Phán quyết trọng tài nước ngoài và thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

16/06/2026

ThS. VÕ HƯNG ĐẠT

Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đã được ghi nhận khá đầy đủ trong pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề xác định như thế nào là phán quyết Trọng tài nước ngoài cũng như thời hiệu nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài chưa được quy định rõ ràng. Bài viết chỉ ra những điểm chưa phù hợp này, đồng thời đưa ra giải pháp để hoàn thiện.
Từ khóa: Công nhận và cho thi hành; phán quyết Trọng tài nước ngoài; thời hiệu.
Abstract: Procedures for the recognition and enforcement of foreign arbitral awards in Vietnam have been relatively well-documented in Vietnamese law. However, the determination of what constitutes a foreign arbitral award and the statute of limitations for filing applications for the recognition and enforcement of such awards remain unclearly regulated. This article highlights these inconsistencies and provides solutions for further refinement.
Keywords: Recognition and enforcement; foreign arbitral award; statute of limitations.
Nguôn-AI-Gemini-Bai-so-2-cua-Tap-chi-so-5.png
Ảnh minh họa: Nguồn Internet.
1. Khái quát về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Với những ưu điểm như tính linh hoạt, nhanh gọn và bảo mật cao, Trọng tài thương mại đang là một trong những phương thức được các bên tranh chấp ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là các tranh chấp phức tạp, có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, khác với Tòa án, kết quả giải quyết tranh chấp của Trọng tài không phải do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành, do đó việc phán quyết Trọng tài có được thi hành hay không luôn được các bên rất quan tâm. Vấn đề sẽ đơn giản hơn nếu phán quyết Trọng tài cần được thi hành tại chính quốc gia của mình. Bởi hiện nay, nhiều quốc gia đều thừa nhận giá trị phán quyết Trọng tài trong nước và xem nó như một bản án của Tòa án quốc gia mình, bao gồm cả Việt Nam[1].
Ngược lại, trong trường hợp các bên lựa chọn Trọng tài nước ngoài, khả năng thi hành của phán quyết Trọng tài sẽ phức tạp hơn. Về nguyên tắc, phán quyết Trọng tài chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên, và rộng ra là được thi hành tại chính quốc gia có phán quyết Trọng tài. Trong khi đó, các tranh chấp có thể liên quan đến các chủ thể nước ngoài, hàng hóa ở nước ngoài hay các sự kiện pháp lý xảy ra ở nhiều quốc gia khác nhau. Điều này dẫn đến nhu cầu phán quyết Trọng tài của nước này được công nhận và thi hành tại nước khác. Lúc này, phán quyết Trọng tài nước ngoài có được thi hành tại quốc gia khác hay không sẽ phụ thuộc vào quốc gia nơi được yêu cầu, thông qua một thủ tục được gọi là thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài.
Việc công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài là thủ tục cần thiết nhằm khẳng định chủ quyền về mặt tài phán của quốc gia. Đồng thời, điều này cũng thể hiện sự thiện chí, hợp tác giữa các quốc gia liên quan đến giá trị của phán quyết Trọng tài. Thực tế, các quốc gia có thể ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế hoặc thực hiện việc công nhận trên cơ sở có đi có lại. Ngoài ra, khi tiến hành thủ tục công nhận và cho thi hành, quốc gia được yêu cầu sẽ không phải xét xử lại vụ việc đó, do đó thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn, chi phí liên quan đến tố tụng cũng sẽ đỡ tốn kém hơn thủ tục xét xử thông thường và quan trọng là kết quả giải quyết tranh chấp sẽ không thay đổi.
Tại Việt Nam, Trọng tài nói chung và việc công nhận phán quyết Trọng tài nói riêng đã được chú ý từ lâu. Chúng ta đã ký kết khá nhiều các Hiệp định Tương trợ tư pháp, trong đó có quy định về công nhận phán quyết Trọng tài nước ngoài[2]. Đặc biệt, Việt Nam đã gia nhập Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài (Công ước) từ năm 1995, tức đã gần 30 năm là thành viên của Công ước này. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề xác định như thế nào là phán quyết Trọng tài nước ngoài cũng như thời hiệu nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành chưa được quy định rõ ràng.
