Tống đạt văn bản tố tụng theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam và kinh nghiệm một số quốc gia

22/06/2026

NCS. BÙI TRƯƠNG NGỌC QUỲNH

Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

NGUYỄN NGỌC ANH

Khoa Luật Dân sự (Khóa 43), Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Tống đạt văn bản tố tụng là một hoạt động quan trọng do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động tố tụng dân sự. Hoạt động này còn bảo đảm quyền được thông tin của đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bài viết phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và một số quốc gia, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này.
Từ khóa: Tống đạt văn bản tố tụng; tố tụng dân sự; Tòa án; Viện kiểm sát.
Abstract: Delivery of procedural documents is an important activity carried out by competent authorities to ensure publicity and transparency in civil proceedings. This activity also guarantees the right to information of litigants, other participants in the proceedings, and relevant agencies, organizations, and individuals, thereby protecting their legitimate rights and interests. The article analyzes the provisions of Vietnam’s Civil Procedure Law and those of several other countries, drawing lessons to improve civil procedure legislation on this matter.
Keywords: Delivery of procedural documents; civil procedure; Court; Procuracy.
Nguôn-AI-Gemini-Bai-so-7-cua-Tap-chi-so-5.png
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Chủ thể thực hiện hoạt động tống đạt văn bản tố tụng
“Tống đạt” được hiểu là việc chuyển văn bản, giấy tờ đến tận tay người nhận; theo nghĩa pháp lý, “tống đạt” là việc chuyển đến đương sự giấy tờ cần thiết của cơ quan tư pháp[1]. Việc tống đạt được tiến hành theo thủ tục luật định, bảo đảm cho những người liên quan nhận được tài liệu đúng thời hạn. Đồng thời, việc tống đạt văn bản tố tụng (VBTT) phải do những người có thẩm quyền thực hiện theo các phương thức do pháp luật quy định.
Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hoạt động tống đạt VBTT được thực hiện nhằm công khai và minh bạch hóa các hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự. Thông qua hoạt động tống đạt, người dân có điều kiện thực hiện quyền theo dõi, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự nói riêng.
Hiện nay, Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định về nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo VBTT, theo đó, các chủ thể có nghĩa vụ tống đạt VBTT bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án. Có thể thấy, điều luật này quy định theo hướng cơ quan tố tụng nào ban hành VBTT thì cơ quan đó có trách nhiệm tống đạt văn bản đến các bên tham gia tố tụng hoặc cho các chủ thể có liên quan khác. Điều 172 BLTTDS năm 2015 đã cụ thể hóa nhiệm vụ tống đạt VBTT dân sự cho các chủ thể sau, theo đó:
Thứ nhất, người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành VBTT được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT.
Theo khoản 2 Điều 46 BLTTDS năm 2015, người tiến hành tố tụng gồm Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Các chủ thể này tham gia trực tiếp vào quá trình tố tụng và có thẩm quyền ban hành một số VBTT dân sự, như: Chánh án ban hành quyết định phân công Thẩm phán thụ lý vụ việc dân sự, Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, Viện trưởng Viện kiểm sát ban hành quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự… Tuy nhiên, ngoài các chủ thể vừa nêu, Điều 172 BLTTDS năm 2015 còn quy định thêm về các chủ thể tuy không tham gia trực tiếp vào quá trình giải quyết vụ án dân sự, không ban hành VBTT liên quan đến vụ án, nhưng vẫn được giao nhiệm vụ thực hiện việc tống đạt VBTT. Sở dĩ có quy định trên là bởi vì khối lượng các VBTT trong quá trình giải quyết vụ án dân sự vô cùng lớn, việc quy định cơ quan, chủ thể nào ban hành thì cơ quan, chủ thể đó trực tiếp tống đạt VBTT sẽ gây ra một áp lực không hề nhỏ cho các chủ thể đó trong việc bảo đảm tống đạt đúng thời hạn, nếu các chủ thể này thực hiện không tốt có thể gây trì trệ, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên đương sự trong vụ án dân sự. Do đó, để bảo đảm cho quá trình tống đạt VBTT được diễn ra dễ dàng, những người tiến hành tố tụng có thể trực tiếp thực hiện việc tống đạt VBTT hoặc có thể giao cho người trong cùng cơ quan của mình thực hiện.
Thứ hai, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu.
Việc đương sự không có mặt tại nơi cư trú, nơi làm việc là một thực tế xảy ra rất phổ biến, điều này cũng trở thành khó khăn rất lớn cho những người thực hiện nhiệm vụ tống đạt VBTT dân sự. UBND cấp xã và tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc sẽ là các chủ thể nắm rõ nhất tình hình cư trú, hiện diện thực tế tại địa phương của người tham gia tố tụng. Do đó, giao nhiệm vụ tống đạt VBTT dân sự cho hai chủ thể này khi Tòa án có yêu cầu cũng là một quy định khá toàn diện, nhằm bảo đảm VBTT dân sự được tống đạt đến tận tay người tham gia tố tụng.
