Phát huy vai trò của trợ giúp pháp lý trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội

03/04/2026

THS. TRỊNH THỊ THANH

Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí cho nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội; kết quả và vai trò tích cực trong việc cung cấp dịch vụ này trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy trợ giúp pháp lý trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội trong thời gian tới.
Từ khóa: Trợ giúp pháp lý; an sinh xã hội; người nghèo.
Abstract: This article examines the right to free legal aid for underprivileged and vulnerable groups in society. It evaluates the results and positive contributions of providing such services in the execution of social security policies. Furthermore, the study proposes solutions to enhance the effectiveness of legal aid in implementing social security policies in the upcoming period.
Keywords: Legal aid; social security; the poor.
AN-SINH-XÃ-HỘI_1.png
Ảnh minh họa: Nguồn Internet
 
1.     Quyền được trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong xã hội
Trợ giúp pháp lý (TGPL) mang giá trị cốt lõi về bảo vệ quyền con người, của Nhà nước pháp quyền và bản chất ưu việt của chế độ, đồng thời là công cụ để Nhà nước thực hiện các cam kết quốc tế tại Việt Nam. Hiện nay, dịch vụ hỗ trợ thông tin, thực hiện TGPL theo Luật TGPL đã được xác định là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu của ngành Tư pháp. TGPL là nhiệm vụ Chính phủ giao cho ngành Tư pháp thực hiện từ năm 1997[1]. Theo đó, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về TGPL. Cục TGPL (nay được hợp nhất thành Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý) là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, được thành lập năm 1997, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước và tổ chức thi hành pháp luật về TGPL theo quy định của pháp luật.
Quyền được TGPL cho đối tượng yếu thế trong xã hội là một vấn đề được quan tâm trong quá trình xây dựng, tổ chức thi hành Luật TGPL.Việc quy định người được TGPL cần dựa trên các nguyên tắc mang tính đặc thù của Việt Nam liên quan đến chính sách của Đảng và Nhà nước về đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng, chính sách dân tộc, chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội, chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em và bản chất của hoạt động TGPL là giúp đỡ đối với một số nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội có khó khăn về tài chính, không đủ khả năng chi trả thù lao cho dịch vụ pháp lý. Bên cạnh đó, những diện người được TGPL hiện nay cũng được kế thừa từ các giai đoạn trước. Theo đó, đối tượng phục vụ quy định tại Luật TGPL năm 2017 là 14 nhóm đối tượng, chiếm khoảng 45% dân số[2] và tiếp tục mở rộng theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024[3]. Hiện nay, người được TGPL gồm: Người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người từ đủ 16 đến 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người. Và những người có khó khăn tài chính thuộc các nhóm: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; người nhiễm HIV. Theo Điều 2 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL thì điều kiện có khó khăn về tài chính là người thuộc hộ cận nghèo hoặc người đang được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật.
Việc mở rộng người thuộc diện được TGPL đáp ứng thực tiễn nhu cầu TGPL của nhóm người dễ bị tổn thương cũng như có ý nghĩa quan trọng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu mở rộng đối tượng thuộc diện được TGPL được giao tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Phát huy vai trò của TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội”[4]. Hệ thống TGPL ngày càng thể hiện được vị trí, vai trò trong thực hiện các chính sách tốt đẹp của Đảng, Nhà nước đối với người nghèo, người yếu thế và các đối tượng chính sách khác, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp.
Bên cạnh đó, hiện nay, TGPL đã được đưa vào các Chương trình mục tiêu quốc gia: về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; về phòng, chống ma túy; về phát triển văn hóa.Cùng với đó,nội dung “kết nối, đẩy mạnh các hoạt động TGPL trong các chương trình, chính sách về an sinh xã hội” cũng là một trong những nhiệm vụ của Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 09/5/2024 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những điều đóthể hiện rõ sự quan tâm toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với đối tượng yếu thế trong xã hội, tiếp tục thực hiện sâu rộng các chính sách về xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp.
2. Một số kết quả và vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội
Là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu của ngành Tư pháp[5], trong thời gian qua các tổ chức thực hiện TGPL trên toàn quốc đã nỗ lực, tích cực trong cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí trong các vụ việc cụ thể cho người nghèo, người có công với cách mạng, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các nhóm người yếu thế, dễ tổn thương khác trong xã hội, qua đó góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Sau gần 30 năm thành lập, đặc biệt là từ khi đổi mới công tác TGPL và sau 8 năm triển khai Luật TGPL năm 2017 đến nay, hệ thống TGPL ở Trung ương và địa phương đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận: Thể chế về TGPL ngày càng được hoàn thiện; tổ chức thực hiện TGPL được sắp xếp, tăng cường; hoạt động TGPL ngày càng đi vào nề nếp, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện vụ việc, nhất là vụ việc tham gia tố tụng; chất lượng dịch vụ TGPL ngày càng được nâng cao, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Năng lực của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đã dần được nâng cao và trở thành đội ngũ nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL cho người thuộc diện được TGPL. Truyền thông về TGPL ngày càng hiệu quả với nhiều hình thức đa dạng; ứng dụng công nghệ thông tin bước đầu để nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện TGPL. Hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước TGPL được tăng cường, đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp và vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, trên toàn quốc có 48 Trung tâm TGPL nhà nước và 70 Chi nhánh TGPL, 20 tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Tính đến hết năm 2024, cả nước có 712 trợ giúp viên pháp lý, 706 luật sư và 22 cộng tác viên TGPL; 463 luật sư, tư vấn viên pháp luật của các tổ chức đăng ký tham gia TGPL[6]. Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý đã có tiêu chuẩn, trình độ tương đương với Luật sư và trên thực tế năng lực của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đã dần được nâng cao và trở thành đội ngũ nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL cho người dân; số lượng vụ việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý tăng hằng năm. Ghi nhận những cố gắng, nỗ lực đó, trong thời gian qua đã có những trợ giúp viên pháp lý được tôn vinh gương sáng ngành Tư pháp.
Số lượng vụ việc có cung cấp TGPL cho người dân ngày càng tăng, chất lượng ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu của người dân yếu thế trong xã hội.Từ năm 1997 đến nay, các tổ chức thực hiện TGPL trên toàn quốc đã thực hiện được gần 2,4 triệu vụ việc cho người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các diện người được TGPL khác theo quy định. Triển khai Luật TGPL năm 2017, các địa phương đã tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm của công tác TGPL là thực hiện vụ việc TGPL, nhất là vụ việc tham gia tố tụng. Số lượng vụ việc TGPL nói chung và vụ việc TGPL tham gia tố tụng nói riêng liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước. Người dân nói chung và người được TGPL nói riêng được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp kịp thời, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền công bằng trong tiếp cận công lý và công bằng trong xét xử.
Giai đoạn 2021 - 2025, nội dung TGPL được ghi nhận trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các hoạt động TGPL đã được trung ương và địa phương triển khai đồng bộ, toàn diện. Kết quả đầu ra của từng hoạt động TGPL cơ bản giúp người dân, nhất là người nghèo, người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người dân ở vùng nông thôn thuộc diện được TGPL tiếp cận và thụ hưởng TGPL miễn phí khi có tranh chấp, vướng mắc pháp luật. Các hoạt động tăng cường năng lực cho người thực hiện TGPL đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL. Nhiều vụ việc do người thực hiện TGPL thực hiện có kết quả tích cực, đạt chất lượng; quan điểm bào chữa, bảo vệ cho người được TGPL của trợ giúp viên pháp lý, luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận, giúp cho người được TGPL bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các vụ việc TGPL được thẩm định, đánh giá chất lượng đều từ mức đạt trở lên.
Với những kết quả đạt được của công tác TGPL trong thời gian qua, nhất là thông qua số lượng và chất lượng các vụ việc tham gia tố tụng được cung cấp cho người nghèo, người có công với cách mạng và đối tượng yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội đã thể hiện rõ nét chức năng xã hội của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật; góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện chính sách an sinh xã hội, phát triển sinh kế, giảm nghèo bền vững…
Chính vì vậy, trong giai đoạn 2026 - 2035, nội dung về TGPL tiếp tục được ghi nhận trong các Hợp phần thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bên cạnh đó, trợ giúp pháp lý là một nội dung trong Dự án thành phần số 8 “Nâng cao khả năng tiếp cận, thụ hưởng về dịch vụ trợ giúp pháp lý chất lượng và giáo dục pháp luật trong phòng, chống ma tuý” của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và nội dung thành phần 1 về phát triển con người Việt Nam có nhân cách và lối sống tốt đẹp, nội dung thành phần 2 về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh; phát triển hệ thống hạ tầng, cảnh quan, thiết chế văn hóa đồng bộ, hiệu quả, nội dung thành phần 4 về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2025 đến năm 2030.
3. Các giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của trợ giúp pháp lý trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội
3.1. Yêu cầu
Hiện nay, TGPL được xác định là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu. Trong thời gian tới, bối cảnh triển khai nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật, các thiết chế trong lĩnh vực TGPL...” theo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết quan trọng của Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW)[7], về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW)[8] và chuyển đổi số quốc gia, đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách bộ máy nhà nước, phân cấp, phân quyền và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, hệ thống TGPL Việt Nam và đội ngũ làm công tác này sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, đoàn kết, phát triển mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, thu hút sự tham gia của toàn xã hội trong việc giúp người dân ngày càng tiếp cận tốt hơn chính sách TGPL nhân văn của Đảng và Nhà nước ta.
