Kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương thông qua cơ chế thực hiện quyền tố cáo

15/07/2026

TS. NGUYỄN ĐỨC VINH

Trường Đại học Ngoại thương – Phân hiệu TP. Hồ Chí Minh.

TS. NGUYỄN THỊ HOÀN

Học viện Hành chính và Quản trị công.

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước đang đẩy mạnh tinh giản bộ máy hành chính, tinh gọn đầu mối quản lý, việc phát huy các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó có cơ chế thực hiện quyền tố cáo của công dân, ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích những hạn chế trong cơ chế thực hiện quyền tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và xây dựng cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tố cáo hiệu quả, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực nhà nước; tố cáo; giải quyết tố cáo; Luật Tố cáo.
Abstract: In the context of the State promoting the streamlining of the administrative apparatus and simplifying management units, strengthening mechanisms for controlling state power, including the mechanism of exercising citizens’ right to denunciation, is becoming increasingly urgent. The article analyzes the limitations in the current legal framework governing the exercise of the right to denunciation by citizens. On this basis, it proposes recommendations to improve the law and to build mechanisms that ensure the effective implementation of the right to denunciation, thereby contributing to strengthening control of state power at the local level.
Keywords: Controlling state power; denunciation; settlement of denunciations; Law on Denunciation.
06.Nguôn-ChatGPT-Bai-so-6-cua-Tap-chi-so-12.png
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Đặt vấn đề
Quyền lực nhà nước, về bản chất, là quyền lực do Nhân dân ủy quyền cho bộ máy công quyền nhằm tổ chức và quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức và thực thi, quyền lực nhà nước luôn tiềm ẩn nguy cơ bị lạm dụng, tha hóa nếu không được đặt dưới các cơ chế kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước, vì vậy trở thành yêu cầu khách quan, nhằm bảo đảm cho quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật và phục vụ lợi ích của Nhân dân[1]. Chính quyền địa phương là cấp chính quyền trực tiếp gắn bó với đời sống xã hội, nơi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai cụ thể. Nếu thiếu các cơ chế kiểm soát hữu hiệu, nguy cơ phát sinh các hành vi lạm quyền, vi phạm pháp luật, tham nhũng là rất lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của Nhân dân và sự phát triển bền vững của địa phương. Trong bối cảnh hiện nay, khi Nhà nước đang đẩy mạnh chủ trương tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp địa phương càng trở nên cấp thiết. Do đó, bên cạnh các cơ chế kiểm soát nội bộ trong bộ máy nhà nước, việc phát huy vai trò kiểm soát quyền lực từ bên ngoài, đặc biệt thông qua Nhân dân, có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 và pháp luật hiện hành đã ghi nhận quyền tố cáo của công dân như một quyền hiến định cơ bản. Thông qua việc thực hiện quyền tố cáo, công dân có thể phản ánh, phát hiện và cung cấp thông tin về những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ. Khi quyền tố cáo được bảo đảm và thực hiện một cách thực chất, người dân sẽ trở thành kênh giám sát quan trọng, góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương và phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi lạm dụng quyền lực.
2. Khái quát về quyền tố cáo của người dân theo quy định của pháp luật hiện hành
Tố cáo là kênh thông tin quan trọng phản ánh những biểu hiện hạn chế, tiêu cực,  sai phạm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Các thông tin do công dân cung cấp thông qua tố cáo là cơ sở thực tiễn để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chấn chỉnh kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong nhiều trường hợp, tố cáo của công dân còn đóng vai trò là nguồn thông tin ban đầu, giúp cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn những thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra đối với lợi ích của Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Khác với quyền khiếu nại - vốn chủ yếu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân bị xâm phạm, quyền tố cáo mang bản chất bảo vệ lợi ích công và thể hiện chức năng giám sát xã hội của Nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Theo đó, cá nhân có quyền tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; những vi phạm trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khi các hành vi này gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông qua việc thực hiện quyền tố cáo, Nhân dân trực tiếp tham gia vào quá trình kiểm soát quyền lực, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện suy thoái trong bộ máy công quyền[2].
Luật Tố cáo năm 2018 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và 2025) đã cụ thể hóa quyền tố cáo của công dân bằng việc quy định rõ các hình thức tố cáo, thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo, cũng như các biện pháp bảo vệ người tố cáo.
