Tóm tắt: Vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là một trong những nguyên nhân phổ biến làm phát sinh tranh chấp trong quan hệ bảo hiểm. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thay đổi cách tiếp cận khi không còn coi việc chậm đóng phí là căn cứ làm hợp đồng đương nhiên chấm dứt, mà trao cho doanh nghiệp bảo hiểm quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử vẫn phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận phí bảo hiểm quá hạn hoặc bên mua bảo hiểm thanh toán phí sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật, án lệ và thực tiễn xét xử, bài viết chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Từ khóa: Hợp đồng bảo hiểm; phí bảo hiểm; đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng; doanh nghiệp bảo hiểm.
Abstract: Violation of the premium payment obligation is one of the common causes of disputes in insurance relationships. The Law on Insurance Business 2022 (amended and supplemented in 2025) changed the approach by no longer considering late payment as a ground for automatic contract termination, but instead granting insurance enterprises the right to unilaterally terminate the contract. However, judicial practice still faces many complications, especially in cases where the insurance enterprise accepts overdue premiums or the policyholder pays the premium after the insured event has occurred. Based on an analysis of legal provisions, case law, and judicial practice, the article highlights the limitations of current law and proposes several recommendations to ensure uniform application in practice.
Keywords: Insurance contract; insurance premium; unilateral termination of contract; insurance enterprise.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Đặt vấn đề
Nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là nghĩa vụ cơ bản của bên mua bảo hiểm và là cơ sở để doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận gánh chịu rủi ro bảo hiểm
[1]. Vì vậy, khi bên mua bảo hiểm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ này, thường làm phát sinh tranh chấp liên quan đến việc xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm và trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Mặc dù Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, nhưng thực tiễn xét xử cho thấy vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm này. Đặc biệt, các tranh chấp phát sinh khi doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận phí bảo hiểm quá hạn hoặc khi bên mua bảo hiểm thanh toán phí sau thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm đã đặt ra những vấn đề pháp lý chưa được giải quyết thật sự thỏa đáng. Từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm có ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh và hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm.
2. Pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm
2.1. Khái quát về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là một chế định quan trọng của pháp luật hợp đồng, cho phép một bên chủ động chấm dứt việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không cần sự đồng ý của bên còn lại khi xuất hiện các căn cứ do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận hợp pháp. Đơn phương chấm dứt hợp đồng là biện pháp cuối cùng khi mà không thể còn biện pháp nào khác để tiếp tục hợp đồng cho dù là một phần
[2]. Theo Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng có những đặc thù riêng xuất phát từ bản chất của hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng được giao kết trên cơ sở nguyên tắc trung thực tuyệt đối, quyền lợi có thể được bảo hiểm và sự cân bằng giữa rủi ro được bảo hiểm với phí bảo hiểm
[3]. Do đó, thay vì quy định theo hướng khái quát như Bộ luật Dân sự năm 2015 (luật chung điều chỉnh các quan hệ hợp đồng), Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định cụ thể các trường hợp phát sinh quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp bảo hiểm, cần ưu tiên áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm với tư cách là luật chuyên ngành; các quy định của Bộ luật Dân sự chỉ được áp dụng bổ sung khi luật chuyên ngành không có quy định.
Quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm với quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm là hai khía cạnh pháp lý khác nhau. Hủy bỏ hợp đồng là chế tài áp dụng trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng theo Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hoặc trong thời gian cân nhắc tham gia bảo hiểm theo Điều 35 của Luật này. Trong khi đó, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo Điều 26 chỉ làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng đối với phần nghĩa vụ chưa được thực hiện kể từ thời điểm chấm dứt, còn các quyền và nghĩa vụ đã phát sinh trước đó vẫn được giải quyết theo quy định của pháp luật. Bản chất của quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm là cơ chế pháp lý nhằm bảo vệ sự cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm khi những điều kiện làm cơ sở tồn tại của hợp đồng đã thay đổi hoặc khi một bên không còn đáp ứng những điều kiện cần thiết để tiếp tục duy trì quan hệ bảo hiểm.
