về sự đồng ý của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em, đại diện cơ sở trợ giúp xã hội
Việc thể hiện ý chí tự nguyện trong việc cho trẻ em đi làm con nuôi của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ em, đại diện cơ sở trợ giúp xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, trong mối liên hệ với nhóm chủ thể được nhận làm con nuôi thì sẽ có những trường hợp trẻ em rơi vào một trong các nhóm trẻ em bị bố mẹ xâm phạm quyền, nhưng bố mẹ lại không đồng ý cho con đi làm con nuôi thì vấn đề nhận con nuôi có được đặt ra hay không? Đây là vấn đề cần giải quyết trong Dự thảo Luật theo hướng: Nếu rơi vào trường hợp này chỉ cần sự đồng ý của người được nhận làm con nuôi thì việc nuôi con nuôi được xác lập vì lợi ích của trẻ em. Tuy nhiên, cần xác định mức độ vi phạm của cha mẹ để tước bỏ quyền cho con mình đi làm con nuôi người khác trong những trường hợp nhất định.
4. Về các hành vi cấm
Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), các hành vi cấm[5] không thuộc một trong các điều kiện của việc nhận con nuôi. Tuy nhiên, theo tác giả, nên xác định một số hành vi cấm là điều kiện của việc nhận con nuôi để làm cơ sở hủy việc nuôi con nuôi khi vi phạm hành vi cấm (bao gồm khoản 1, 2, 4) nếu hành vi này xảy ra tại thời điểm nhận con nuôi. Thêm vào đó, Dự thảo Luật nên bổ sung hành vi cấm: Cha mẹ đẻ nhận con đẻ làm con nuôi. Trước đây, khi Nhà nước còn hạn chế việc sinh con, sẽ có thể xảy ra trường hợp biến con đẻ thành con nuôi để không vi phạm pháp luật về dân số. Hiện tại, do pháp luật đã cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, có thể xảy ra trường hợp những cặp đôi đồng tính (do chưa được kết hôn, chưa được nhận con nuôi chung) thực hiện việc mang thai hộ vì mục đích thương mại rồi nhận đứa trẻ (có mang huyết thống của mình) làm con nuôi. Bên cạnh đó, có thể có trường hợp sinh con ngoài giá thú và muốn nhận làm con nuôi để trốn tránh việc vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, những điều Đảng viên không được làm trong điều lệ Đảng… ảnh hưởng đến quyền được biết nguồn gốc huyết thống của trẻ em theo Công ước quốc tế quyền trẻ em và Luật Trẻ em năm 2016. Quan điểm này cũng phù hợp với nhận định: “Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có thể không có quan hệ huyết thống hoặc có quan hệ huyết thống nhưng không phải là quan hệ huyết thống trực hệ”[6].
5. Về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) tại Điều 27 tập trung chủ yếu vào các hệ quả, như quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, quan hệ giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ, thay đổi thông tin cá nhân trong những trường hợp nhất định… Tuy nhiên, cách bố trí các điều khoản chưa thật sự khoa học và logic. Theo tác giả, các quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi cần phải tập trung vào các nội dung sau:
Thứ nhất, mối quan hệ giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi: Sau khi thủ tục đăng ký nuôi con nuôi hoàn tất thì giữa người nhận nuôi và người được nhận xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa họ phát sinh quyền và nghĩa vụ như là cha mẹ đẻ và con đẻ. Đây là vấn đề mà Dự thảo Luật đã quy định.