Thứ ba, đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do BLTTDS năm 2015 quy định.
Đương sự là những người có quyền và lợi ích trực tiếp từ quá trình giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà chủ thể tống đạt VBTT không thể tống đạt văn bản đến tận tay của đương sự. Do đó, việc quy định tống đạt văn bản cho người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người này sẽ giao lại VBTT cho đương sự cũng là một cách nhằm bảo đảm cho quyền lợi của đương sự.
Thứ tư, nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính.
 Hiện nay, việc trao đổi hồ sơ, tài liệu đã được hiện đại hóa hơn rất nhiều do các tổ chức dịch vụ bưu chính có thế mạnh về cơ sở vật chất, về tài nguyên con người, ngoài ra mạng lưới của tổ chức dịch vụ bưu chính còn phủ sóng khắp các tỉnh thành trên cả nước. Do đó, họ có thể dễ dàng vận chuyển và tống đạt đến người nhận VBTT, hạn chế nhất những trở ngại do điều kiện tự nhiên, khoảng cách địa lý, tiết kiệm thời gian và chi phí di chuyển. Có thể thấy, thông qua thế mạnh của tổ chức dịch vụ bưu chính, nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính cũng là một chủ thể mà pháp luật giao cho nhiệm vụ tống đạt VBTT dân sự trong một số trường hợp nhất định.
Thứ năm, người có chức năng tống đạt.
Mặc dù BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể người có chức năng tống đạt là ai, tuy nhiên theo khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, thì Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt và một số công việc khác theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại cũng là một chủ thể có vai trò rất quan trọng trong việc tống đạt VBTT, giúp cơ quan tiến hành tố tụng, các chủ thể tiến hành tố tụng giảm bớt áp lực trong việc tống đạt VBTT dân sự đến cho các đương sự trong vụ án dân sự.
Như vậy, qua việc phân tích các chủ thể có nhiệm vụ thực hiện việc tống đạt VBTT trong vụ án dân sự, có thể chia các chủ thể này ra thành hai nhóm: Nhóm người tiến hành, tham gia vào quá trình tố tụng và nhóm người không tiến hành, không tham gia vào quá trình tố tụng. Mặc dù nhiệm vụ tống đạt VBTT dân sự vẫn thuộc trách nhiệm chính của nhóm người tiến hành, tham gia vào quá trình tố tụng dân sự, nhưng trong một số trường hợp, nhóm chủ thể không tham gia vào quá trình tố tụng như nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính, người có chức năng tống đạt và những người khác mà pháp luật có quy định vẫn hỗ trợ cho cơ quan, người tiến hành, tham gia vào quá trình tố tụng để bảo đảm tốt hiệu quả của hoạt động tống đạt VBTT dân sự.
Ở Cộng hòa Pháp, chủ thể thực hiện việc tống đạt VBTT là Thừa phát lại thuộc Phòng Thừa phát lại quốc gia. Theo đó, Thừa phát lại đóng vai trò độc quyền trong việc tống đạt văn bản, ngoài tống đạt văn bản cho Tòa án, Thừa phát lại còn tống đạt văn bản cho tư nhân khi có yêu cầu[2]. Điều 675 BLTTDS Cộng hòa Pháp quy định về việc các phán quyết sẽ được thông báo bằng cách tống đạt (thông qua Thừa phát lại), trừ khi pháp luật có quy định khác. Ở Việt Nam, theo Điều 172 BLTTDS năm 2015, có rất nhiều chủ thể thực hiện việc tống đạt VBTT, trong đó Thừa phát lại không phải là chủ thể thực hiện chính, họ chỉ đóng vai trò hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng, các chủ thể tiến hành tố tụng khi có yêu cầu tống đạt. Thừa phát lại trong pháp luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp lại là chủ thể chủ đạo trong việc tống đạt VBTT dân sự. Đây chính là điểm khác biệt trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và Cộng hòa Pháp khi nói đến chủ thể Thừa phát lại trong hoạt động tống đạt VBTT.