2.2. Quy định về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và hậu quả pháp lý
Khác với Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định mang tính nguyên tắc, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác định cụ thể bốn trường hợp phát sinh quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm tại Điều 26 và
hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm tại Điều 27. Đây là một cơ chế pháp lý cho phép một bên chấm dứt việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không cần sự đồng ý của bên còn lại khi xuất hiện các căn cứ luật định. Bên cạnh ba trường hợp đơn phương: (1) Do
không chấp nhận yêu cầu thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm, (2) Do người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn đối với đối tượng bảo hiểm, (3) Do bên mua bảo hiểm không đồng ý việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm còn có quyền đơn phương trong trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng phí hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thỏa thuận. So với các căn cứ phát sinh quyền đơn phương khác, đây là căn cứ được áp dụng phổ biến nhất trong thực tiễn bảo hiểm. Về bản chất,
phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bán bảo hiểm[4], từ đó hình thành nên quỹ bảo hiểm. Nếu quỹ bảo hiểm chưa thiết lập, doanh nghiệp bảo hiểm không thể bồi thường cho bên mua bảo hiểm
[5]. Đây là nghĩa vụ cơ bản và là đối giá của việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận gánh chịu rủi ro bảo hiểm. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
[6]. Nhìn chung, phí bảo hiểm là cơ sở tài chính để doanh nghiệp bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm và thực hiện nghĩa vụ bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vì vậy, việc không thực hiện nghĩa vụ đóng phí làm phá vỡ sự cân bằng quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ bảo hiểm
[7].
Từ góc độ pháp lý,
vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm được hiểu là hành vi của bên mua bảo hiểm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán phí bảo hiểm theo thời hạn, phương thức, mức phí hoặc lộ trình thanh toán đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm[8]. Hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm có thể biểu hiện một trong các dạng sau: (i) Không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn đã cam kết; (ii) Đóng phí không đầy đủ so với mức phí phải đóng; (iii) Đóng phí không đúng phương thức thanh toán đã thỏa thuận; (iv) Đóng phí sau thời hạn thỏa thuận gia hạn đóng phí nhưng trước thời điểm sự kiện bảo hiểm xảy ra; (v) Đóng phí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra.
Về nguyên tắc, nếu bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn đã thỏa thuận, hoặc sau thời gian gia hạn đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực pháp lý
[9]. Tuy nhiên, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không mặc nhiên coi việc chậm đóng phí là căn cứ làm hợp đồng tự động mất hiệu lực. Việc bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí chỉ là căn cứ làm phát sinh quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp bảo hiểm. Hợp đồng chỉ chấm dứt khi doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền này theo đúng điều kiện và trình tự luật định. Cụ thể hơn, doanh nghiệp bảo hiểm phải thể hiện ý chí chấm dứt hợp đồng thông qua việc thực hiện quyền luật định; nếu không thực hiện quyền này thì hợp đồng vẫn có thể tiếp tục tồn tại và phát sinh trách nhiệm bảo hiểm. Đây là điểm thay đổi rất căn bản của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) so với Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Nếu như khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi “
Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” thì Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành đã chuyển sang cơ chế trao quyền lựa chọn cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
Sự thay đổi này bảo đảm tốt hơn nguyên tắc tự do hợp đồng, hạn chế tình trạng hợp đồng bị mất hiệu lực một cách tự động, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên mua bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm vẫn tiếp tục thừa nhận và duy trì quan hệ bảo hiểm nếu ý chí của bên mua bảo hiểm mong muốn duy trì hợp đồng bảo hiểm và việc chậm đóng phí xuất phát từ những điều kiện khách quan như quên đóng phí hoặc gặp khó khăn tài chính trong kinh doanh. Ngược lại, trên thực tế cũng tồn tại không ít trường hợp bên mua bảo hiểm cố tình trì hoãn việc đóng phí và chỉ thực hiện nghĩa vụ sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra hoặc khi đã có thông tin về khả năng xảy ra sự kiện bảo hiểm. Trong những trường hợp này, việc xác định chính xác thời điểm đóng phí và thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, không phải mọi sự kiện bảo hiểm nào cũng xác định chính xác thời điểm xảy ra sự kiện từng giờ (Ví dụ các trở ngại khách quan, địa lý, thiên tai…); mặt khác, không phải trường hợp nào doanh nghiệp bảo hiểm cũng kiểm tra lại trước khi chấp nhận phí bảo hiểm. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm được quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Theo đó, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng không làm mất quyền yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường đối với các sự kiện bảo hiểm đã xảy ra trước thời điểm chấm dứt, đồng thời vẫn bảo đảm quyền thu phí hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm đối với thời gian hợp đồng đã có hiệu lực. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ còn tồn tại của các bên sau khi hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt, đồng thời bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm.
