Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung trình bày, làm rõ quy định về người làm chứng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định về người làm chứng; trên cơ sở đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.
Từ khóa: Bộ luật Tố tụng hình sự; tố tụng hình sự; người làm chứng; người tham gia tố tụng.
Abstract: Within the scope of this article, the author clarifies the provisions regarding witnesses and identifies several limitations and inadequacies therein. On this basis, the author proposes recommendations for amending and supplementing witness-related provisions in the current Criminal Procedure Code.
Keywords: Criminal Procedure Code; criminal procedure; witness; participants in legal procedure.
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Quy định về người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành[1]
Trong quá trình tố tụng hình sự (TTHS), sự tham gia của người làm chứng có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan, toàn diện vụ án. Theo quy định tại Điều 87 Bộ luật TTHS năm 2015, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ.
Bộ luật TTHS năm 2003 không đưa ra khái niệm về người làm chứng mà chỉ ra đặc điểm của người làm chứng: “Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”
[2]. Khắc phục hạn chế này, khoản 1 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm về người làm chứng:
“Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng”. Như vậy, so với Bộ luật TTHS năm 2003, khái niệm người làm chứng trong Bộ luật TTHS năm 2015 đã được xây dựng đầy đủ và rõ ràng hơn. Theo đó, người làm chứng trước hết là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án
[3]. “Biết” ở đây có thể là trực tiếp nhìn thấy, trực tiếp nghe thấy hoặc nghe người khác kể lại… về nguồn tin tội phạm, về vụ án. Tuy nhiên, người này chỉ trở thành người làm chứng khi họ được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
1.1. Về triệu tập người làm chứng
Việc triệu tập người làm chứng được quy định tại Điều 185 Bộ luật TTHS năm 2015. Cụ thể:
- Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập.
Như vậy, việc triệu tập người làm chứng do Điều tra viên thực hiện bằng giấy triệu tập. Do đó, Điều tra viên không được gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người làm chứng đến làm việc mà không có giấy triệu tập.
- Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Điều tra viên cần tính toán hợp lý về thời gian, về việc đi lại của người làm chứng để tránh gây phiền hà, khó khăn cho người làm chứng.
- Việc giao giấy triệu tập người làm chứng được quy định cụ thể theo ba trường hợp: (1) Giao giấy triệu tập cho người làm chứng từ đủ 18 tuổi trở lên; (2) Giao giấy triệu tập cho người làm chứng dưới 18 tuổi; (3) Giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài.
- Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy lời khai; trong trường hợp này việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo các quy định trên.
1.2. Về những người không được làm chứng
Để bảo đảm tính khách quan, chính xác trong lời khai của người làm chứng, khoản 2 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định những người sau đây không được làm chứng:
- Người bào chữa của người bị buộc tội. Người bào chữa của người bị buộc tội là người bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội, do đó lời khai của họ sẽ không bảo đảm sự khách quan, vô tư mà theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Vì vậy, người bào chữa cho người bị buộc tội không thể đồng thời là người làm chứng trong vụ án.
- Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn. Để bảo đảm tính chính xác trong lời khai, đòi hỏi người làm chứng phải có khả năng nhận thức được những tình tiết hoặc có khả năng khai báo đúng đắn, do đó, người không có khả năng nêu trên thì không được làm chứng.
1.3. Về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng
Khoản 3 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định người làm chứng có quyền:
- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ
[4]. Khi triệu tập người làm chứng để lấy lời khai, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập phải có trách nhiệm thông báo, giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ của họ.
- Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.
- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng. Theo đó, người làm chứng có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.
Khoản 4 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định người làm chứng có nghĩa vụ:
- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.
- Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.
1.4. Về dẫn giải người làm chứng
Việc dẫn giải người làm chứng được quy định tại Điều 127 Bộ luật TTHS năm 2015. Theo đó:
- Người làm chứng có thể bị dẫn giải trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
- Thẩm quyền ra quyết định dẫn giải thuộc về Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử.
- Quyết định dẫn giải là một loại văn bản tố tụng, vì vậy trong quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật TTHS năm 2015.
- Về thi hành quyết định dẫn giải, người thi hành quyết định dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc dẫn giải theo quy định tại Điều 133 Bộ luật TTHS năm 2015. Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.
- Không được bắt đầu việc dẫn giải người vào ban đêm
[5]. Sở dĩ luật cấm việc dẫn giải vào ban đêm là do tính chất, đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế này không cấp bách, nghiêm trọng như các biện pháp ngăn chặn khác. Ngoài ra, không được dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế bởi lẽ những người già yếu, người bị bệnh nặng nếu bị áp dụng biện pháp dẫn giải có thể sẽ gây tổn hại cho tính mạng, sức khỏe của họ.
