Nhận diện và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử: Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện

12/03/2026

PGS. TS. CAO VŨ MINH

Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Trong mọi hoạt động, tuân thủ pháp luật và vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành. Hoạt động bầu cử cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù các vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử không diễn ra phổ biến nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tính chính danh của cuộc bầu cử. Trong tương quan đó, việc xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử không chỉ có mục đích trừng trị mà còn mang ý nghĩa giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Bài viết nhận diện những hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử, phân tích các loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các vi phạm này. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích một số hạn chế trong quy định pháp luật về xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử, đồng thời đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

Từ khóa: Bầu cử; vi phạm pháp luật; khiếu nại; tố cáo; xử lý vi phạm.
Abstract: In all activities, compliance with the law and violations of the law always coexist. Elections are no exception. While not widespread, violations of the law during elections significantly impact the legitimacy of the election process. Therefore, strictly punishing these violations serves not only as punishment but also as an educational, deterrent, and preventative measure. This article identifies violations in election activities and analyzes the types of legal liability applicable to these violations. Based on this, the article analyzes legal shortcomings in handling violations in election activities and proposes recommendations for improvement.
Keywords: Elections; violations of the law; complaints; denunciations; handling of violations.
PHIẾU-BẦU-CỬ.jpg           
Ảnh minh họa: Nguồn Internet
1. Đặt vấn đề
Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện. Sở dĩ nói bầu cử được xem là quyền chính trị cơ bản của công dân bởi bầu cử thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung cũng như thành lập cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương nói riêng. Do vậy, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động bầu cử đóng vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành công của một cuộc bầu cử. Bên cạnh đó, việc phát hiện, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử có ý nghĩa quyết định đến tính chính danh của bộ máy nhà nước và niềm tin của Nhân dân vào chế độ dân chủ.
2. Nhận diện các vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử
Hiện nay, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định về bầu cử là Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tuy nhiên, luật này không quy định mang tính hệ thống về các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử. Nói cách khác, các vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử hiện được quy định phân tán ở nhiều điều, khoản khác nhau của đạo luật này. Việc xác định vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử chỉ có thể suy luận từ những hành vi bị cấm hoặc các quy định về xử lý vi phạm trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cụ thể, Điều 68 Luật này quy định những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử. Nếu chủ thể thực hiện những hành vi bị cấm này thì có thể kết luận là vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử. Bên cạnh đó,Điều 95 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động bầu cử.
Theo Điều 95 vừa đề cập, người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghiên cứu quy định tại Điều 95, có thể phân chia vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử thành các nhóm:
Nhóm 1: Nhóm hành vi dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân;
Nhóm 2: Nhóm hành vi vi phạm các quy định về vận động bầu cử. Theo đó, chủ thể thực hiện một trong các hành vi bị cấm trong vận động bầu cử thì bị xem là vi phạm các quy định về vận động bầu cử.
Nhóm 3: Nhóm hành vi của người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử. Cần lưu ý, nhóm hành vi này được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt, tức là người có trách nhiệm trong công tác bầu cử.
Nhóm 4: Nhóm hành vi vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử. Nhóm hành vi vi phạm này rất đa dạng và khó có thể nhận diện một cách đầy đủ. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định liên quan đến khiếu nại, tố cáo trong hoạt bầu cử được quy định tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành, có thể nhận diện được một số vi phạm. Một khi pháp luật cho phép công dân khiếu nại, tố cáo các quy trình khác nhau trong hoạt động bầu cử thì nhà làm luật đã dự liệu có thể xảy ra những hành vi vi phạm. Với tư duy đó thì hành vi vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử có thể là vi phạm liên quan đến việc lập danh sách cử tri; vi phạm liên quan đến người ứng cử; vi phạm liên quan đến kiểm phiếu và vi phạm liên quan đến kết quả bầu cử.
3. Xác định trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử
Ở nước ta, trách nhiệm pháp lý thường được hiểu là những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần được áp dụng bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Những hậu quả pháp lý bất lợi này là những hình thức cưỡng chế pháp lý được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật tương ứng[1]. Thông thường, trách nhiệm pháp lý được phân chia thành các nhóm cơ bản như: trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự (tội phạm)[2].