Ở Liên bang Nga, chủ thể thực hiện việc tống đạt VBTT không được xác định bằng một đối tượng cụ thể, theo Điều 115 BLTTDS năm 2003 nước này, giấy gọi và giấy báo của Tòa án được chuyển theo bưu điện hoặc thông qua người được Tòa án ủy nhiệm[3]. Từ quy định này của pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga có thể thấy, chủ thể thực hiện việc tống đạt VBTT gồm hai chủ thể: Nhân viên bưu tá nếu hồ sơ tài liệu được tống đạt theo hình thức chuyển theo bưu điện và người được Tòa án ủy nhiệm nếu hồ sơ được tống đạt theo hình thức tống đạt trực tiếp cho người nhận. Tuy nhiên, đối với chủ thể “người được Tòa án ủy nhiệm” hiện nay BLTTDS Liên bang Nga chưa có quy định rõ về chủ thể này. Do đó, chưa xác định “người được Tòa án ủy nhiệm” có phải là người tiến hành tố tụng, người của cơ quan tiến hành tố tụng hay là người của các cơ quan tổ chức khác nhưng cũng có thể tống đạt văn bản khi có yêu cầu như Thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam hay không?
2. Phương thức và thủ tục tống đạt văn bản tố tụng dân sự
Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, hiện nay có năm phương thức tống đạt VBTT, cụ thể:
Thứ nhất, tống đạt trực tiếp.
Khoản 1 Điều 173 BLTTDS năm 2015 quy định phương thức tống đạt trực tiếp, đây được xem là phương thức cơ bản, phổ biến và cũng khá hiệu quả trong thực tế vì phương thức này bảo đảm các VBTT được chuyển đến tận tay người được tống đạt mà không qua bất kì một bên thứ ba nào.
Chủ thể được tống đạt trực tiếp VBTT dân sự gồm cá nhân và cơ quan, tổ chức. Nếu tống đạt trực tiếp cho cá nhân thì người được tống đạt sau khi nhận được VBTT dân sự phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận VBTT, thời điểm tính thời hạn tố tụng là ngày mà người được tống đạt nhận được VBTT. Nếu tống đạt trực tiếp cho cơ quan, tổ chức thì phải tống đạt trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này ký nhận, trường hợp cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận VBTT thì những người này ký nhận VBTT đó. 
Với việc tống đạt VBTT dân sự trực tiếp, người được tống đạt phải có trách nhiệm cung cấp địa chỉ mà các đương sự đã thỏa thuận để Tòa án có thể tống đạt đến địa chỉ đó, hoặc trong trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo đã chuyển đến nơi cư trú mới thì phải có trách nhiệm thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú để Tòa án tống đạt theo địa chỉ nơi cư trú mới của họ. Trong trường hợp người được tống đạt đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú nhưng không thông báo cho Tòa án về việc thay đổi này dẫn đến việc Tòa án không thực hiện tống đạt trực tiếp được thì Tòa án sẽ tống đạt theo hình thức niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Có thể thấy, pháp luật tố tụng dân sự cũng đã tôn trọng tối đa nguyên tắc tự do ý chí, cũng như đã tạo điều kiện tối đa cho các đương sự trong quá trình tố tụng khi đã cho phép người được tống đạt được quyền lựa chọn địa điểm nhận văn bản tống đạt sao cho thuận tiện nhất. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người được tống đạt đều ký nhận VBTT. Do đó, nếu người được tống đạt từ chối nhận VBTT thì người thực hiện việc tống đạt phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận VBTT và biên bản này được lưu trong hồ sơ vụ án. Hoặc một trường hợp khác, người được tống đạt không có mặt tại địa chỉ đã thông báo với Tòa án để nhận được văn bản tống đạt, nếu việc vắng mặt này diễn ra thường xuyên có thể ảnh hưởng đến hoạt động tống đạt trực tiếp VBTT thì người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với người được tống đạt hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc là những người nắm rõ tình hình cư trú của người dân tại địa phương cũng như tần suất hiện diện của người được tống đạt tại nơi cư trú cũng là chủ thể được quyền nhận thay VBTT được tống đạt cho người được tống đạt nhưng đang vắng mặt, người nhận thay cũng phải ký nhận hoặc điểm chỉ và cam kết giao lại tận tay ngay cho người được tống đạt.
Tại Cộng hòa Pháp, phương thức tống đạt trực tiếp cũng được ghi nhận trong BLTTDS, theo đó việc tống đạt thông qua Thừa phát lại phải được thực hiện bằng phong bì hoặc bìa, qua đường bưu điện hoặc chuyển phát trực tiếp đến tận tay người nhận, ngày người được tống đạt nhận được văn bản tống đạt là ngày ghi trên biên nhận hoặc chú thích[4]. Nếu tống đạt cho doanh nghiệp thì phải giao VBTT cho người đại diện hợp pháp, người được ủy quyền hoặc bất kỳ người nào được trao quyền cho mục đích này. Nếu không thể tống đạt trực tiếp cho người được tống đạt thì thừa phát lại có thể giao bản sao VBTT cho bất kỳ người nào có mặt, có thể là người trông coi tòa nhà hoặc là hàng xóm với điều kiện là người này cho biết thông tin về họ tên, địa chỉ, trình bày năng lực của mình và ký tên trên biên nhận, đây được xem là phương án cuối cùng. Thừa phát lại phải để lại nơi cư trú, nơi ở của đương sự một giấy báo về việc đã giao bản sao, có ghi rõ bản chất của văn bản, tên của người đệ đơn cùng với những chỉ dẫn cần thiết liên quan đến người được giao bản sao[5].