Về bản chất, việc chấm dứt hợp đồng chỉ có hiệu lực đối với thời gian sau khi chấm dứt, không làm mất đi các quyền và nghĩa vụ đã phát sinh trước đó. Do vậy:
- Bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm đến thời điểm hợp đồng chấm dứt (điểm a khoản 1 Điều 27). Quy định này bảo đảm nguyên tắc tương ứng giữa quyền được bảo hiểm và nghĩa vụ đóng phí. Tuy nhiên, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe (trừ bảo hiểm nhóm), việc xử lý phí bảo hiểm được thực hiện theo cơ chế riêng phù hợp với đặc thù của loại hình bảo hiểm này.
- Đối với bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe, nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm hợp đồng bị chấm dứt thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho người được bảo hiểm. Đồng thời, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền khấu trừ phần phí bảo hiểm còn phải đóng đến thời điểm chấm dứt hợp đồng (điểm b khoản 1 Điều 27).
- Đối với bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có trách nhiệm bồi thường nếu sự kiện bảo hiểm phát sinh trước thời điểm chấm dứt hợp đồng. Việc khấu trừ phí bảo hiểm được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (điểm c khoản 1 Điều 27).
3. Thực tiễn xét xử tranh chấp về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm
Tranh chấp về việc chấm dứt hợp đồng do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là dạng tranh chấp phổ biến. Trong nhiều vụ việc, doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng hợp đồng đã mất hiệu lực do bên mua bảo hiểm không đóng phí đúng thời hạn hoặc đã hết thời gian gia hạn đóng phí. Ngược lại, bên mua bảo hiểm thường cho rằng mình không được thông báo đầy đủ về việc hợp đồng bị chấm dứt hoặc doanh nghiệp bảo hiểm chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải thích các điều kiện dẫn đến mất hiệu lực hợp đồng.
Như đã đề cập, với trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí thì chấm dứt hợp đồng bảo hiểm (theo khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000) hay doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng (theo khoản 1 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành) phải đáp ứng điều kiện và trình tự luật định. Xu hướng này xuất phát từ nguyên tắc giải thích hợp đồng bảo hiểm theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm được ghi nhận tại Điều 24 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng như nguyên tắc bảo vệ bên yếu thế trong giao dịch theo pháp luật dân sự.