Thứ hai, mối quan hệ giữa người được nhận nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi (bố mẹ của cha mẹ nuôi, anh chị em của cha mẹ nuôi, con đẻ và các con nuôi khác của cha mẹ nuôi…): Dự thảo Luật có đề cập đến mối quan hệ này nhưng chỉ dẫn chiếu áp dụng sang Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự… Tuy nhiên, các văn bản này chỉ quy định quyền và nghĩa vụ giữa ông bà và cháu, anh chị em với nhau, cô dì chú bác ruột với cháu ruột. Do đó, cách quy định này dẫn đến hai cách hiểu: Một là, giữa họ phát sinh quyền và nghĩa vụ như quan hệ huyết thống; hai là, không đương nhiên có quan hệ như vậy vì Luật không nói rõ quyền và nghĩa vụ đó đối với người được nhận làm con nuôi. Mặt khác, quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi có căn cứ phát sinh dựa trên sự kiện nhận con nuôi với ý chí tự nguyện của các chủ thể và chỉ các chủ thể trong mối quan hệ đó phải gánh chịu hệ quả pháp lý do hành vi của mình mang lại mà không thể kéo theo mối quan hệ với những người thân thích của mình được. Trong quan hệ gia đình, có thể người con nhận con nuôi, nhưng bố mẹ của họ lại không muốn có quan hệ đó và do vậy không đương nhiên họ phải trở thành ông bà và phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa ông bà và cháu. Tương tự như vậy, các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi cũng không mặc nhiên phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với người được nhận làm con nuôi. Do đó, theo tác giả, người được nhận làm con nuôi không đương nhiên phát sinh quan hệ về mặt pháp lý với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi. Nhưng họ phải gánh chịu một số hệ quả từ quan hệ nuôi con nuôi mang lại nhằm bảo đảm tôn ti trật tự, đạo đức truyền thống trong gia đình Việt Nam như người con nuôi không được có quan hệ kết hôn với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi; khi sống chung với nhau phải có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Thứ ba, mối quan hệ giữa người được nhận nuôi với gia đình gốc. Dự thảo Luật đang điều chỉnh theo hướng sẽ chấm dứt một số quyền cơ bản của cha mẹ đẻ đối với con đẻ. Tuy nhiên, cách liệt kê quyền như vậy sẽ không bao quát được tất cả các quyền của cha mẹ và con. Do đó, cần quy định theo hướng khái quát hơn là khi con đẻ đã làm con nuôi gia đình khác thì quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ sẽ chấm dứt. Người con đẻ đó chỉ còn lại một số quyền nhất định như quyền thừa kế, quyền xác định dân tộc, quyền hưởng chính sách ưu tiên như là con thương binh, con liệt sĩ. Các mối quan hệ với các thành viên gia đình khác của cha mẹ đẻ cũng theo đó mà chấm dứt về mặt pháp lý.
Thứ tư, trong trường hợp nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi. Đây là trường hợp đặc biệt, nên cần được quy định riêng. Theo đó, quan hệ giữa người con nuôi và cha hoặc mẹ đẻ đang là vợ hoặc chồng của người nhận con nuôi vẫn được duy trì đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Nếu hôn nhân của họ chấm dứt thì không chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi mà người con nuôi đương nhiên thuộc về cha nuôi hoặc mẹ nuôi mà không tồn tại tranh chấp quyền nuôi con chung như các trường hợp thông thường khác. Người cha ruột hoặc mẹ ruột không thể đòi con vì họ đã đồng ý cho chồng hoặc vợ mình nhận con đẻ của mình làm con nuôi.
Mặt khác, việc cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng mình làm con nuôi, có thể người con riêng đó là con đẻ của họ, có thể là con nuôi của họ. Nếu như việc nhận con nuôi phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ thì con riêng là con nuôi sẽ không được nhận con nuôi lần 2 vì không thể có sự đồng ý của cha mẹ nuôi lần 1. Tuy nhiên, theo tác giả, nếu như một bên vợ chồng có con riêng là con nuôi và là con nuôi chỉ của mình họ thì nên cho người vợ hoặc người chồng của họ nhận con nuôi thêm (chứ không phải nuôi con nuôi lần 2) và vợ chồng họ sẽ là cha mẹ nuôi của đứa trẻ. Điều này bảo đảm lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ vì giữa họ sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con.
Đối với khoản 3 Điều 27 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) nên chuyển sang Luật Hộ tịch quy định thì phù hợp hơn.
6. Về hủy việc nuôi con nuôi và chấm dứt việc nuôi con nuôi
Về hủy việc nuôi con nuôi
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) không có điều luật nào nói về hủy việc nuôi con nuôi mà chỉ đề cập đến việc thu hồi, hủy bỏ giấy tờ nuôi con nuôi[7]. Theo tác giả, nội dung này để ở chương quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi là không hợp lý. Vì tiêu đề tên chương này không bao gồm nội dung này và xét về bản chất thì hủy việc thu hồi, hủy bỏ giấy tờ nuôi con nuôi không làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, không phát sinh hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi. Điều 28 Dự thảo Luật đưa ra các căn cứ thu hồi, hủy bỏ giấy tờ nuôi con nuôi khá chung chung, không rõ ý về việc giải quyết việc nuôi con nuôi “không được thực hiện theo đúng quy định pháp luật” là làm sai về thủ tục quy trình hay vi phạm điều kiện nuôi con nuôi? Hay điểm c khoản 1 Điều 28 chỉ đưa ra một căn cứ tại thời điểm giao nhận con nuôi, người được nhận con nuôi bị kết án phạt tù, trong khi về điều kiện nhận con nuôi còn rất nhiều điều kiện khác và các bên trong quan hệ nhận con nuôi không tuân thủ đầy đủ.