Do đó, cần tiếp tục khẳng định hoạt động TGPL với vai trò là dịch vụ công thiết yếu; vị trí, vai trò của cơ quan, tổ chức TGPL trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người thuộc diện được TGPL. Lấy người thuộc diện được TGPL làm trung tâm, làm mục đích phục vụ, với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, nhất là người nghèo, người yếu thế, dễ tổn thương trong việc tiếp cận hoạt động TGPL “từ sớm, từ xa”, có chất lượng và ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại; phát huy vai trò của TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội[9], kết nối, đẩy mạnh các hoạt động TGPL trong các chương trình, chính sách về an sinh xã hội[10]. Tăng cường chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL qua đó góp phần bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân[11]
3.2. Một số giải pháp
Để triển khai những chỉ đạo, yêu cầu trên, cần tiếp tục triển khai hiệu quả một số giải pháp phát huy vai trò TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội như sau:
a)Tiếp tục hoàn thiện thể chế về TGPL phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.
- Nghiên cứu, mở rộng diện người được TGPL: Bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn nhỏ; người bị nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật, nhằm bảo đảm tối đa quyền được tiếp cận dịch vụ TGPL cho các đối tượng đặc thù, phù hợp với thông lệ quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Mở rộng TGPL cho tất cả người thuộc hộ cận nghèo, người hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người nhiễm HIV, người cao tuổi, người bị bạo lực gia đình trong vụ việc bạo lực gia đình. Bổ sung các diện người được TGPL gồm: người dân tộc thiểu số thuộc dân tộc rất ít người; người có khó khăn về tài chính do gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, mất mùa, sự kiện bất khả kháng, tình trạng khẩn cấp theo quy định pháp luật; cá nhân bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Nghiên cứu sửa đổi quy định về Trung tâm TGPL nhà nước, Chi nhánh TGPL phù hợp với quy mô của các tỉnh đã được hợp nhất trên cơ sở đặc thù của công tác TGPL (gắn kết, phối hợp thường xuyên, trực tiếp với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có liên quan khác), người thực hiện TGPL phù hợp với thực tiễn, yêu cầu tình hình mới và mô hình các cơ quan tư pháp địa phương. Theo đó, nghiên cứu, mở rộng phạm vi, điều kiện trở thành cộng tác viên TGPL  để thu hút nguồn lực có trình độ, kinh nghiệm làm công tác pháp luật tham gia TGPL, đồng thời mở rộng hình thức TGPL của đối tượng này thêm đại diện ngoài tố tụng, bên cạnh hình thức tư vấn pháp luật như quy định hiện hành. Nghiên cứu bổ sung quy định trách nhiệm phối hợp của các tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động TGPL và các nội dung khác cho phù hợp với thực tiễn.
b) Tiếp tục tổ chức triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, gồm Chương trình mục tiêu quốc gia hợp nhất (phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giảm nghèo bền vững; xây dựng nông thôn mới) và hai chương trình mục tiêu quốc gia mới được Quốc hội thông qua là Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma túy và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa.
c) Tiếp tục nâng cao năng lực của cơ quan có thẩm quyền về TGPL ở Trung ương và địa phương; sắp xếp các Trung tâm TGPL nhà nước phù hợp theo chỉ đạo sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp công lập và đáp ứng yêu cầu thực tiễn tương xứng với vai trò là tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công thiết yếu. Các tổ chức thực hiện TGPL cần tiếp tục tập trung thực hiện vụ việc TGPL, nhất là vụ việc tham gia tố tụng, bảo đảm thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu TGPL xuyên suốt, kịp thời, hiệu quả. Tăng cường chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL thông qua việc tổ chức thẩm định, đánh giá chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL; xây dựng đội ngũ người thực hiện TGPL chuyên nghiệp, có đầy đủ kiến thức và kỹ năng bảo đảm cung cấp dịch vụ TGPL có chất lượng, nhất là trong tham gia tố tụng.
d) Nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng quyền được TGPL miễn phí cho người dân thông qua việc đa dạng hoá các cách thức và nâng cao chất lượng truyền thông về TGPL, kết hợp các cách thức truyền thông truyền thống với các cách thức truyền thông hiện đại trên mạng xã hội, các diễn đàn trực tuyến, mạng viễn thông, sóng phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt hoặc dịch sang các tiếng dân tộc phổ biến bảo đảm hiệu quả, phù hợp với từng vùng, miền, từng nhóm đối tượng yếu thế (như trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số…) hoặc thông qua đường dây nóng TGPL: 18001233...; nâng cao kiến thức, hiểu biết về TGPL của đội ngũ cán bộ cơ sở, người có uy tín trong cộng đồng trong việc hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ TGPL.
đ) Hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực TGPL, tạo sự đồng bộ với các các lĩnh vực an sinh xã hội khác; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực TGPL, triển khai hiệu quảviệc thực hiện100% thủ tục hành chính trực tuyến toàn trình trong lĩnh vực TGPL; tăng cường kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các Bộ, ngành, cơ quan có liên, giúp người dân tiếp cận và được TGPL sớm khi có nhu cầu… Triển khai hiệu quả Dự án đầu tư công hệ thống thông tin TGPL; đẩy mạnh ứng dụng thử nghiệm trí tuệ nhân tạo trong công tác TGPL nói chung và trong cung cấp thông tin về TGPL cho người dân nói riêng, sử dụng 100% trí tuệ nhân tạo trong hoạt động tư vấn pháp luật đơn giản cho người dân. 
TGPL ở Việt Nam ra đời từ nhu cầu tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và đến nay luôn gắn liền với chương trình giảm nghèo và các chương trình an sinh xã hội khác. Việc phát huy vai trò TGPL trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ nhưng cũng là cơ hội để TGPL nâng cao vai trò, vị thế của mình trong đời sống xã hội./.