3.1. Thực tiễn xét xử tranh chấp về việc bên mua bảo hiểm đóng phí quá hạn nhưng doanh nghiệp bảo hiểm vẫn tiếp nhận khoản phí này
Với dạng tranh chấp này, thực tiễn xét xử, Tòa án thường xem xét nghiêm ngặt nghĩa vụ thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chứng minh được việc đã gửi thông báo nhắc đóng phí, thông báo về thời gian gia hạn hoặc thông báo về việc chấm dứt hợp đồng theo đúng quy trình nội bộ và điều khoản hợp đồng thì yêu cầu từ chối chi trả bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm có thể không được chấp nhận. Đây là quan điểm giải quyết của Tòa án trong vụ việc sau:
Theo Bản án số 41/2021/KDTM-PT của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội
[10], về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm hàng hóa giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn
V và Tổng Công ty Bảo hiểm X, các bên thỏa thuận phí bảo hiểm của các chuyến hàng phát sinh trong tháng trước phải được thanh toán chậm nhất vào ngày 25 của tháng kế tiếp. Đối với hai đơn bảo hiểm được cấp cho lô hàng hạt đậu nành nhập khẩu, Công ty V có nghĩa vụ thanh toán phí bảo hiểm trước ngày 25/9/2018 nhưng thực tế đã thanh toán vào ngày 26/9/2018, tức chậm 01 ngày so với thỏa thuận. Mặc dù vậy, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn tiếp nhận khoản phí, xuất hóa đơn và không thực hiện bất kỳ thủ tục chấm dứt hợp đồng nào. Sau đó, trong quá trình dỡ hàng từ ngày 29/9/2018 đến ngày 07/10/2018, lô hàng phát sinh tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. Công ty Bảo hiểm X từ chối bồi thường với lý do bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ đóng phí đúng hạn nên hợp đồng đã mất hiệu lực. Khi giải quyết tranh chấp, cả Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều xác định việc doanh nghiệp bảo hiểm đã tiếp nhận khoản phí quá hạn và không thông báo chấm dứt hợp đồng là căn cứ cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm đã thừa nhận hiệu lực tiếp tục của hợp đồng. Do vậy, hợp đồng bảo hiểm vẫn có hiệu lực và doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo thỏa thuận.
Từ Bản án số 41/2021/KDTM-PT, vấn đề pháp lý được đặt ra là: việc bên mua bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm sau thời hạn thỏa thuận nhưng trước thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm có làm mất hiệu lực bảo hiểm hoặc làm phát sinh quyền từ chối bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm hay không. Trong Bản án số 41/2021/KDTM-PT, khi giải quyết tranh chấp, cả Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều xác định việc doanh nghiệp bảo hiểm đã tiếp nhận khoản phí quá hạn và không thông báo chấm dứt hợp đồng là căn cứ cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm đã thừa nhận hiệu lực tiếp tục của hợp đồng. Với kết quả giải quyết của Tòa án trong vụ án này, tác giả cho rằng, cách giải quyết như vậy hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung của pháp luật hợp đồng, trong đó có nguyên tắc thiện chí, trung thực, tôn trọng cam kết, thỏa thuận đã được xác lập. Vì lẽ đó, tinh thần giải quyết của Tòa án trong Bản án số 41/2021/KDTM-PT đối với trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cũng được tiếp nhận tại Án lệ số 37/2020/AL, Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao công bố ngày 25/02/2020. Theo Án lệ số 37/2020/AL, “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ quá thời hạn được quy định tại hợp đồng nhưng được bên có quyền chấp nhận thì coi như nghĩa vụ đã không bị vi phạm hoặc như thể vi phạm chưa xảy ra”. Đây được xem như một “quy phạm” mới, bổ sung cho quy định của pháp luật hiện hành, góp phần làm rõ cách thức xử lý hậu quả pháp lý khi bên mua bảo hiểm chậm thực hiện nghĩa vụ đóng phí mà vẫn được doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận.