Tại Liên bang Nga, phương thức tống đạt trực tiếp VBTT cũng được ghi nhận tại Điều 116, 117, 118 BLTTDS[6]. VBTT phải tống đạt trực tiếp là giấy gọi của Tòa án. Theo đó, giấy gọi của Tòa án được tống đạt trực tiếp cho người đó với việc trả lại cuống biên lai giấy gọi có chữ ký của người được tống đạt, nếu tống đạt cho tổ chức thì giấy gọi tổ chức được tống đạt cho người có chức vụ và người này phải ký xác nhận vào cuống biên lai của giấy gọi. Trong trường hợp giấy gọi của Tòa án không được tống đạt trực tiếp do người được Tòa án triệu tập không có mặt tại nơi sinh sống thì giấy gọi sẽ được trao cho một trong những thành viên (người thành niên) gia đình của người được triệu tập, với điều kiện người này đồng ý chuyển giấy gọi của Tòa án cho người được Tòa án triệu tập. Nếu người được tống đạt từ chối tiếp nhận giấy gọi hoặc giấy báo của Tòa án thì giấy gọi sẽ được trả lại Tòa án và người được tống đạt được coi là đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án hoặc thời gian và địa điểm thực hiện hoạt động tố tụng.
Như vậy, đối với phương thức tống đạt trực tiếp VBTT, pháp luật của Việt Nam, Pháp, Nga đều có những điểm tương đồng, theo đó: Pháp luật của cả ba nước đều quy định phương thức tống đạt trực tiếp là việc giao tận tay văn bản đến cho người được tống đạt, nếu người được tống đạt là tổ chức thì văn bản tống đạt được giao cho người đại diện hợp pháp hoặc người được ủy quyền nhận văn bản tống đạt và người được tống đạt phải ký vào biên lai hoặc sổ giao nhận. Trong trường hợp người được tống đạt không có mặt tại địa chỉ tống đạt, thì những người có mối quan hệ thân thích với người được tống đạt (người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự) hoặc những người khác có mối quan hệ quen biết thường xuyên với người được tống đạt như hàng xóm, quản lý tòa nhà cũng là những chủ thể được quyền nhận văn bản tống đạt thay cho người được tống đạt với điều kiện họ cung cấp thông tin cá nhân của mình và đồng ý chuyển văn bản tống đạt cho người được tống đạt.
Thứ hai, tống đạt qua dịch vụ bưu chính hoặc người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc tống đạt.
Dịch vụ bưu chính là hoạt động chấp nhận, vận chuyển và phát bưu gửi bằng các phương thức từ địa điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử. Tống đạt qua dịch vụ bưu chính được xem là một trong những phương thức tống đạt phổ biến nhất hiện nay bởi thế mạnh về nhân lực và vật lực, mạng lưới vận chuyển của các tổ chức dịch vụ bưu chính cũng ngày càng được nâng cao để đáp ứng với nhu cầu chuyển phát hàng hóa, hồ sơ tài liệu của các chủ thể trong xã hội.
Tuy nhiên, bởi vì phương thức tống đạt này có sự tham gia của bên thứ ba là tổ chức cung cấp dịch vụ bưu chính, nên rất có thể xảy ra trường hợp VBTT bị thất lạc hoặc phổ biến hơn là văn bản không được giao đến tận tay người được tống đạt. Thấy trước được khả năng đó, khoản 2 Điều 175 BLTTDS năm 2015 quy định việc tống đạt VBTT dân sự qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận VBTT, văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho Tòa án, thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đã nhận được VBTT do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến. Thư bảo đảm được xem như là một bằng chứng xác nhận rằng người được tống đạt đã nhận được VBTT, trong thư bảo đảm thể hiện cụ thể thông tin của người nhận, thời gian nhận và có chữ ký xác nhận của người nhận văn bản. Hiện nay, các tổ chức dịch vụ bưu chính triển khai rất nhiều dịch vụ cộng thêm để phù hợp với các nhu cầu của xã hội như dịch vụ “phát đồng kiểm”, dịch vụ “báo phát”, dịch vụ “phát hỏa tốc… Trong số các dịch vụ cộng thêm của tổ chức dịch vụ bưu chính thì dịch vụ “báo phát” là dịch vụ được sử dụng phổ biến nhất có kèm theo thư bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 175 BLTTDS năm 2015. Theo đó “báo phát” là một dịch vụ được kèm theo dịch vụ bưu chính khi người gửi có yêu cầu công ty vận chuyển cung cấp bằng chứng có chữ ký xác nhận của người nhận trên phiếu báo phát hoặc trên mẫu biên nhận của người nhận để chuyển lại cho người gửi. Thông qua chứng cứ là phiếu báo phát, Tòa án sẽ xác định được thời gian người được tống đạt nhận được VBTT, thời gian này chính là căn cứ để Tòa án tính thời hạn tố tụng của vụ án dân sự.