2. Xác định phán quyết Trọng tài nước ngoài là đối tượng của việc công nhận và cho thi hành
Như đã nêu trên, việc công nhận và cho thi hành chỉ đặt ra đối với phán quyết Trọng tài nước ngoài. Do đó, việc xem xét một phán quyết Trọng tài là trong nước hay nước ngoài sẽ có ý nghĩa rất quan trọng. Pháp luật Việt Nam trước đây và hiện nay đều xác định phán quyết Trọng tài nước ngoài dựa vào quốc tịch của Trọng tài tuyên phán quyết mà không phụ thuộc vào nơi tuyên[3]. Theo đó, phán quyết của Trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn. Còn Trọng tài nước ngoài được giải thích là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Trọng tài nước ngoài. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, yếu tố lãnh thổ nơi tuyên phán quyết đã không được xem xét đến khi xác định phán quyết đó là trong nước hay nước ngoài.
Trong khi đó, Công ước với 172 thành viên[4], trong đó có Việt Nam, lại xác định phán quyết Trọng tài nước ngoài dựa vào nơi tuyên phán quyết. Mặc dù không được xây dựng dưới dạng định nghĩa, Điều 1 của Công ước vẫn được ICCA (International Council for Commercial Arbitration) giải thích là cơ sở cho việc xác định phán quyết Trọng tài có phải là “nước ngoài” hay không[5]. Cụ thể, Công ước nêu ra hai trường hợp mà một phán quyết Trọng tài có thể được xem là phán quyết Trọng tài nước ngoài: (i) Phán quyết được ban hành ngoài lãnh thổ của nước công nhận và cho thi hành và (ii) Phán quyết không được xem là phán quyết Trọng tài trong nước[6]. Ở trường hợp thứ nhất, Công ước chỉ căn cứ vào nơi tuyên để xác định phán quyết Trọng tài có phải là nước ngoài hay không. Yếu tố quốc tịch của Trọng tài hoàn toàn không được đề cập đến. Thậm chí, các yếu tố như quốc tịch, nơi cư trú của các bên tranh chấp cũng không được nêu ra[7]. Ở trường hợp thứ hai, có thể hiểu là Công ước cho phép quốc gia tự đưa cách xác định phán quyết Trọng tài là trong nước hay nước ngoài theo chính pháp luật của quốc gia thành viên.
Đối với trường hợp thứ hai, trên thực tế, đa số các quốc gia hiện nay đang xác định phán quyết Trọng tài trong nước hay nước ngoài tương tự như Công ước, tức là dựa vào nơi tuyên phán quyết[8]. Bên cạnh đó, một số quốc gia có thể dựa vào yếu tố nước ngoài của tranh chấp được giải quyết bởi Trọng tài để xác định phán quyết Trọng tài đó không phải là trong nước (non-domestic). Chẳng hạn như tại Hoa Kỳ, nếu phán quyết liên quan đến vụ việc có tài sản ở nước ngoài, cần được thực hiện ở nước ngoài hoặc có một số mối liên hệ hợp lý khác với một hoặc nhiều quốc gia nước ngoài thì sẽ được xem phán quyết Trọng tài không phải trong nước[9]. Ngoài ra, phán quyết Trọng tài nước ngoài có thể xác định dựa vào luật điều chỉnh hoạt động Trọng tài không phải là của quốc gia mình, hoặc Trọng tài hoạt động không dựa trên quy tắc của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, điều này là cực kỳ hiếm gặp[10].
Như vậy, có thể thấy Công ước lẫn pháp luật của phần lớn các quốc gia hiện nay đều xác định phán quyết Trọng tài là nước ngoài hay trong nước dựa vào nơi phán quyết được ban hành. Trong một số ít trường hợp khác, việc xác định cũng không dựa vào quốc tịch của Trọng tài. Ngược lại, pháp luật Việt Nam lại có sự khác biệt khi không quan tâm đến nơi tuyên mà chỉ căn cứ vào quốc tịch của Trọng tài là Việt Nam hay nước ngoài. Hay nói cách khác, Việt Nam đang sử dụng thuật ngữ “phán quyết của Trọng tài nước ngoài” (awards of foreign arbitration) chứ không phải là “phán quyết Trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral awards) theo quy định của Công ước cũng như các quốc gia khác. Cách quy định của Việt Nam dẫn đến một số bất cập.
Thứ nhất, mặc dù Công ước cho phép quốc gia thành viên quy định phán quyết Trọng tài nào không được xem là phán quyết Trọng tài trong nước, nhưng rõ ràng là việc quy định như hiện nay là khá khác biệt và chưa phù hợp với Công ước[11].
Thứ hai, việc xác định “Trọng tài nước ngoài” theo quy định của pháp luật Việt Nam sẽ có những khó khăn liên quan đến thể thức Trọng tài. Khoản 11 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Trọng tài nước ngoài…”. Đối với Trọng tài thường trực, trung tâm Trọng tài thường sẽ được thành lập và tuân thủ pháp luật một quốc gia cụ thể. Tuy nhiên, đối với Trọng tài vụ việc, việc thành lập Trọng tài là do sự thỏa thuận của các bên, Trọng tài cũng tự giải tán sau khi hoàn thành công việc thì sẽ rất khó để xác định quốc tịch của Trọng tài.