Về chấm dứt việc nuôi con nuôi
Dự thảo Luật đã kế thừa Luật Nuôi con nuôi 2010 và bổ sung thêm một số căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, nhiều căn cứ chưa phù hợp. Cụ thể: Căn cứ chấm dứt tại điểm a khoản 1 Điều 29 là không cần thiết vì khi cha mẹ nuôi chết thì đương nhiên trẻ em sẽ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt để đứa trẻ có thể được người khác nhận nuôi. Tuy nhiên, người con nuôi đó vẫn còn tồn tại một số quyền được hưởng từ quan hệ nuôi con nuôi trước đó như quyền thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi… Căn cứ về vi phạm các hành vi cấm theo Điều 11 của Dự thảo Luật là chưa thỏa đáng. Các hành vi cấm này cần được phân chia theo tính chất của từng hành vi và thời điểm vi phạm hành vi đó để xác định có là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi hay không. Nếu như hành vi đó xảy ra trong quá trình thực hiện việc nuôi thì mới nên coi đó là hành vi chấm dứt việc nuôi con nuôi. Nếu hành vi đó xảy ra ngay từ đầu khi nhận con nuôi thì phải xác định vi phạm điều kiện nhận con nuôi (nếu như đưa các hành vi cầm vào điều kiện nhận con nuôi) hoặc phải xác định vi phạm điều kiện cấm của Luật và việc nuôi con nuôi như chưa hề phát sinh trên thực tế. Do đó, phải có điều luật riêng về hủy việc nuôi con nuôi để bao quát được những trường hợp nuôi con nuôi vi phạm điều kiện nuôi con nuôi và hành vi cấm trong Dự thảo Luật. Cụ thể khoản 1 và 2 Điều 11 Dự thảo Luật sẽ là căn cứ hủy nếu ngay từ khi nhận con nuôi đã vi phạm; và là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi nếu trong quá trình nuôi con nuôi vi phạm; khoản 3 và 4 là căn cứ hủy việc nuôi con nuôi chứ không thể là căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi. Ngoài ra, Dự thảo Luật nên bổ sung căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi “cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ thỏa thuận chấm dứt việc nuôi con nuôi vì lợi ích của người được nhận nuôi nếu như người được nhận nuôi chưa thành niên” theo tinh thần của Án lệ số 61[8].
Do vậy, Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) cần thiết phải tách bạch hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, hủy bỏ việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi.
7. Về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), phần nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không được tách biệt như Luật Nuôi con nuôi năm 2010 mà được lồng ghép với các quy định về nuôi con nuôi trong nước. Cách thiết kế này góp phần hạn chế sự trùng lặp cũng như bảo đảm tính súc tích của văn bản luật. Tuy nhiên, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vẫn có những đặc thù riêng, phức tạp hơn so với nuôi con nuôi trong nước vì liên quan đến các yếu tố như chủ thể là người nước ngoài, pháp luật nước ngoài nơi đăng ký việc nuôi con nuôi, hay nơi thực hiện việc nuôi… Do đó, theo tác giả, cần phải tách riêng phần nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thành một chế định độc lập trong Luật Nuôi con nuôi, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Quan điểm này cũng phù hợp với nhận định: “Trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi còn xảy ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, những cuộc bạo loạn ở một số quốc gia… vấn đề nuôi con nuôi quốc tế luôn được đặt ra. Việc nhận trẻ em trong hoàn cảnh mồ côi… làm con nuôi là biện pháp bảo vệ và tạo điều kiện sống tốt nhất cho trẻ em… điều đó cũng đặt ra đòi hỏi tất yếu về sự cần thiết hoàn thiện pháp luật của mỗi quốc gia sao cho phù hợp với những chuẩn mực pháp lý quốc tế chung nhất về nuôi con nuôi”[9]. Vấn đề này cần đặc biệt quan tâm và phải dành một số lượng điều luật nhất định để bảo đảm việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện đúng mục đích ý nghĩa của nó. Bên cạnh đó là sự kiểm soát, phòng ngừa tình trạng buôn bán người, bóc lột tình dục đặc biệt đối với trẻ em nhằm bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của nhóm yếu thế nói riêng, trong đó có trẻ em. Đây cũng là vấn đề mang tính toàn cầu mà Việt Nam là quốc gia thành viên đã tham gia nhiều công ước quốc tế về quyền con người trong đó có Công ước Lahay về Nuôi con nuôi năm 1993. Như nhận định trong một công trình nghiên cứu rằng: “Tại cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người dựa trên Công ước, Việt Nam luôn chủ động, tích cực trong việc tham gia thực hiện nghĩa vụ thành viên. Cho tới nay, Việt Nam đã soạn thảo và đệ trình các báo cáo quốc gia về thực hiện các Công ước quốc tế về quyền con người lên các Ủy ban Công ước”[10].