Ngoài phương thức tống đạt qua dịch vụ bưu chính, VBTT còn được tống đạt thông qua người thứ ba được ủy quyền thực hiện việc tống đạt, chủ thể này sau khi thực hiện việc tống đạt VBTT phải thông báo ngay kết quả của việc tống đạt cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn hành tố tụng đó.
Tại Pháp, phương thức tống đạt qua dịch vụ bưu chính (đường bưu điện) cũng được ghi nhận tại Điều 667 BLTTDS, phương thức tống đạt qua đường bưu điện cũng bảo đảm phải có đầy đủ chữ ký của người nhận hoặc phải có giấy biên nhận để xác định thời gian người nhận nhận được văn bản tống đạt. Cộng hòa Pháp không ghi nhận phương thức tống đạt VBTT thông qua người thứ ba được ủy quyền bởi theo pháp luật tố tụng dân sự nước này, Thừa phát lại là chủ thể duy nhất thực hiện nhiệm vụ tống đạt VBTT.
Đối với pháp luật tố tụng dân sự Liên bang Nga, theo quy định tại khoản 1 Điều 115 BLTTDS[7], giấy gọi và giấy báo của Tòa án cũng có thể được chuyển đến cho người nhận theo đường bưu điện và thời hạn tống đạt giấy báo cho người nhận được xác định theo cách thức của cơ quan bưu điện hoặc dựa trên giấy báo lại cho Tòa án. Ngoài ra, giấy gọi và giấy báo của Tòa án có thể được chuyển đến người nhận thông qua phương thức giao cho người được Tòa án ủy nhiệm nếu được người tham gia tố tụng đồng ý, sau khi thực hiện việc chuyển giấy gọi và giấy báo của Tòa án đến cho người nhận, người được Tòa án ủy nhiệm có nghĩa vụ gửi lại Tòa án cuống biên lai của giấy gọi hoặc bản sao giấy báo có chữ ký xác nhận của người được tống đạt.
Nhìn chung, pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, Pháp, Nga đều áp dụng phương thức tống đạt VBTT qua dịch vụ bưu chính và phải có sự xác nhận từ người nhận như thư bảo đảm, chữ ký của người nhận hoặc giấy biên nhận. Cả 3 nước cũng áp dụng phương thức tống đạt VBTT thông qua một chủ thể khác được Tòa án ủy quyền và chủ thể này phải có trách nhiệm báo cáo lại cho Tòa án về kết quả tống đạt.
Thứ ba, tống đạt bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Nắm bắt được xu hướng phát triển nhanh chóng khoa học và công nghệ, BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận thêm phương thức tống đạt bằng phương tiện điện tử, đây được xem là một bước tiến mới trong quá trình cải cách hệ thống tư pháp. Tống đạt bằng phương tiện điện tử được thực hiện theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác, việc thực hiện phương thức này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Theo Điều 20 Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo VBTT bằng phương tiện điện tử, trường hợp người khởi kiện, người tham gia tố tụng đã đăng ký gửi và nhận, đăng ký nhận thông điệp dữ liệu điện tử với Tòa án và được Tòa án chấp nhận thì VBTT do Tòa án ban hành theo quy định của pháp luật tố tụng phải được Tòa án gửi từ Cổng thông tin điện tử của Tòa án đến địa chỉ thư điện tử đã được đăng ký của người khởi kiện, người tham gia tố tụng trong thời hạn pháp luật quy định. Ngoài VBTT, Tòa án còn có thể tống đạt thông điệp dữ liệu điện tử, đây là dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử từ đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, VBTT đã được ban hành theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đang triển khai việc áp dụng phương thức tống đạt điện tử với định hướng để phương thức này dần dần thay thế phương thức tống đạt truyền thống nhằm tối ưu hóa nguồn nhân lực và vật lực. Theo đề án tống đạt điện tử mà Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xây dựng, phương thức tống đạt điện tử chỉ được thực hiện khi đương sự đồng ý bằng văn bản. Khi đó, đương sự cung cấp địa chỉ email, số điện thoại cho Tòa án. Thư ký sẽ sử dụng email cấp cho từng Thẩm phán, Thư ký để đăng nhập vào phần mềm quản lý tống đạt điện tử của Tòa án và nhập thông tin vụ, việc[8]. Đương sự sẽ nhận được tin nhắn chứa mã OTP qua số điện thoại và thư điện tử với nội dung hướng dẫn truy cập vào trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh để nhận VBTT được tống đạt.