3.2. Thực tiễn xét xử tranh chấp về việc bên mua bảo hiểm đóng phí quá hạn sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra
Bên cạnh những tranh chấp về việc bên mua bảo hiểm đóng phí quá hạn, nhưng doanh nghiệp bảo hiểm vẫn tiếp nhận khoản phí này đã được định hướng giải quyết theo Án lệ số 37/2020/AL, thực tiễn xét xử còn phát sinh tình huống gây tranh luận là trường hợp bên mua bảo hiểm chỉ thực hiện nghĩa vụ đóng phí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra. Liệu rằng, nguyên tắc được xác lập trong Án lệ số 37/2020/AL có được áp dụng cho tình huống này hay không
[11]. Vụ việc sau phản ánh thực trạng này:
“Ngày 31/10/2019, ông Dương Tôn B ký hợp đồng bảo hiểm vật chất xe ô tô với Công ty Bảo hiểm BL đối với xe biển số 94A-033.69. Hợp đồng quy định phí bảo hiểm phải được thanh toán vào ngày 01/11/2019, nhưng ông B chưa thực hiện nghĩa vụ này. Mặc dù vậy, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm ngay khi ký kết hợp đồng.
Khoảng 14 giờ 24 phút ngày 11/12/2019, xe của ông B bị tai nạn. Sau khi tai nạn xảy ra, vào 14 giờ 40 phút cùng ngày, ông B mới chuyển khoản thanh toán phí bảo hiểm. Công ty bảo hiểm từ chối bồi thường với lý do tại thời điểm xảy ra tai nạn, ông B chưa đóng phí nên hợp đồng bảo hiểm chưa có hiệu lực. Ông B khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường thiệt hại. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện; doanh nghiệp bảo hiểm kháng cáo nhưng Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường”
[12].
Từ Bản án số 91/2023/DS-PT, có thể thấy vấn đề pháp lý cốt lõi không phải là việc bên mua bảo hiểm có vi phạm nghĩa vụ đóng phí hay không, bởi đây là tình tiết đã được xác định rõ trong quá trình giải quyết vụ án. Trọng tâm tranh chấp nằm ở việc hành vi chậm đóng phí bảo hiểm có làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng bảo hiểm hay không và doanh nghiệp bảo hiểm có được miễn trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hay không.
Trong vụ án này, doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng, hợp đồng bảo hiểm chưa phát sinh hiệu lực hoặc đã mất hiệu lực do bên mua bảo hiểm không thanh toán phí bảo hiểm đúng thời hạn. Ngược lại, bên mua bảo hiểm cho rằng, doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, thừa nhận sự tồn tại của quan hệ bảo hiểm nhưng chưa thực hiện bất kỳ thủ tục nào nhằm chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật. Do đó, tại thời điểm xảy ra tai nạn, hợp đồng bảo hiểm vẫn đang có hiệu lực và doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Khi giải quyết vụ án, Tòa án xác định rằng, việc bên mua bảo hiểm chậm đóng phí không đương nhiên làm chấm dứt hiệu lực hợp đồng bảo hiểm. Hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng phí chỉ làm phát sinh quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của pháp luật; việc hợp đồng có chấm dứt hay không còn phụ thuộc vào việc doanh nghiệp bảo hiểm đã thực hiện quyền này theo đúng điều kiện, trình tự và thủ tục luật định hay chưa. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm chưa tuyên bố chấm dứt hợp đồng hoặc không chứng minh được việc đã thực hiện quyền chấm dứt theo quy định, hợp đồng bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực và trách nhiệm bảo hiểm vẫn phát sinh khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Cách tiếp cận này cũng cho thấy, không thể đồng nhất việc chậm đóng phí với việc hợp đồng đương nhiên mất hiệu lực, bởi đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau: chậm đóng phí chỉ là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm xem xét thực hiện quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, chứ không tự động làm chấm dứt quan hệ bảo hiểm giữa các bên.