1.5. Về lấy lời khai người làm chứng
Lấy lời khai người làm chứng là biện pháp điều tra nhằm thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của người làm chứng về những tình tiết mà họ biết có liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án. Lấy lời khai người làm chứng được quy định tại Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015. Theo đó:
- Địa điểm tiến hành lấy lời khai người làm chứng có thể là nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó. Nơi tiến hành điều tra có thể hiểu là nơi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể như hiện trường vụ án, nơi thực nghiệm điều tra, nơi đang tiến hành khám xét... hoặc hiểu rộng ra là địa phương nơi mà hoạt động điều tra đang được tiến hành (Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, trụ sở Cơ quan điều tra...). Việc quy định địa điểm tiến hành lấy lời khai của người làm chứng có tính chất tùy nghi như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Điều tra viên, người làm chứng trong việc lấy và cung cấp lời khai.
- Một vụ án hình sự có thể có một hoặc nhiều người làm chứng. Trong trường hợp vụ án có nhiều người làm chứng, để bảo đảm tính khách quan trong quá trình lấy lời khai thì Điều tra viên phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai bởi những người làm chứng có thể bị ảnh hưởng bởi lời khai của nhau.
- Khoản 3 Điều luật quy định trách nhiệm của Điều tra viên, cán bộ điều tra trước khi lấy lời khai của người làm chứng. Theo đó, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015. Việc này phải ghi vào biên bản.
- Khoản 4 Điều luật quy định về những yêu cầu mà Điều tra viên phải thực hiện khi lấy lời khai của người làm chứng. Do trong vụ án hình sự, người làm chứng có thể có mối quan hệ nhất định với bị can, bị hại, vì vậy Điều luật quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng. Việc làm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá động cơ và thái độ khai báo của người làm chứng. Khi lấy lời khai, Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi. Quá trình lấy lời khai, Điều tra viên cần chú ý đến những yếu tố khách quan và chủ quan thúc đẩy hoặc kìm hãm người làm chứng khai báo như tình trạng sức khỏe của người làm chứng, điều kiện tri giác sự việc, khả năng nhận thức và trình độ hiểu biết của họ...
- Khoản 5 Điều luật quy định những trường hợp Kiểm sát viên lấy lời khai của người làm chứng. Theo đó, trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại Điều này.
2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định về người làm chứng của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành và kiến nghị hoàn thiện
Thứ nhất, việc triệu tập người làm chứng.
Theo điểm a khoản 3 Điều 185 Bộ luật TTHS năm 2015: “Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận...”. Có thể thấy, quy định này còn mang tính chung chung và chưa đầy đủ, chẳng hạn như sau khi người làm chứng ký nhận thì việc chuyển phần giấy triệu tập này được thực hiện như thế nào? Nếu người làm chứng không ký nhận thì xử lý ra sao? Hay nếu người làm chứng vắng mặt thì giao giấy
triệu tập cho ai... Trong khi đó, việc giao nhận giấy triệu tập bị can đã được quy định rất cụ thể và đầy đủ về những vấn đề nêu trên tại khoản 2 Điều 182 Bộ luật TTHS năm 2015
[6]. Do đó, tác giả kiến nghị sửa đổi điểm a khoản 3 Điều 185 Bộ luật TTHS năm 2015 theo hướng giống với việc triệu tập bị can, cụ thể như sau:
“3. Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:
a) Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Việc giao nhận giấy triệu tập được tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều 182 của Bộ luật này. Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ”.
Thứ hai, về người không được làm chứng.
Tác giả cho rằng, những người không được làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 là chưa đầy đủ. Cần bổ sung quy định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng không được làm chứng, bởi lẽ họ là đại diện của bên buộc tội nhân danh Nhà nước, vì vậy họ không thể bị lôi cuốn vào tố tụng với tư cách chủ thể tư. Bên cạnh đó, việc quy định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được làm chứng cũng là sự bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong TTHS giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Theo đó, người bào chữa của người bị buộc tội (bên gỡ tội) được hưởng quyền miễn trừ làm chứng (họ không được làm chứng). Về vấn đề này, có quản điểm cho rằng: “Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như Thẩm phán phải có quyền miễn trừ làm chứng hoặc họ có thể bị triệu tập đến Tòa án với tư cách của chính họ - đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng trình bày về những tình tiết liên quan đến hành vi tố tụng mà họ thực hiện hoặc tham gia chứ không phải với tư cách người làm chứng”
[7]. Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“2. Những người sau đây không được làm chứng:
a) Người bào chữa của người bị buộc tội; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn”.