Đối với các quốc gia có hệ thống pháp luật tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là Hàn Quốc, tống đạt bằng phương thức điện tử đã trở thành một phương thức hữu ích để quốc gia này tiết kiệm thời gian, chi phí loại bỏ các thủ tục cần thiết, nhằm nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống tố tụng quốc gia. Tại Hàn Quốc, các VBTT như đơn khởi kiện và tài liệu đính kèm, văn bản trả lời đơn, văn bản chuẩn bị tranh tụng, bản án, quyết định của Tòa án, tống đạt đều được thực hiện thông qua hình thức điện tử[9]. Tống đạt thông qua hình thức điện tử theo pháp luật Hàn Quốc là tống đạt bằng tin nhắn điện thoại và thư điện tử, đương sự phải có trách nhiệm xác nhận tại hệ thống tố tụng điện tử trong thời hạn một tuần, quá thời hạn đó mà đương sự không xác nhận thì được xem là nhận được văn bản tống đạt. Ngoài ra, Hàn Quốc còn sử dụng một hệ thống quản lý điện tử để quản lý các thông tin về tiến trình và kết quả của việc tống đạt hồ sơ, thông quan hệ thống này Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử khi cần thiết cũng có thể tra cứu các thông tin về tống đạt của đương sự, kiểm tra các báo cáo tống đạt cho đương sự.
Ngoài Hàn Quốc, Trung Quốc cũng là quốc gia có ghi nhận việc tống đạt VBTT bằng phương tiện điện tử. Theo Điều 87 BLTTDS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nếu có sự đồng ý của người được tống đạt VBTT, văn bản có thể được tống đạt bằng fax, thư điện tử hoặc bất kỳ phương tiện nào khác miễn sao đương sự có thể xác nhận về việc nhận VBTT, ngoại trừ trường hợp bản án, quyết định và tuyên bố hòa giải. Với các hình thức tố tụng đó thì ngày VBTT được tống đạt bằng fax hoặc email đến hệ thống địa chỉ của các bên sẽ được coi là ngày tống đạt[10].
Như vậy, tống đạt bằng phương tiện điện tử đều được ghi nhận trong pháp luật tố tụng của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc. Điểm chung của phương thức tống đạt này ở pháp luật của ba quốc gia là đều gửi văn bản thông báo qua tin nhắn trên điện thoại hoặc qua thư điện tử của đương sự. Tuy nhiên, nếu ở Trung Quốc và Hàn Quốc, phương thức tống đạt bằng phương tiện điện tử đã trở nên phổ biến và trở thành công cụ hữu hiệu giúp Tòa án giảm bớt áp lực công việc song vẫn bảo đảm hiệu quả của hoạt động xét xử, thì ở Việt Nam phương thức tống đạt này mặc dù đã được ghi nhận trong quy định pháp luật nhưng dường như còn khá mới mẻ, chỉ mới được triển khai áp dụng tại một vài Tòa án cấp thành phố, tiêu biểu là Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Do đó, để phát huy tối đa hiệu quả của phương thức tống đạt qua phương tiện điện tử, cần tăng cường hướng dẫn Tòa án và đương sự nắm rõ hơn về cách sử dụng phương thức tống đạt này nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động tố tụng, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Thứ tư, niêm yết công khai.
Phương thức tống đạt niêm yết công khai là một phương thức tống đạt VBTT có điều kiện, bởi vì khi Tòa án áp dụng phương thức niêm yết công khai thì các thông tin cá nhân của đương sự và thông tin về vụ án sẽ được công khai tại trụ sở Tòa án, UBND cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của cá nhân, nơi có trụ sở hoặc trụ sở cuối cùng của cơ quan, tổ chức được cấp, tống đạt, thông báo. Phương thức này có nguy cơ làm lộ thông tin cá nhân của đương sự, các đối tượng xấu có thể sử dụng những thông tin được niêm yết công khai để thực hiện các hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, phương thức tống đạt niêm yết công khai chỉ được Tòa án cân nhắc áp dụng trong trường hợp VBTT không thể tống đạt trực tiếp cho cá nhân hoặc cho cơ quan, tổ chức. Bản chất của việc niêm yết công khai là việc dán các VBTT tại các bảng tin, bảng thông báo tại Tòa án hoặc UBND cấp xã hoặc nơi cư trú của cá nhân, nơi có trụ sở của tổ chức, đây là những nơi công cộng nhiều người qua lại, đồng thời cũng là các địa điểm có liên quan đến tình hình cư trú của đương sự, mục đích của việc niêm yết công khai là để những người này thấy các VBTT được niêm yết và truyền đạt lại thông tin cho người được tống đạt trên văn bản được niêm yết.