Trước hết, Luật Tố cáo hiện hành đã làm rõ chủ thể, phạm vi và đối tượng của tố cáo. Theo quy định của Luật, tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục luật định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc trong quản lý nhà nước. Quy định này cho thấy phạm vi tố cáo không chỉ giới hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức, mà còn mở rộng tới mọi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, qua đó mở rộng đáng kể không gian giám sát xã hội của công dân.
Thứ hai, Luật Tố cáo hiện hành đã quy định các hình thức tố cáo tương đối đa dạng, bao gồm tố cáo bằng đơn và tố cáo trực tiếp. Việc ghi nhận nhiều hình thức thực hiện quyền tố cáo tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công dân trong việc tiếp cận và thực hiện quyền hiến định của mình, đồng thời góp phần khắc phục tình trạng người dân ngại tố cáo do rào cản về thủ tục hành chính.
Thứ ba, các quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo được thiết kế theo hướng phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể có thẩm quyền. Luật quy định cụ thể trách nhiệm tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo và xử lý hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo. Việc xác định rõ các giai đoạn trong quy trình giải quyết tố cáo không chỉ nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong xử lý tố cáo, mà còn là cơ sở để kiểm soát trách nhiệm của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết, hạn chế tình trạng kéo dài, né tránh hoặc giải quyết không dứt điểm tố cáo.
Thứ tư, một điểm tiến bộ nổi bật của Luật Tố cáo hiện hành là việc quy định tương đối đầy đủ về bảo vệ người tố cáo. Luật đã dành một chương riêng quy định về các biện pháp bảo vệ người tố cáo, bao gồm bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo và người thân thích của họ. Những quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều người dân còn tâm lý e ngại, lo sợ bị trả thù, trù dập khi thực hiện quyền tố cáo, nhất là đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong nội bộ cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật Tố cáo hiện hành cũng đặt ra nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người tố cáo, nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền tố cáo đúng mục đích, đúng pháp luật. Theo đó, người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình; các hành vi lợi dụng quyền tố cáo để vu khống, xuyên tạc, gây ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân khác đều bị xử lý theo quy định pháp luật. Quy định này góp phần bảo đảm sự cân bằng giữa việc khuyến khích tố cáo và việc phòng ngừa, ngăn chặn lạm dụng quyền tố cáo.
Nhìn chung, các quy định của Luật Tố cáo hiện hành đã tạo lập cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho việc thực hiện quyền tố cáo của công dân, qua đó góp phần tăng cường vai trò giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định liên quan đến hiệu quả bảo vệ người tố cáo, tính khả thi của một số quy định về thủ tục, cũng như trách nhiệm giải quyết tố cáo của cơ quan có thẩm quyền. Đây là những vấn đề đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tố cáo trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp chính quyền địa phương.
3. Những hạn chế về kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương bằng cơ chế thực hiện quyền tố cáo và kiến nghị hoàn thiện
Thứ nhất, các quy định pháp luật về tố cáo còn đặt gánh nặng chứng minh lên người tố cáo, làm giảm khả năng tham gia giám sát của Nhân dân.
Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo hiện hành quy định: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo quy định trên thì hành vi bị tố cáo phải là hành vi vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ[3]. Trong trường hợp cá nhân chưa nắm chắc chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật mà tiến hành tố cáo thì hệ quả phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9 Luật Tố cáo hiện hành. Nhìn nhận một cách khách quan, với khả năng của mình thì cá nhân không thể thay mặt Nhà nước trong công tác minh chứng có hay không một hành vi vi phạm pháp luật[4]. Điều đó dẫn đến tâm lý lo sợ không thực hiện quyền tố cáo. Như vậy, cách quy định của pháp luật hiện hành đã gián tiếp hạn chế người dân thực hiện quyền tố cáo của mình.
Do đó, trước hết cần nghiên cứu hoàn thiện khái niệm tố cáo theo hướng tiếp cận linh hoạt hơn, phù hợp với bản chất của quyền tố cáo là quyền phản ánh, cung cấp thông tin về dấu hiệu vi phạm pháp luật. Pháp luật có thể sửa đổi, bổ sung theo hướng ghi nhận tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật, thay vì yêu cầu người tố cáo phải xác định chắc chắn đó là hành vi vi phạm pháp luật. Cách quy định này sẽ phù hợp hơn với thực tiễn, đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa người tố cáo và cơ quan có thẩm quyền trong việc xác minh, kết luận hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần làm rõ hơn phạm vi trách nhiệm pháp lý của người tố cáo, bảo đảm sự phân biệt rạch ròi giữa tố cáo sai do cố ý và tố cáo không đúng do nhầm lẫn khách quan hoặc do hạn chế về khả năng nhận thức, chứng cứ. Pháp luật nên quy định theo hướng người tố cáo chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý khi cố ý tố cáo sai sự thật, vu khống, bịa đặt nhằm xâm hại đến uy tín, danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đối với các trường hợp tố cáo xuất phát từ thiện chí, có căn cứ hợp lý nhưng chưa đủ chứng cứ để kết luận vi phạm, cần được loại trừ trách nhiệm pháp lý nhằm khuyến khích công dân mạnh dạn thực hiện quyền tố cáo.