Bản án số 91/2023/DS-PT
có nhiều nét tương đồng với Án lệ số 37/2020/AL
về thời điểm đóng phí bảo hiểm của người mua bảo hiểm là sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến gì, không có thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm do đóng phí chậm, công ty vẫn nhận phí và giao Giấy chứng nhận bảo hiểm cho người mua bảo hiểm[13]. Tuy nhiên, so với Án lệ số 37/2020/AL, mối liên hệ giữa
thời điểm đóng phí và thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm là điểm khác biệt rất cơ bản của Bản án số 91/2023/DS-PT. Cụ thể hơn, ở Án lệ số 37/2020/AL,
thời điểm đóng phí là trước khi có sự kiện bảo hiểm, còn ở Bản án số 91/2023/DS-PT
, thời điểm đóng phí là sau khi có sự kiện bảo hiểm.
Từ các tình tiết của Bản án số 91/2023/DS-PT,có thể đặt ra vấn đề liệu việc áp dụng Án lệ số 37/2020/AL làm cơ sở để giải quyết vụ án có phù hợp hay không. Bởi, ngay sau khi xảy ra tai nạn, người mua bảo hiểm đã thông báo cho công ty bảo hiểm và đã được hướng dẫn làm thủ tục bồi thường. Phía công ty bảo hiểm xác nhận đã tiếp nhận thông báo về tai nạn xảy ra. Các bên và cơ quan chuyên môn đã lập biên bản, tiến hành giám định theo trình tự thủ tục luật định. Công ty bảo hiểm không có văn bản thông báo việc chậm nộp hoặc chấm dứt thực hiện hợp đồng với người mua bảo hiểm.
Thực tiễn xét xử cũng đã cho thấy, tranh chấp về trách nhiệm bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm đóng phí sau thời hạn thỏa thuận và sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra không phải là vấn đề mới. Ngay trước thời điểm Án lệ số 37/2020/AL được công bố cũng như trước khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 được ban hành thay thế Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, ngành Tòa án cũng đã giải quyết những vụ việc có tình tiết tương tự. Một trong những vụ việc tiêu biểu là tranh chấp giữa Công ty SH và Tổng Công ty Bảo hiểm BV
[14]. Theo đó, Công ty SH và Tổng Công ty Bảo hiểm BV ký hợp đồng bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu biển cho tàu SH26-ALCI, thời hạn bảo hiểm từ 03/5/2017 đến 02/5/2018. Phí bảo hiểm thân tàu được chia thành 4 kỳ; kỳ 3 phải thanh toán chậm nhất ngày 02/11/2017. Nhưng Công ty SH không thanh toán phí kỳ 3 đúng hạn. Trong khoảng đêm 03/11 đến rạng sáng 04/11/2017, tàu SH26-ALCI gặp sự cố do sóng đánh đứt neo, hỏng máy và phát sinh tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm theo thỏa thuận. Sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, ngày 04/11/2017 Công ty SH mới đến nộp phí kỳ 3. Tổng Công ty bảo hiểm BV từ chối bồi thường với lý do đơn bảo hiểm đã mất hiệu lực từ thời điểm quá hạn đóng phí ngày 02/11/2017. Công ty SH khởi kiện yêu cầu bồi thường. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty SH; cấp phúc thẩm giữ nguyên việc công nhận hiệu lực hợp đồng bảo hiểm và trách nhiệm bồi thường, chỉ điều chỉnh số tiền bồi thường.
Bản án số 04/2019/KDTM-PT đặt ra tình huống pháp lý là việc bên mua bảo hiểm chậm thanh toán phí bảo hiểm có đương nhiên làm mất hiệu lực hợp đồng hay không, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp bảo hiểm trước đó đã tiếp nhận khoản phí nộp muộn. Nói cách khác, việc doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận khoản phí nộp muộn có làm duy trì/khôi phục hiệu lực bảo hiểm đối với rủi ro đã phát sinh trước thời điểm nộp phí hay không. Tòa án hai cấp trong vụ việc này xác định rằng, việc chậm nộp phí không tự động làm chấm dứt hiệu lực bảo hiểm nếu doanh nghiệp bảo hiểm không chứng minh được việc hợp đồng đã bị chấm dứt hoặc mất hiệu lực theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Việc Tòa án vẫn công nhận hiệu lực hợp đồng và buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho thấy cách tiếp cận thực tiễn thiên về đánh giá toàn bộ quan hệ hợp đồng, thay vì coi việc quá hạn đóng phí tự động làm mất hiệu lực bảo hiểm đối với tổn thất đã phát sinh.