 Điều 92 BLTTDS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng ghi nhận, nếu không xác định được nơi cư trú của người được tống đạt hoặc nếu tài liệu không thể được tống đạt bằng bất kỳ phương thức nào khác thì tài liệu sẽ được tống đạt bằng thông báo công khai và văn bản này được coi là đã được tống đạt khi đã trôi qua 60 ngày kể từ ngày thông báo công khai[11].
Có thể thấy, phương thức tống đạt VBTT bằng việc niêm yết công khai là phương thức tống đạt có điều kiện, cả pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam và Trung Quốc đều ghi nhận phương thức này chỉ áp dụng khi việc tống đạt bằng các phương thức khác như trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua bên thứ ba hoặc bằng phương tiện điện tử không được bảo đảm. Vì việc niêm yết công khai VBTT sẽ có ảnh hưởng nhất định đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đặc biệt là quyền được bảo mật thông tin cá nhân. Do đó, tùy thuộc vào mỗi quốc gia phương thức niêm yết công khai sẽ được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục khác nhau, còn ở Việt Nam, phương thức niêm yết công khai được Tòa án xem xét như một trong những phương thức cuối cùng để quyết định áp dụng nhằm bảo đảm thời hạn giải quyết vụ án.
Thứ năm, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Phương thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được áp dụng khi có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo hoặc theo yêu cầu đương sự. Phương tiện thông tin đại chúng được xác định là Cổng thông tin điện tử của Tòa án, các báo ngày, Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương. Các VBTT sẽ được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên một trong các báo hằng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Nếu việc niêm yết công khai VBTT nhằm mục đích để cho những người xung quanh khu vực cư trú của cá nhân, nơi làm việc của tổ chức thấy được thông tin và truyền đạt lại cho người được tống đạt, mức độ phổ biến của thông tin chỉ ở khu vực địa phương nhỏ lẻ, thì việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng sẽ làm cho thông tin tống đạt được phổ biến với quy mô toàn quốc, người dân của cả nước đều có thể nắm bắt được thông tin liên quan đến hoạt động tố tụng người được tống đạt. Do đó, nếu xét theo trình tự ưu tiên của các phương thức tống đạt VBTT, phương thức thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là phương thức tống đạt cuối cùng mà Tòa án có thể xem xét đến sau khi đã áp dụng tất cả các phương thức tống đạt từ khoản 1 đến khoản 3 Điều 173 BLTTDS năm 2015.
Thứ sáu, tống đạt bằng phương thức khác theo quy định tại Chương XXXVIII của BLTTDS năm 2015.
Điều 474 BLTTDS năm 2015 quy định các phương thức tống đạt mà Tòa án có thể lựa chọn để áp dụng khi tống đạt VBTT cho đương sự ở nước ngoài. Có thể nói, việc tống đạt VBTT cho đương sự ở nước ngoài là một trong những hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự, được quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Với yếu tố nước ngoài, các phương thức tống đạt VBTT tại Điều 474 BLTTDS năm 2015 khi được thực hiện phải tuân thủ theo các quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, có thể kể đến Công ước Lahay năm 1965 quy định về Tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/10/2016. Theo quy định của Công ước Lahay năm 1965, việc tống đạt VBTT cho đương sự ở nước ngoài được thực hiện thông qua kênh cơ quan Trung ương của nước được yêu cầu (Điều 2 đến Điều 6) hoặc tống đạt thông qua các kênh khác như kênh lãnh sự, kênh ngoại giao (Điều 9), các kênh chuyển phát khác (Điều 11). Các kênh tống đạt này được quốc gia lựa chọn sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tế của đương sự, do đó giá trị pháp lý của việc tống đạt văn bản thông qua các kênh này đều như nhau. Việc sử dụng nhiều kênh tống đạt sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công tác ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, rút ngắn thời gian tống đạt văn bản nhưng vẫn bảo đảm vụ án được giải quyết khách quan, công bằng, bảo đảm quyền và lợi ích của các bên.