Thứ ba, quy định của Việt Nam hiện nay cũng chưa tương thích với Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) và có thể dẫn đến phán quyết Trọng tài “nước ngoài” theo cách hiểu của Việt Nam sẽ không thuộc thẩm quyền kiểm tra của bất kỳ Tòa án nào. Cụ thể Luật mẫu UNCITRAL xác định tính quốc tế của Trọng tài dựa vào địa điểm Trọng tài chứ không phải là quốc tịch Trọng tài[12]. Đồng thời, Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định Trọng tài là Tòa án của nước nơi có địa điểm Trọng tài[13]. Như vậy, phán quyết Trọng tài được tuyên bởi “Trọng tài nước ngoài” tại Việt Nam thì chúng ta coi đó là phán quyết nước ngoài nên sẽ không giải quyết việc yêu cầu hủy mà chỉ có thể xem xét việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Còn đối với các quốc gia khác, họ lại cho rằng đây là phán quyết Trọng tài Việt Nam (vì tuyên trên lãnh thổ Việt Nam) nên cũng không giải quyết việc yêu cầu hủy.
3. Thời hiệu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài
3.1. Khả năng Tòa án áp dụng thời hiệu trong việc công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và cả Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên[14]. Hay nói cách khác, Tòa án không được tự ý áp dụng thời hiệu để không thụ lý một vụ việc dân sự hoặc hủy bỏ kết quả xét xử trước đó. Đây là một quy định tiến bộ và phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia, giúp loại trừ sự can thiệp của cơ quan tố tụng trong việc vận dụng thời hiệu, bởi khi kết thúc thời hiệu thì hậu quả sẽ phát sinh với các chủ thể chứ không phải với Tòa án[15]. Tuy nhiên, Điều 184 BLTTDS 2015 chỉ giới hạn việc áp dụng điều này đối với thời hiệu khởi kiện, “thời hiệu” yêu cầu giải quyết “việc dân sự”. Từ đó, có một số vấn đề phát sinh.
Thứ nhất, đối với thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài, BLTTDS 2015 hiện nay không dùng thuật ngữ “thời hiệu” mà dùng “thời hạn” để chỉ khoảng thời gian người yêu cầu cần phải nộp đơn[16]. Trong khi đó, các thuật ngữ “thời hiệu” lại được dùng đối với thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án[17]. Vậy quy định tại Điều 184 BLTTDS 2015 có được áp dụng với “thời hạn” nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài hay không?
Thứ hai, cứ cho rằng thuật ngữ “thời hạn” trong trường hợp này tương đương như “thời hiệu” thì vẫn còn một vấn đề phức tạp hơn. Đó là thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài là một việc dân sự thông thường hay là một thủ tục độc lập. Nếu đây được xem là một thủ tục nằm trong việc dân sự thì Tòa án không được tự ý áp dụng thời hiệu để từ chối nhận đơn yêu cầu theo Điều 184 BLTTDS 2015. Ngược lại, nếu đây là thủ tục đặc biệt, độc lập với vụ án, việc dân sự thì Tòa án không bị ràng buộc bởi Điều 184 BLTTDS 2015 và có thể tự động áp dụng thời hiệu để từ chối thụ lý.
 Nếu dựa vào cách lập pháp tại Điều 1 BLTTDS 2015 thì có thể hiểu rằng, hiện nay có 3 loại thủ tục, bao gồm: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự; thủ tục giải quyết việc dân sự; thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết Trọng tài nước ngoài. Như vậy, có thể thấy yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài được xem là một thủ tục riêng biệt với thủ tục giải quyết vụ việc dân sự[18]. Điều này còn được thể hiện ở các quy định về đơn yêu cầu, thời hiệu yêu cầu, phiên họp xét đơn, kháng cáo, kháng nghị… trong thủ tục công nhận cũng được quy định riêng biệt, chứ không dẫn đến phần chung về việc dân sự. Hơn nữa, về cấu trúc, thủ tục công nhận và cho thi hành nằm độc lập ở Phần thứ bảy BLTTDS 2015 chứ không nằm trong Phần thứ sáu về thủ tục giải quyết việc dân sự, vốn có các thủ tục cụ thể khác như thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam, công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, bắt giữ tàu biển… Điều này càng được củng cố qua Bản thuyết minh về BLTTDS sửa đổi (2015) của Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, việc bổ sung nội dung về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài vào phạm vi điều chỉnh của BLTTDS 2015 tại Điều 1 vì thủ tục này được quy định tại BLTTDS năm 2004 nhưng lại chưa được quy định trong phạm vi điều chỉnh[19]. Có nghĩa rằng, quan điểm của cơ quan lập pháp là thủ tục công nhận và cho thi hành có sự độc lập với thủ tục giải quyết vụ việc dân sự thông thường nên cần được tách riêng và bổ sung vào Điều 1 BLTTDS 2015.