Kết luận
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) cần đi từ quy định chung đến nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi thì sẽ logic hơn. Trong phần quy định chung cần lược bỏ các điều luật mang tính thủ tục, thẩm quyền giải quyết và chuyển sang một chương khác về thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi. Phần quy định chung này, chỉ nên giữ lại các nội dung về phạm vi điều chỉnh, mục đích việc nuôi con nuôi, nguyên tắc nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên trong việc nuôi con nuôi, giải thích từ ngữ. Phần nuôi con nuôi trong nước sẽ quy định về điều kiện của người nhận nuôi, điều kiện của người được nhận nuôi, hủy việc nuôi con nuôi khi vi phạm điều kiện nhận nuôi con nuôi. Phần nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài quy định về nguyên tắc áp dụng luật; các trường hợp người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam ở trong nước làm con nuôi; người nước ngoài, người Việt Nam ở Việt Nam nhận trẻ em ở nước ngoài làm con nuôi; các trường hợp nuôi con nuôi đích danh. Phần thủ tục nuôi con nuôi quy định về thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, trình tự thủ tục nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài./.

[1] Dự thảo 2 Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), xem tại: https://moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chi-tiet/ho-so-tham-inh-du-an-luat-nuoi-con-nuoi-sua-oi-tgakcj57f6.html.
[2] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2021, tr. 263.
[3] TS. Nguyễn Văn Hợi, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật Việt Nam (tập 1), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2023, tr. 85, 86.
[4] Điều 22. Yêu cầu đối với sự đồng ý cho làm con nuôi
“1. Việc giải quyết nuôi con nuôi phải có sự đồng ý của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được nhận làm con nuôi, trừ trường hợp người được nhận làm con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi. Trường hợp người được nhận làm con nuôi từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải có cả sự đồng ý của người đó. Những người được lấy ý kiến có quyền thay đổi ý kiến trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được lấy ý kiến.
2. Trường hợp người được nhận làm con nuôi sống tại cơ sở trợ giúp xã hội thì đại diện cơ sở trợ giúp xã hội phải thể hiện ý kiến đồng ý về việc cho trẻ em làm con nuôi.
3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, đe dọa hay mua chuộc; không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
4. Cha, mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày”.
[5] Điều 11. Các hành vi bị cấm
“1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, bạo hành, ngược đãi con nuôi; mua, bán trẻ em.
2. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trốn tránh việc thực hiện trách nhiệm pháp lý, vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
3. Giả mạo, sửa chữa trái pháp luật, làm sai lệch nội dung giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
4.Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi”.
[6] TS. Nguyễn Văn Hợi, Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật Vit Nam (tập 2), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2023, tr. 334.
[7] Điều 28 Dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi).
[8] Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24/02/2023 của Toà án nhân dân tối cao về việc công bố án lệ.
[9] PGS.TS. Trần Anh Tuấn - PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến - PGS.TS. Nguyễn Thị Lan - TS. Nguyễn Văn Hợi (chủ biên), Pháp luật dân sự Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2024, tr. 509.
[10] TS. Trần Minh Ngọc, Pháp luật quốc tế đương đại và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2024, tr. 225.
 

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14 (521), tháng 07/2026.)


Thống kê truy cập

42322360

Tổng truy cập