Như vậy, qua nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự về tống đạt VBTT ở trên cho thấy, về chủ thể và các phương thức tống đạt VBTT, Việt Nam có những quy định khác biệt so với các nước như Pháp, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc. Về chủ thể tống đạt VBTT, nếu như Thừa phát lại là chủ thể duy nhất thực hiện việc tống đạt VBTT ở Pháp, là nhân viên bưu tá nếu hồ sơ tài liệu được tống đạt theo hình thức chuyển theo bưu điện và người được Tòa án ủy nhiệm nếu hồ sơ được tống đạt theo hình thức tống đạt trực tiếp cho người nhận ở Nga, thì tại Việt Nam ngoài các chủ thể nói trên, BLTTDS năm 2015 còn ghi nhận thêm UBND cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơquan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc, đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng là những chủ thể có thể tống đạt VBTT theo yêu cầu của Tòa án. Đối với các phương thức tống đạt, quy định của pháp luật Việt Nam cũng có nhiều nét tương đồng so với quy định của Pháp, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc. Riêng đối với phương thức tống đạt bằng phương tiện điện tử, Việt Nam cần chú ý và hướng dẫn cụ thể hơn vì hiện nay các quốc gia trên thế giới đã áp dụng rất thành công phương thức này trong hoạt động tống đạt văn bản, không những tiết kiệm được nhân lực và vật lực mà còn nâng cao hiệu quả quản lý của Tòa án. Ở Việt Nam, phương thức này mặc dù đã được pháp luật quy định, nhưng vì chưa được hướng dẫn cụ thể và áp dụng phổ biến nên chưa được triển khai rộng rãi trong hoạt động tố tụng; phương thức này dường như chỉ tồn tại trên “giấy”, chưa phát huy hết công dụng trong hoạt động tống đạt VBTT so với những phương thức còn lại. Do đó, cần phải đẩy mạnh việc áp dụng tống đạt điện tử vào thực tế, ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể để giúp đội ngũ cán bộ Tòa án cũng như người dân hiểu rõ về cách sử dụng khi có yêu cầu về nhận và gửi văn bản tống đạt tố tụng, việc triển khai phải được áp dụng đồng bộ trong toàn bộ hệ thống Tòa án, các địa phương.
Có thể thấy rằng, phương thức tống đạt văn bản ở Việt Nam vẫn đi theo lối truyền thống làm theo đúng quy định trong luật, còn nếu không quy định rõ trong luật hay trong các văn bản hướng dẫn thì chỉ mang tính áp dụng thử nghiệm. Do vậy, Việt Nam cần hoàn thiện các quy định pháp luật về tống đạt VBTT theo cả hai hình thức trực tiếp và trực tuyến để phù hợp với thời đại công nghệ số như: (i) Quy định giới hạn các chủ thể có thể tống đạt theo hình thức trực tiếp theo hướng các chủ thể đó phải có chuyên môn, được tập huấn nghiệp vụ tống đạt để có thể xử lý các tình huống phát sinh trong thực tế; (ii) Xây dựng chế tài áp dụng đối với các trường hợp sai phạm trong hoạt động tống đạt; (iii) Tăng cường hơn nữa hoạt động của Thừa phát lại tại các địa phương có lượng án lớn; (iv) Ngành Tòa án phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng một hệ thống tống đạt bằng phương tiện điện tử dễ sử dụng, chi phí rẻ, an toàn và bảo mật thông tin./.

[2] Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội, So sánh về Thừa phát lại giữa Pháp và Việt Nam, https://thuaphatlaihanoi.com/so-sanh-ve-thua-phat-lai-giua-phap-va-viet-nam, truy cập ngày 10/5/2024.
[3] Nguyễn Ngọc Khánh - Trần Văn Trung, Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2005, tr. 110.
[4] Điều 667 BLTTDS Cộng hòa Pháp, xem tại: https://www.legifrance.gouv.fr/codes/texte_lc/LEGITEXT000006070716/, truy cập ngày 11/05/2024.
[5] Điều 655 BLTTDS Cộng hòa Pháp, xem tại: https://www.legifrance.gouv.fr/codes/texte_lc/LEGITEXT000006070716/, truy cập ngày 11/05/2024.
[6] Nguyễn Ngọc Khánh - Trần Văn Trung, tlđd, tr. 110 - 111.
[7] Nguyễn Ngọc Khánh - Trần Văn Trung, tlđd, tr. 110.
[8] Minh Hải, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh triển khai áp dụng tống đạt điện tử các văn bản tố tụng, https://hochiminhcity.toaan.gov.vn/webcenter/portal/hochiminh/chitiettin?dDocName=TAND307287, truy cập ngày 10/5/2024.
[9] Trần Ngọc Đức – Nguyễn Nhất Vũ, Tìm hiểu về Tòa án điện tử tại Hàn Quốc (Phần 2), https://dhcsnd.edu.vn/tim-hieu-ve-toa-an-dien-tu-tai-han-quoc-phan-2, truy cập ngày 8/5/2024.
[10] China International Commercial Court, Civil Procedure Law of the People’s Republic of China, https://cicc.court.gov.cn/html/1/219/199/200/644.html, truy cập ngày 5/5/2024.
[11] China International Commercial Court, Civil Procedure Law of the People’s Republic of China, https://cicc.court.gov.cn/html/1/219/199/200/644.html, truy cập ngày 5/5/2024.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 05 (512), tháng 03/2026.)


Thống kê truy cập

41871532

Tổng truy cập