Nếu theo quan điểm này thì thời hiệu sẽ được Tòa án tự động áp dụng để xem xét việc thụ lý đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài. Điều này cũng phù hợp với Bản thuyết minh về BLTTDS sửa đổi (2015) của Tòa án nhân dân tối cao khi cho rằng cần quy định thời hạn nộp đơn yêu cầu để tăng trách nhiệm cho chủ thể nộp đơn và hiệu quả giải quyết của Tòa án[20].
Tuy nhiên, theo tác giả, về bản chất, thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài mang các đặc điểm của việc dân sự, do đó, vấn đề về thời hiệu đối với thủ tục này vẫn nên tuân theo Điều 184 BLTTDS 2015. Điều này có nghĩa Tòa án chỉ được áp dụng thời hiệu để từ chối thụ lý yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài khi có yêu cầu của một hoặc các bên liên quan. Cách hiểu này sẽ tránh được sự can thiệp của Tòa án vào khả năng công nhận và cho thi hành, đồng thời tăng thêm khả năng phán quyết Trọng tài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo đúng tinh thần Công ước[21].
3.2. Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài
Theo Điều 451 BLTTDS 2015 thì thời hạn nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài là 03 năm kể từ ngày phán quyết của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, để nộp đơn thì người được thi hành phải có quyền được nộp đơn. Cụ thể, người được thi hành chỉ có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài với điều kiện bên phải thi hành cư trú, làm việc, có trụ sở chính hoặc tài sản liên quan đến thi hành có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu[22]. Điều này có nghĩa, khi phán quyết Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật, tức thời hạn nộp đơn bắt đầu được tính, nhưng người phải thi hành không hiện diện tại Việt Nam hoặc tài sản thi hành không có ở Việt Nam thì bên được thi hành cũng không có quyền nộp đơn.
Chẳng hạn, một phán quyết Trọng tài nước ngoài có hiệu lực vào ngày 01/01/2020 thì đây cũng chính là thời điểm bắt đầu tính thời hạn để nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành. Tuy nhiên, nếu bên phải thi hành không hiện diện và tài sản thi hành chưa có tại Việt Nam thì bên được thi hành dù muốn cũng không có quyền nộp đơn yêu cầu. Giả sử đến tháng 02/2023, người phải thi hành mới đầu tư và chuyển tiền vào Việt Nam, lúc này người được thi hành mới có quyền được nộp đơn nhưng thời hạn nộp đơn đã hết. Điều này rõ ràng làm cho quyền lợi của người được thi hành không được bảo đảm.
Một giải pháp có được tính đến là chứng minh khoảng thời gian không thể nộp đơn này là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan[23]. Tuy nhiên, điều này cũng không hợp lý vì một số lý do. Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thường được hiểu là các vấn đề như thiên tai, địch họa hoặc các trường hợp mà các bên không thể thực hiện quyền của mình như do tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức, do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành…[24]. Đây là những lý do không liên quan đến trường hợp này. Thứ hai, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan chỉ áp dụng khi chủ thể đã có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu[25]. Trong khi đây là trường hợp người nộp đơn chưa có quyền yêu cầu. Thứ ba, nếu áp dụng sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan trong trường hợp này thì có thể hiểu chính quy định của BLTTDS 2015 lại là trở ngại cho các bên để thực hiện quyền nộp đơn. Rõ ràng đây là một điều rất không logic và không hợp lý.
4. Một số kiến nghị cho Việt Nam
Qua kết quả nghiên cứu, tác giả có một số đề xuất cho Việt Nam trong việc hoàn thiện các quy định về công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài như sau.
Thứ nhất, cần thay đổi thuật ngữ “phán quyết của Trọng tài nước ngoài” thành “phán quyết Trọng tài nước ngoài” để phù hợp với Công ước. Đồng thời, dựa trên Công ước cũng như pháp luật các quốc gia, việc xác định phán quyết Trọng tài nước ngoài nên được xác định dựa vào nơi tuyên phán quyết thay vì quốc tịch của Trọng tài.