Thứ ba, về quyền của người làm chứng.
Xét về tổng thể, nếu so sánh với quyền của những người tham gia tố tụng khác như bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cho thấy, quyền của người làm chứng bị hạn chế hơn. Theo đó, Bộ luật TTHS năm 2015 đã không quy định một số quyền cho người làm chứng mà những người tham gia tố tụng khác có được. Có thể chỉ ra một số quyền quan trọng và cần thiết mà người làm chứng không được hưởng khi tham gia vào quá trình TTHS:
- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quan điểm của mình; xem biên bản phiên tòa.
Đây là quyền được quy định cho bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật TTHS năm 2015 thì: “Người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án…”. Sự có mặt của người làm chứng bảo đảm cho việc xác minh trực tiếp, công khai chứng cứ. Trong thực tế, nhiều trường hợp Tòa án cần hỏi thêm người làm chứng về những tình tiết của vụ án; bị cáo, bị hại, người bào chữa... cũng có thể phản đối lời khai của người làm chứng, nên người làm chứng phải có mặt tại phiên tòa để giải thích thêm về những lời khai của mình. Bên cạnh đó, việc quy định tại phiên tòa, người làm chứng được trình bày ý kiến, tham gia tranh luận sẽ bảo đảm sự bình đẳng trong tranh tụng góp phần làm sáng tỏ lời khai, tình tiết vụ án, nhất là trong trường hợp lời khai của người làm chứng có mâu thuẫn với lời khai của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Ngoài ra, nếu trường hợp biên bản phiên tòa trích dẫn sai ý kiến của người làm chứng, thì việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung chủ yếu do đề nghị của người bào chữa của bị cáo hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác, còn chính người làm chứng lại không được xem biên bản phiên tòa nên không được đề nghị. Do đó, cần bổ sung quyền được xem biên bản phiên tòa đối với người làm chứng.
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo quy định tại Điều 50 Bộ luật TTHS năm 2015
[8], người làm chứng không có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong thực tiễn, có trường hợp có căn cứ xác định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không khách quan trong việc lấy lời khai của người làm chứng và không tuân thủ quy định của pháp luật TTHS nhằm buộc tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, vì pháp luật TTHS không quy định quyền của người làm chứng được mời luật sư tham gia trong hoạt động TTHS nên chỉ người làm chứng mới biết được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thật sự khách quan, vô tư trong khi lấy lời khai hay không. Do đó, việc bổ sung quyền này cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động TTHS của người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 32 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động TTHS của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó”. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 chỉ quy định người làm chứng có quyền: “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng”. Do đó, để bảo đảm sự đồng bộ trong các quy định của pháp luật, đồng thời phát huy hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật, cần bổ sung quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cho người làm chứng.
Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung các quyền trên đối với người làm chứng khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2015.
Thứ tư, về nghĩa vụ của người làm chứng.
Theo điểm b khoản 4 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015, người làm chứng có nghĩa vụ:
“Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó”. Vì vậy, nếu:
“Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”[9].Liên quan đến trách nhiệm của người làm chứng trong việc khai báo gian dối và từ chối khai báo, Bộ luật Hình sự
hiện hành đã quy định về Tội khai báo gian dối (Điều 382) và Tội từ chối khai báo (Điều 383). Tuy nhiên, hành vi trốn tránh khai báo của người làm chứng lại chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành. Do đó, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”.
Thứ năm, về dẫn giải người làm chứng.
Theo điểm a khoản 2 Điều 127 Bộ luật TTHS năm 2015, dẫn giải có thể áp dụng đối với: “Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”. Tuy nhiên, theo điểm a khoản 4 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015, người làm chứng có nghĩa vụ: “Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải”. Với quy định này thì chỉ dẫn giải người làm chứng trong trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Như vậy, có thể thấy, sự thiếu thống nhất trong quy định về trường hợp (căn cứ) áp dụng biện pháp dẫn giải đối với người làm chứng. Theo quan điểm của tác giả, nên giữ nguyên nội dung điểm a khoản 4 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015 vì dẫn giải là biện pháp cưỡng chế chỉ nên áp dụng trong trường hợp thật cần thiết đối với người làm chứng. Hay nói cách khác, chỉ khi việc vắng mặt của người làm chứng gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì mới dẫn giải. Trên cơ sở đó, để đảm bảo tính thống nhất, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 127 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử”.
Thứ sáu, về lấy lời khai người làm chứng.