Thứ hai, Luật Tố cáo hiện hành chưa ghi nhận tố cáo nặc danh như một hình thức tố cáo hợp pháp.
Theo quy định của Luật, người tố cáo phải ghi rõ họ tên, địa chỉ và cung cấp thông tin cá nhân để cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết tố cáo[5]. Quy định này nhằm bảo đảm tính xác thực của thông tin tố cáo, tạo cơ sở pháp lý cho việc xác minh nội dung tố cáo, đồng thời xác định trách nhiệm pháp lý của người tố cáo đối với nội dung mà mình cung cấp. Tuy nhiên, trong thực tiễn quản lý nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật tại chính quyền địa phương, việc không thừa nhận tố cáo nặc danh đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật, tiêu cực, tham nhũng chỉ có thể được phát hiện thông qua nguồn thông tin từ những người trong nội bộ cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, tâm lý e ngại bị trả thù, trù dập, gây khó khăn trong công việc và đời sống khiến nhiều cá nhân không dám thực hiện quyền tố cáo công khai danh tính, mặc dù Luật đã có các quy định về bảo vệ người tố cáo. Việc không tiếp nhận tố cáo nặc danh vì vậy có thể làm mất đi những nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác kiểm soát quyền lực nhà nước. Mặt khác, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, không ít trường hợp tố cáo nặc danh, dù không đáp ứng yêu cầu về hình thức theo Luật Tố cáo, nhưng nội dung phản ánh lại có căn cứ, kèm theo tài liệu, chứng cứ cụ thể và có giá trị. Việc pháp luật chưa có cơ chế tiếp nhận, sàng lọc và xử lý phù hợp đối với các thông tin tố cáo nặc danh làm hạn chế hiệu quả phát hiện sớm và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị:
Một là, cần xem xét bổ sung quy định cho phép tiếp nhận tố cáo nặc danh với tư cách là một nguồn thông tin đặc biệt phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và phòng, chống vi phạm pháp luật[6]. Việc ghi nhận tố cáo nặc danh không đồng nghĩa với việc thừa nhận đây là một hình thức tố cáo chính thức có đầy đủ giá trị pháp lý như tố cáo có danh tính, mà cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, có điều kiện. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền chỉ tiếp nhận, xem xét và tiến hành xác minh đối với những tố cáo nặc danh có nội dung cụ thể, rõ ràng, kèm theo tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin có khả năng kiểm chứng. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm khai thác được các nguồn thông tin có giá trị từ xã hội, vừa hạn chế nguy cơ lạm dụng tố cáo nặc danh để vu khống, bôi nhọ cá nhân, tổ chức.
Hai là, cần xây dựng cơ chế sàng lọc, phân loại và xử lý tố cáo nặc danh một cách chặt chẽ và minh bạch. Pháp luật nên quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận trong việc đánh giá sơ bộ độ tin cậy của thông tin tố cáo nặc danh, xác định tính cấp thiết và mức độ ảnh hưởng của hành vi bị phản ánh, từ đó quyết định việc kiểm tra, xác minh hoặc chuyển thông tin cho cơ quan có thẩm quyền khác. Việc thiết lập quy trình này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả xử lý tố cáo, mà còn tránh tình trạng quá tải, lãng phí nguồn lực hoặc xử lý tùy tiện, thiếu căn cứ.
Ba là, song song với việc mở rộng khả năng tiếp nhận tố cáo nặc danh, cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các cơ chế bảo vệ người tố cáo có danh tính[7]. Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân khiến công dân lựa chọn tố cáo nặc danh là do lo ngại bị trả thù, trù dập hoặc gây khó khăn trong công việc và đời sống. Do đó, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ người tố cáo; tăng cường chế tài xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo; đồng thời bảo đảm việc bảo vệ được thực hiện kịp thời, thực chất và hiệu quả. Khi niềm tin của người dân vào cơ chế bảo vệ được củng cố, nhu cầu tố cáo nặc danh sẽ từng bước được hạn chế.
Thứ ba, cơ chế tiếp nhận và giải quyết tố cáo tại chính quyền địa phương còn thiếu tính độc lập, khách quan, làm hạn chế hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước.
Trong bối cảnh tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương mang tính khép kín tương đối, với mối quan hệ công tác, quản lý đan xen chặt chẽ giữa các chủ thể trong cùng một hệ thống, việc thiếu tính độc lập trong giải quyết tố cáo càng làm gia tăng nguy cơ hình thành cơ chế “tự kiểm soát nội bộ” kém hiệu quả. Khi người có thẩm quyền giải quyết tố cáo đồng thời là người quản lý trực tiếp hoặc có quan hệ lợi ích, quan hệ trách nhiệm với người bị tố cáo, tính khách quan, vô tư trong quá trình xác minh, kết luận nội dung tố cáo khó được bảo đảm. Điều này dẫn đến nguy cơ nương nhẹ trách nhiệm, né tránh xử lý, hoặc thậm chí bao che cho hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt đối với các vụ việc liên quan đến cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương[8]. Hệ quả của tình trạng trên không chỉ dừng lại ở việc