Thứ hai, cần giải thích rõ thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài nói riêng, và thủ tục công nhận và cho thi hành nói chung có phải là một thủ tục độc lập với thủ tục giải quyết việc dân sự hay không. Bên cạnh đó, việc xác định Tòa án có quyền tự động áp dụng thời hiệu, thời hạn đối với thủ tục này hay không cũng là điều cần thiết. Như đã phân tích ở phần trên, theo tác giả, chúng ta không nên trao quyền cho Tòa án được tự động áp dụng thời hiệu để từ chối thụ lý yêu cầu công nhận và cho thi hành, từ đó tạo điều kiện tối đa để phán quyết Trọng tài nước ngoài có khả năng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Thứ ba, thời điểm bắt đầu tính thời hạn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài nước ngoài nên được tính từ thời điểm người được thi hành, người có quyền liên quan có quyền nộp đơn yêu cầu thay vì từ thời điểm phán quyết Trọng tài có hiệu lực./.

[1] Chẳng hạn như: Article 66.1 UK Arbitration Act 1996; Section 1060 German Code of Civil Procedure 2005 (amended 2021); Điều 67 Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010; điểm e khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (văn bản hợp nhất 2022).
[2] Như Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự với các nước như Lào (khoản 1 Điều 5, Điều 44), Triều Tiên (khoản 4 Điều 3), Trung Quốc (Điều 21), Nga (khoản 3 Điều 52)… Trong đó, một số Hiệp định sẽ dẫn chiếu đến việc áp dụng Công ước New York 1958.
[3] Điều 1 Pháp lệnh Công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài 1995; khoản 2 Điều 342 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004; khoản 10, 11, 12 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
[5] International Council for Commercial Arbitration, ICCA’s Guide to The Interpretation of The 1958 New York Convention: A Handbook For Judges, 2011, page 21.
[6] Điều 1.1 Công ước New York 1958.
[7] Tuy nhiên, cần lưu ý là những yếu tố này có thể liên quan đến việc xác định thỏa thuận Trọng tài có thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước hay không theo Điều 2.
[8] Chẳng hạn như Đức: Section 1025 German Code of Civil Procedure 2005 (amended 2021), xem thêm: K.H. Böckstiegel, S. Kröll and P. Nacimiento, Germany as a Place for International and Domestic Arbitrations - General Overview, Transnational Dispute Management (TDM), Vol. 6, issue 1, March 2009, page 18;  Ấn Độ: Section 44 of Arbitration and Conciliation Act 1996, xem thêm: Indian Dispute Resolution Centre (IDRC), What is foreign arbitration award?, https://theidrc.com/content/adr-faqs/what-is-foreign-arbitration-award, truy cập ngày 10/7/2024; Thụy Sỹ: Article 335 of the Swiss Civil Procedure Code, xem thêm: ICLG, International Arbitration Laws and Regulations - Switzerland Chapter, 20th Edition, 2023, page 274; Pháp: French Code of Civil Procedure – Book IV – Title VI: phân chia thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết Trọng tài dựa vào nơi tuyên phán quyết; Cộng hòa Czech, xem thêm: Alexander J. Belohlavek, Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards: The Application of the New York Convention by National Courts - Czech Republic, The Lawyer Quarterly, Vol. 4, Issue 2 2014, page 94.
[9] Section 202 United States Federal Arbitration Act.
[10] International Council for Commercial Arbitration, ICCA’s Guide to The Interpretation of The 1958 New York Convention: A Handbook For Judges, 2011, page 22-23.
[11] Xem thêm: Đỗ Văn Đại - Trần Hoàng Hải, Pháp luật Việt Nam về Trọng tài thương mại, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 415.
[12] Article 1.2 and 1.3 UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration 2006.
[13] Article 34 and Explanatory Note by the UNCITRAL secretariat, UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration 1985 With amendments as adopted in 2006, UNCITRAL, 2008, page 26.
[14] Khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015, khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[15] Xem thêm: Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 194.
[16] Điều 451 BLTTDS 2015.
[17] Điều 432, 444, 447 BLTTDS 2015.
[18] Đặng Thanh Hoa, Áp dụng thời hiệu và thời hạn nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3+4 tháng 2/2018, tr. 87.
[19] Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo số 21/BC-TANDTC về Bản thuyết minh về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), 2015, tr. 2.
[20] Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo số 21/BC-TANDTC về Bản thuyết minh về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), 2015, tr. 22.
[21] Điều 3 Công ước New York 1958.
[22] Khoản 1 Điều 425 BLTTDS 2015.
[23] Khoản 2 Điều 451 BLTTDS 2015.
[24] Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP). 
[25] Điều 156 BLDS 2015.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 05 (512), tháng 03/2026.)


Thống kê truy cập

41872653

Tổng truy cập