- Khoản 3 Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc lấy lời khai đối với một người làm chứng có thể được tiến hành nhiều lần, do đó nếu theo quy định này thì mỗi lần lấy lời khai, Điều tra viên đều phải giải thích cho người làm chứng biết về quyền và nghĩa vụ của họ. Đây là việc làm không cần thiết. Tác giả cho rằng, việc giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ chỉ cần được thực hiện trước khi tiến hành lấy lời khai lần đầu. Những lần lấy lời khai tiếp theo đối với người làm chứng đó, Điều tra viên không bắt buộc phải giải thích lại về quyền và nghĩa vụ của họ. Nói cách khác, khoản 3 Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015 nên được sửa đổi như sau:
“Trước khi lấy lời khai lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản”.
- Khoản 4 Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định:
“Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng...”. Trong vụ án hình sự, địa vị pháp lý của bị can và bị hại là đối lập nhau. Trong khi “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự”
[10], thì “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”
[11].Do đó, mối quan hệ của người làm chứng với bị can có thể sẽ gây bất lợi hoặc thuận lợi cho bị hại và ngược lại. Vì vậy, việc hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá động cơ và thái độ khai báo của người làm chứng. Tuy nhiên, nếu chỉ hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại thì chưa đầy đủ. Bởi vì người làm chứng có thể tham gia tố tụng trong vụ án từ rất sớm (ngay cả khi vụ án chưa xác định được bị can) và lời khai của họ cũng bị tác động bởi mối quan hệ với người bị bắt, người bị tạm giữ... Hơn nữa, khoản Điều 91 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định:
“Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra”.Do đó, để bảo đảm thống nhất của pháp luật TTHS và tính khách quan trong lời khai của người làm chứng, tác giả cho rằng, Điều tra viên cần phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với người bị buộc tội trước khi hỏi về nội dung vụ án. Theo đó, cần sửa đổi khoản 4 Điều 186 Bộ luật TTHS như sau:
“Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với người bị buộc tội, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng...”.
- Khoản 3 Điều 183 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản”. Đối với lấy lời khai người làm chứng, Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015 không cấm việc lấy lời khai người làm chứng vào ban đêm. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi của người làm chứng, tránh việc họ phải làm việc trái với quy luật sinh học, theo tác giả, cũng cần quy định không được lấy lời khai người làm chứng vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Trường hợp không thể trì hoãn ở đây có thể là trường hợp việc lấy lời khai để phục vụ kịp thời cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với đối tượng phạm tội; thu giữ vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án để tránh việc tiêu hủy; vụ án có nhiều tình tiết phức tạp...
Ngoài ra,
khoản 5 Điều 183 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định:
“Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”. Tuy nhiên, đối với lấy lời khai người làm chứng, Bộ luật TTHS năm 2015 không quy định về vấn đề này. Đây cũng là sự thiếu sót trong quy định hiện hành, bởi theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017, 2024, 2025), Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với người làm chứng thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội bức cung[12], Tội dùng nhục hình
[13]. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất trong pháp luật TTHS cũng như giữa pháp luật TTHS với pháp luật hình sự, tác giả cho rằng, cần bổ sung vấn đề trên trong quy định về lấy lời khai người làm chứng.
Từ sự phân tích trên, tác giả kiến nghị bổ sung thêm khoản 6, 7 vào Điều 186 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Điều 186. Lấy lời khai người làm chứng
...
6. Không lấy lời khai người làm chứng vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
7. Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với người làm chứng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự”./.
[1] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025), sau đây gọi tắt là Bộ luật TTHS năm 2015.
[2] Xem: khoản 1 Điều 55 Bộ luật TTHS năm 2003.
[3] Đây là điểm khác biệt so với quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 vì Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: người làm chứng phải là người biết được tình tiết có liên quan đến vụ án.
[4] Đây là quyền mới của người làm chứng được bổ sung so với Bộ luật TTHS năm 2003.
[5] Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật TTHS năm 2015: “Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau”.
[6] “Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận và ghi rõ giờ, ngày nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận thì lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho người thân thích của bị can có đủ năng lực hành vi dân sự để ký xác nhận và chuyển cho bị can”.
[7] Nguyễn Thái Phúc,
Bảo vệ người làm chứng và miễn trừ làm chứng trong TTHS, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2008, tr. 6 - 13.
[8] “Điều 50.
Người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1. Kiểm sát viên.
2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.
3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự”.
[9] Xem: Khoản 5 Điều 66 Bộ luật TTHS năm 2015.
[10] Xem: Khoản 1 Điều 60 Bộ luật TTHS năm 2015.
[11] Xem: Khoản 1 Điều 62 Bộ luật TTHS năm 2015.
[12] “
Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” (khoản 1 Điều 374).
[13] “
Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào,thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” (khoản 1 Điều 373).