giảm hiệu quả xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía Nhân dân. Khi quyền tố cáo không được bảo đảm giải quyết một cách độc lập, khách quan và minh bạch, người dân sẽ dần mất niềm tin vào khả năng tự chấn chỉnh của bộ máy chính quyền địa phương, từ đó lựa chọn không thực hiện hoặc hạn chế thực hiện quyền tố cáo. Điều này làm suy yếu vai trò giám sát xã hội của công dân, khiến quyền lực nhà nước ở địa phương có nguy cơ vận hành trong “vùng tối”, thiếu sự kiểm soát hữu hiệu từ bên ngoài. Mặt khác, việc giải quyết tố cáo thiếu tính độc lập còn dễ dẫn đến tình trạng tố cáo kéo dài, tố cáo vượt cấp hoặc khiếu kiện phức tạp, gây mất ổn định trật tự xã hội và làm tăng gánh nặng cho các cơ quan nhà nước cấp trên. Thay vì trở thành công cụ phát hiện và ngăn chặn sớm các hành vi lạm quyền, vi phạm pháp luật, cơ chế tố cáo trong trường hợp này lại trở thành điểm nghẽn trong quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương. Xét từ góc độ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm tính độc lập trong tiếp nhận và giải quyết tố cáo không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật pháp lý, mà còn là điều kiện cần thiết để khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và chịu sự kiểm soát của Nhân dân. Nếu cơ chế giải quyết tố cáo không tách bạch rõ ràng giữa chủ thể bị giám sát và chủ thể thực hiện giám sát, thì quyền tố cáo khó có thể phát huy đầy đủ vai trò là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả đối với chính quyền địa phương[9].
Từ yêu cầu bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả, cần thiết phải xây dựng cơ chế giải quyết tố cáo độc lập trong hoạt động của chính quyền địa phương. Theo đó, pháp luật nên thiết kế mô hình giải quyết tố cáo theo hướng tách bạch tương đối giữa chủ thể bị tố cáo và chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố cáo, đặc biệt đối với các tố cáo liên quan đến cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Cơ chế này có thể được thực hiện thông qua việc mở rộng thẩm quyền và tăng cường vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước, hoặc thiết lập đầu mối giải quyết tố cáo mang tính độc lập, không trực thuộc trực tiếp cơ quan, tổ chức nơi người bị tố cáo đang công tác. Việc xây dựng cơ chế giải quyết tố cáo độc lập không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân, qua đó phát huy đầy đủ vai trò của quyền tố cáo như một công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước đối với chính quyền địa phương trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ tư, pháp luật hiện hành chưa ghi nhận đầy đủ các hình thức tố cáo thông qua phương tiện điện tử như một hình thức độc lập, điều này phần nào chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước hiện nay.
Theo quy định tại Điều 22 Luật Tố cáo hiện hành, về hình thức, việc tố cáo chỉ được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Luật không quy định hình thức tố cáo thông qua phương tiện điện tử. Trên thực tế, nhiều cơ quan nhà nước đã tiếp nhận thông tin tố cáo qua thư điện tử hoặc cổng thông tin điện tử. Tuy nhiên, do thiếu quy định cụ thể nên việc tiếp nhận và giải quyết còn mang tính linh hoạt, thiếu thống nhất giữa các địa phương. Trong một số trường hợp, tố cáo điện tử không được thụ lý chỉ vì không đúng hình thức theo quy định của pháp luật, từ đó làm giảm hiệu quả thực hiện quyền tố cáo của công dân. Bất cập này trở nên rõ nét hơn trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, khi nhiều hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng gắn với dữ liệu và hệ thống thông tin số. Tuy nhiên, pháp luật về tố cáo chưa theo kịp thực tiễn đó, dẫn đến việc người dân gặp khó khăn khi phản ánh kịp thời các hành vi vi phạm xảy ra trên môi trường số. Bên cạnh đó, trong điều kiện tinh giản bộ máy nhà nước, các kênh tiếp dân trực tiếp có xu hướng thu hẹp. Nếu pháp luật không mở rộng và hoàn thiện các hình thức tố cáo trực tuyến, khả năng người dân tiếp cận và thực hiện quyền tố cáo sẽ bị hạn chế. Điều này làm cho quyền tố cáo chưa phát huy đầy đủ vai trò là công cụ để Nhân dân giám sát hoạt động của chính quyền địa phương. Do đó, trong bối cảnh chuyển đổi số và tinh giản bộ máy nhà nước hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật theo hướng ghi nhận đầy đủ tố cáo thông qua phương tiện điện tử như một hình thức tố cáo độc lập là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương.
4. Kết luận
Kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp địa phương là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước hiện nay. Quyền tố cáo, với tư cách là một quyền hiến định, có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi lạm dụng quyền lực, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, những hạn chế trong các quy định pháp luật về tố cáo và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này đã phần nào làm giảm hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía Nhân dân. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tố cáo, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo là yêu cầu cấp thiết, nhằm phát huy đầy đủ vai trò của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương./.