Điều 95 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không quy định cụ thể từng hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử nhưng xác định chung các loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các vi phạm. Cụ thể, tùy theo hành vi vi phạm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà chủ thể vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm kỷ luật là dạng trách nhiệm pháp lý được thực hiện trong quan hệ nội bộ của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị[3]. Trách nhiệm kỷ luật là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm kỷ luật, vi phạm các quy tắc và nghĩa vụ trong hoạt động dẫn đến hậu quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, của ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, đơn vị. Với góc nhìn này thì trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với chủ thể đặc thù (cán bộ, công chức, viên chức) khi các chủ thể này vi phạm pháp luật[4]. Trách nhiệm hành chính được hiểu là hậu quả bất lợi mà chủ thể vi phạm hành chính phải gánh chịu theo quy định của pháp luật. Hậu quả bất lợi thể hiện bằng các hình thức chế tài hành chính áp dụng đối với chủ thể vi phạm hành chính[5]. Trong khi đó, trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý mà chủ thể phải chịu khi thực hiện hành vi phạm tội, được quy định trong Bộ luật Hình sự[6].
Trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước[7]. Nói cách khác, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự đều là những chế tài mà Nhà nước đặt ra để trừng trị, răn đe, giáo dục chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật (trong đó chủ yếu là cá nhân). Tuy nhiên, hai loại trách nhiệm pháp lý này có sự khác biệt nhất định.
Một là, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm: Hành vi trái pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi có thể căn cứ vào mức độ thiệt hại. Căn cứ vào các dấu hiệu này, có thể phân biệt được ranh giới giữa trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự. Ví dụ: hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) (sau đây gọi tắt là BLHS)… Như vậy, nếu hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá dưới “mức” này thì sẽ bị coi là vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính.
Ngoài ra, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn có thể căn cứ vào số lần vi phạm. Theo đó, nhiều vi phạm pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính[8]. Ví dụ: đối với hành vi trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS), nếu tài sản bị trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người vi phạm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạmthì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bên cạnh đó, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi còn được xem xét thông qua công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm. Ví dụ: theo khoản 1 Điều 134 BLHS, hành vi cố ý gây thương tích cho người khác mà có sử dụng “vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểmsẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay cả khi tổn thương cơ thể của nạn nhân dưới 11%.
  Hai là, xét về khách thể: Khách thể của vi phạm hành chính và vi phạm hình sự được mô tả như hai vòng tròn giao nhau, dù phạm vi giao nhau là khá lớn nhưng vẫn tồn tại những quan hệ xã hội chỉ có thể là vi phạm hành chính, dù có vi phạm nhiều lần cũng không chuyển hóa thành tội phạm (điều khiển mô tô không đội mũ bảo hiểm; bấm còi, rú ga liên tục khi điều khiển xe ô tô…). Ngược lại, có những vi phạm pháp luật chỉ có thể là tội phạm chứ không bao giờ là vi phạm hành chính, dù có gây hậu quả hay chưa (hành vi giết người, khủng bố…).
Khác với trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự (loại trách nhiệm pháp lý nhà nước), trách nhiệm kỷ luật là trách nhiệm trước cơ quan, đơn vị. Do đó, khi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về bầu cử đồng thời là tội phạm (hoặc vi phạm hành chính) thì ngoài việc gánh chịu trách nhiệm hình sự (hoặc trách nhiệm hành chính) thì còn gánh chịu trách nhiệm kỷ luật.
Hiện nay, BLHS có 02 điều luật quy định trực tiếp việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các vi phạm trong hoạt động bầu cử. Cụ thể, Điều 160 BLHS quy định về Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử. Theo đó, trong cấu thành cơ bản của tội danh này, chỉ cần chủ thể có hành vi lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Mặt khách quan của hành vi vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 160 BLHS hoàn toàn trùng khớp với những vi phạm được nhận diện tại nhóm 1 đã nêu ở trên. Như vậy, có thể kết luận, chủ thể thực hiện hành vi quy định tại nhóm 1 (dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân) sẽ luôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thì còn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật[9].