Mặc dù bảo vệ được quyền lợi của bên mua bảo hiểm, song
theo tác giả, hạn chế lớn nhất của Bản án số 04/2019/KDTM-PT là chưa có sự lý giải thuyết phục vì sao việc bên mua bảo hiểm nộp phí sau thời hạn, thậm chí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, vẫn không làm mất hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm. Bản án chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm mà chưa xây dựng được một cơ sở lý luận và pháp lý đủ chặt chẽ để phân biệt giữa các trường hợp: (1) Nộp phí quá hạn nhưng trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; (2) Nộp phí quá hạn và sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; (3) Doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận hay không chấp nhận việc nộp phí quá hạn
[15].
Ngoài ra, từ các tình tiết của vụ án có thể thấy Tổng Công ty Bảo hiểm BV đã từng chấp nhận việc Công ty SH nộp chậm phí bảo hiểm kỳ 2 trước đó mặc dù khoản phí này cũng được thanh toán chậm so với thời hạn thỏa thuận. Theo tác giả, đây là tình tiết có ý nghĩa quan trọng để xem xét ý chí và sự chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm, cũng như xác định liệu việc chậm thanh toán có thực sự được các bên xem là căn cứ làm mất hiệu lực bảo hiểm hay không. Tuy nhiên, bản án chưa phân tích và đánh giá đầy đủ tình tiết này khi xem xét hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hơn nữa, trong vụ án này, bên mua bảo hiểm chỉ nộp phí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, nhưng bản án chưa lý giải thuyết phục vì sao việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp này không ảnh hưởng đến trách nhiệm bảo hiểm. Do đó, lập luận của Tòa án chưa thực sự làm rõ vì sao việc chậm đóng phí kỳ 3 không dẫn đến hậu quả mất hiệu lực hợp đồng, đặc biệt với bối cảnh phí được nộp sau khi tổn thất đã phát sinh. Điều này không chỉ dẫn đến nguy cơ trục lợi bảo hiểm
[16] mà còn thiếu sự định hướng áp dụng pháp luật do không có nguyên tắc xử lý rõ ràng cho các tranh chấp tương tự.
4. Kết luận và kiến nghị
Từ các quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và thực tiễn xét xử đã phân tích, có thể thấy, pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm vẫn còn một số hạn chế cần được tiếp tục hoàn thiện.
Thứ nhất, pháp luật chưa quy định rõ hậu quả pháp lý của việc doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận phí bảo hiểm quá hạn sau khi đã phát sinh căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Khoản 1 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) trao cho doanh nghiệp bảo hiểm quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng khi bên mua bảo hiểm không đóng hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thỏa thuận. Tuy nhiên, Luật chưa quy định rõ hậu quả pháp lý trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không thực hiện quyền này mà vẫn tiếp nhận khoản phí được thanh toán quá hạn.
Mặc dù Án lệ số 37/2020/AL xác định việc doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận phí quá hạn và không thông báo chấm dứt hợp đồng được xem là sự chấp nhận tiếp tục duy trì hiệu lực hợp đồng, nhưng cách giải quyết này mới dừng lại ở hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án. Do đó, theo tác giả, cần ban hành văn bản (có thể là Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao) hướng dẫn về vấn đề này, theo hướng xác định rõ rằng việc doanh nghiệp bảo hiểm biết và chấp nhận khoản phí quá hạn nhưng không thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng trong một thời hạn hợp lý được xem là sự đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Thứ hai, pháp luật chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý trường hợp bên mua bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra.
Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chưa có quy định điều chỉnh trực tiếp đối với trường hợp bên mua bảo hiểm hoàn thành nghĩa vụ đóng phí sau khi sự kiện bảo hiểm phát sinh nhưng trước thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đây là khoảng trống pháp lý đáng chú ý bởi thực tiễn xét xử đã phát sinh các tranh chấp liên quan.
Mặc dù Tòa án có xu hướng bảo vệ bên mua bảo hiểm khi doanh nghiệp bảo hiểm chưa thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng, nhưng cách giải quyết này chưa thực sự thuyết phục trong trường hợp phí bảo hiểm được thanh toán sau khi rủi ro đã xảy ra, bởi tình huống này khác về bản chất so với trường hợp được đề cập trong Án lệ số 37/2020/AL và tiềm ẩn nguy cơ trục lợi bảo hiểm. Vì vậy, theo tác giả, cần ban hành văn bản (có thể là Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao) hướng dẫn thống nhất về việc xác định trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, trên cơ sở xem xét toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng, đặc biệt là việc doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện quyền chấm dứt hợp đồng hay không, có từng chấp nhận việc đóng phí quá hạn trước đó hay không và có căn cứ chứng minh hành vi trục lợi bảo hiểm của bên mua bảo hiểm hay không? Việc ban hành hướng dẫn theo hướng này sẽ góp phần bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, đồng thời nâng cao tính thống nhất trong hoạt động xét xử.
Có thể khẳng định rằng, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã có bước chuyển biến quan trọng khi thay thế cơ chế hợp đồng bảo hiểm đương nhiên chấm dứt bằng cơ chế trao quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng cho doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, vẫn còn tồn tại những khoảng trống pháp lý liên quan đến hậu quả của việc doanh nghiệp bảo hiểm tiếp nhận phí bảo hiểm quá hạn và trường hợp bên mua bảo hiểm thanh toán phí sau khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra. Việc ban hành các hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất đối với các trường hợp này là cần thiết nhằm bảo đảm tính dự đoán, thống nhất trong hoạt động xét xử, đồng thời cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong tương lai./.
[1] Nguyễn Thị Thủy,
Pháp luật về bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức
, năm 2017, tr. 93.
[2] Đỗ Văn Đại,
Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2010, tr. 175.
[3] Trường Đại học Kinh tế quốc dân,
Giáo trình Bảo hiểm, Nxb. Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2008, tr. 10.
[4] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh,
Giáo trình Pháp luật kinh doanh bảo hiểm, Nxb. Công an nhân dân, năm 2024, tr. 309.
[5] Nguyễn Thị Thủy,
Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, năm 2017, tr. 154.
[6] Nguyễn Thị Thủy,
Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5(42), năm 2007, tr. 28 - 32.
[7] Nguyễn Thị Thủy,
Pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, năm 2017, tr. 154.
[8] Trần Phước Thu,
Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014, tr. 16.
[9] Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh,
Giáo trình Pháp luật kinh doanh bảo hiểm, Nxb. Công an nhân dân, năm 2024, tr. 303.
[10] Bản án số 41/2021/KDTM-PT ngày
18/3/2020 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
[11] Nguyễn Thị Thủy,
Về nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm và thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5(42), năm 2007, tr. 28 - 32.
[12] Bản án số 91/2023/DS-PT ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
[13] Tiến Minh (2024), Về thời điểm đóng phí bảo hiểm và xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, https://www.toaan.gov.vn/webcenter/ShowProperty?nodeId=/UCMServer/TAND349307, truy cập ngày 01/3/2026.
[14] Bản án số 04/2019/KDTM-PT ngày 30/01/2019 của Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
[15] Nguyễn Thị Thủy,
Pháp luật về bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, năm 2017, tr. 154.
[16] Nguyễn Thị Thủy,
Chống trục lợi bảo hiểm tài sản trong Luật Kinh doanh bảo hiểm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 (83), năm 2006, tr. 21 - 29.