[1] Theo Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách.
[2] Báo cáo đánh giá tác động của Dự án Luật TGPL (sửa đổi), Hồ sơ trình Quốc hội 30/9/2016.
[3] Cụ thể:
- Về người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Theo Luật TGPL năm 2017, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị buộc tội và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ việc hình sự có khó khăn về tài chính được TGPL miễn phí. Nay diện người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc diện được TGPL miễn phí được sửa đổi bởi Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, bao gồm: (1) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, (2) Người bị kiến nghị khởi tố, (3) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, (4) Người bị buộc tội, (5) Bị hại, (6) Người làm chứng, (7) Người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, (8) Phạm nhân.
- Về nạn nhân của hành vi mua bán người: Theo Luật TGPL năm 2017, nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 có khó khăn về tài chính (bao gồm thuộc hộ cận nghèo hoặc được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định). Nay, Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 đã sửa đổi diện người này như sau: (1) Nạn nhân của hành vi mua bán người, (2) Người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và (3) Người dưới 18 tuổi đi cùng nạn nhân.
[4] Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng.
[5] Quyết định số 2069/QĐ-TTg ngày 8/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ.
[6] Tờ trình số 31/TTr-CP ngày 01/02/2026 của Chỉnh phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL.
[7] Xây dựng mạng lưới, nâng cao năng lực của hệ thống TGPL để người dân dễ tiếp cận pháp luật; nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng TGPL, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp; hiện đại hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống TGPL; mở rộng đối tượng được TGPL phù hợp với điều kiện của đất nước.
[8] Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống TGPL, để người dân dễ tiếp cận pháp luật; ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, TGPL; bố trí nguồn ngân sách phù hợp, tương xứng cho công tác tổ chức thi hành pháp luật. Ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác TGPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.
[9] Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng.
[10] Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 09/5/2024 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
[11] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.
 

Thống kê truy cập

40084770

Tổng truy cập