Điều 161 BLHS quy định về Tội làm sai lệch kết quả bầu cử. Theo đó, trong cấu thành cơ bản của tội danh này, chỉ cần chủ thể là người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Mặt khách quan của hành vi vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 161 BLHS hoàn toàn trùng khớp với những vi phạm được nhận diện tại nhóm 3 đã nêu ở trên. Như vậy, có thể kết luận, chủ thể là người nào có trách nhiệm trong việc tổ chức, giám sát việc bầu cử mà lại thực hiện hành vi quy định tại nhóm 3 (giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử) sẽ luôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thì còn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
Nếu như các vi phạmpháp luật được nêutại nhóm 1, nhóm 3 đã xác định được loại trách nhiệm pháp lý tương ứng áp dụng thì các vi phạm được nêutại nhóm 2, nhóm 4 không được quy định cụ thể về chế tài pháp lý. Căn cứ vào mặt khách quan của hành vi bị nghiêm cấm và tùy theo tính chất, mức độ có thể xác định các loại trách nhiệm pháp lý áp dụng.
Trước hết, đối với các vi phạm tại nhóm 2 (những vi phạm pháp luật về vận động bầu cử): Nghiên cứu Điều 68 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), có thể nhận diện các vi phạm pháp luậtvề vận động bầu cử, bao gồm:
i. Hành vi “lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác” có các biểu hiện cụ thể như: “lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật”; “lợi dụng vận động bầu cử để làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác”. Nếu chủ thể “lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật” và có mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 117 BLHS (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Trong trường hợp chủ thể thực hiện hành vi nhưng không có mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 311 BLHS (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân). Đối với hành vi “lợi dụng vận động bầu cử để làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền, lợi ích hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân khác” thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 3 Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Trong trường hợp hành vi vi phạm ở mức độ nghiêm trọng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 155 BLHS (Tội làm nhục người khác) hoặc Điều 311 BLHS (Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân). Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự, nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thì còn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
ii. Hành vi “lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử”. Hành vi này được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn và đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử nhằm tạo lợi thế trong việc bỏ phiếu[10]. Nghiên cứu BLHS thì có Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ(Điều 356) với cấu thành cơ bản là “lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử” mà “gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (không phải là thiệt hại tài sản). Như vậy, nếu như chủ thể “lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử” và phải “gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 356 BLHS. Trong trường hợp chủ thể chỉ “lạm dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử” thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính cũng không có quy định về việc truy cứu trách nhiệm hành chính đối với hành vi này. Tuy không bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự, nhưng nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi này thì vẫn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
iii. Hành vi “lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình”. Nghị định số 93/2021/NĐ-CP quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục và thời gian đóng góp tự nguyện hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố cũng như hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Nếu vi phạm các quy định trong Nghị định số 93/2021/NĐ-CP thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS…) hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đối với hành vi “lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình” thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 93/2021/NĐ-CP. Do đó, hành vi “lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình” mặc dù bị cấm theo Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành nhưng không tìm thấy chế tài tương ứng để truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Tuy không bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự, nhưng nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi này thì vẫn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
iv. Hành vi “sử dụng hoặc hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri” có các biểu hiện cụ thể như: “sử dụng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất tặng, cho cử tri nhằm lôi kéo, mua chuộc cử tri”; “hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri”. Xét về mặt khách quan, việc sử dụng lợi ích vật chất (tiền, tài sản) để mua chuộc một chủ thể có dấu hiệu của hành vi đưa hối lộ. Hành vi đưa hối lộ thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối tượng nhận lợi ích vật chất phải là người có chức vụ, quyền hạn. Trong khi đó, cử tri tuy có quyền bỏ phiếu nhưng lại không phải là người có chức vụ, quyền hạn. Do đó, hành vi “sử dụng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất tặng, cho cử tri nhằm lôi kéo, mua chuộc cử tri và cảhứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri” cũng không thể xác định được chế tài tương ứng để truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Tuy không bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự, nhưng nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi này thì vẫn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
Tiếp theo, đối với các vi phạm tại nhóm 4 (nhóm hành vi vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử): Do tính chất đa dạng và phức tạp của các vi phạm trong nhóm này mà việc xác định trách nhiệm pháp lý là vấn đề không đơn giản.
Như đã trình bày,hành vi vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử có thể là vi phạm liên quan đến việc lập danh sách cử tri. Theo đó, cơ quan lập danh sách cử tri đã có những sai sót trong việc lập danh sách cử tri và bị khiếu nại nhưng không giải quyết khiếu nại. Trong trường hợp này, chủ thể vi phạm có thể gánh chịu trách nhiệm kỷ luật theo Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về giải quyết khiếu nại.