[1] Nguyễn Thị Tuyết Mai - Nguyễn Tất Viễn, Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước - Thực tiễn vận hành và những vấn đề đặt ra hiện nay, https://danchuphapluat.vn/co-che-kiem-soat-quyen-luc-nha-nuoc-thuc-tien-van-hanh-va-nhung-van-de-dt-ra-hien-nay, truy cập ngày 24/1/2026.
[2] Trần Hải Định, Huỳnh Quý, Hồ Đức Hiệp, Trần Quyết Thắng, Kiểm soát quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2025, tr.16.
[3] Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Nhập môn luật học, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, năm 2024, tr. 233.
[4] Cao Vũ Minh, Một số bất cập trong các quy định của Luật Tố cáo năm 2011 và hướng hoàn thiệnTạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2016, năm 2016, tr. 15.
[5] Khoản 1 Điều 23 Luật Tố cáo hiện hành.
[6] Cao Vũ Minh và Nguyễn Công Tây, Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, http://tapchimattran.vn/thuc-tien/hoan-thien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao-41901.html, truy cập ngày 28/12/2025.
[7] Trần Lê Đăng Phương, Bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện, https://danchuphapluat.vn/bao-ve-bi-mat-thong-tin-nguoi-to-cao-mot-so-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien-4259.html, truy cập ngày 23/1/2026.
[8] Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Phan Quốc Kiệt, Bất cập trong Luật Tố cáo năm 2018 và hướng hoàn thiện, Tạp chí Thanh tra, số 07, năm 2022, tr. 32.
[9] Trịnh Thị Xuyến, Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực trạng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012, tr. 132.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12 (519), tháng 06/2026.)


Thống kê truy cập

42322661

Tổng truy cập