Bên cạnh đó, hành vi vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử còn có thể là vi phạm liên quan đến người ứng cử. Cụ thể, người ứng cử có thể sử dụng hồ sơ, giấy tờ không hợp pháp để được bầu cử. Hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 BLHS) hoặc có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự nếu người vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi này thì còn có thể bị xử lý trách nhiệm kỷ luật.
4. Một số hạn chế của quy định pháp luật về áp dụng trách nhiệm pháp lý và giải quyết hậu quả khi xảy ra vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử
Thứ nhất, hiện nay, có khoảng 90 nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực do Chính phủ ban hành. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn chưa ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động bầu cử. Các vi phạm pháp luật về bầu cử bị truy cứu trách nhiệm pháp lý được quy định khá rời rạc trong Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) dẫn đến khó nhận diện và xử lý khi xảy ra trên thực tế. Ngoài những vi phạm luôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 160, 161 BLHS thì còn những vi phạm khác không phải là vi phạm hình sự và cần được minh định bằng quy phạm pháp luật.
Về mặt nguyên lý, khi đã xác định hành vi bị nghiêm cấm thì phải đồng thời xác định trách nhiệm pháp lý với chủ thể thực hiện hành vi bị cấm. Lon Fuller - nhà luật học nổi tiếng của Hoa Kỳ từ những năm 1960 trong tác phẩm “Đạo của pháp luật” (Morality of Law), đã chỉ ra có nhiều yếu tố khiến cho một hệ thống pháp luật trở nên vô nghĩa trong đó có một yếu tố là sự thiếu minh bạch trong việc quy định các biện pháp chế tài[11]. Do đó, bên cạnh các vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhà làm luật cần quy định những vi phạm trong hoạt động bầu cử bị truy cứu trách nhiệm hành chính. Phân định vi phạm hình sự với vi phạm hành chính trong hoạt động bầu cử không chỉ bảo đảm sự đồng bộ, nhất quántrong áp dụng pháp luật mà còn góp phần giữ gìn tính nghiêm minh, liêm chính trong hoạt động bầu cử.
 Thứ hai, vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong mọi quy trình của hoạt động bầu cử. Bên cạnh việc truy cứu trách nhiệm pháp lý chủ thể có lỗi, Nhà nước còn phải giải quyết những hậu quả pháp lý kéo theo sau đó. Theo Điều 60 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành, người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH đã được Hội đồng Bầu cử quốc gia công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Hội đồng Bầu cử quốc gia xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử ĐBQH. Tương tự, người có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND đã được Ủy ban bầu cử công bố mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử thì Ủy ban bầu cử, sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, quyết định xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử đại biểu HĐND.
Như vậy, việc xóa tên những người có tên chính thức trong danh sách ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp được thực hiện khi người ứng cử có “vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử”. Cần lưu ý, không phải mọi “vi phạm pháp luật về bầu cử” của người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp đều dẫn đến hậu quả là bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử. Theo đó, hành vi “vi phạm pháp luật về bầu cử” phải được đánh giá ở mức độ nghiêm trọng thì mới dẫn đến việc bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử. Tuy nhiên, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) lại không có quy phạm giải thích “vi phạm pháp luật về bầu cử” nào là vi phạm nghiêm trọng. Bất cập này dẫn đến thực tế là khi có “vi phạm pháp luật về bầu cử” và vi phạm này được đánh giá là nghiêm trọng nhưng chủ thể có thẩm quyền cũng “không dám” xóa tên người vi phạm trong danh sách những người ứng cử đại biểu. Ở chiều ngược lại, do không có quy định cụ thể để xác định vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử nên người ứng cử có thể không dè chừng hệ lụy khi thực hiện hành vi của mình.
 Thứ ba, trong trường hợp phát hiện khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng thì Hội đồng Bầu cử quốc gia tự mình hoặc theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh sẽ hủy bỏ kết quả bầu cử và quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đó. Quy định pháp luật rất rõ ràng nhưng hiểu và thực hiện thế nào trên thực tế là một điều không hề dễ dàng.
Cụ thể, vi phạm pháp luật nào là vi phạm nghiêm trọng đến mức phải hủy bỏ kết quả bầu cử thì không được giải thích rõ ràng trong luật. Một khi vấn đề này không được giải đáp cụ thể thì việc triển khai thực hiện chắc chắn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, một câu hỏi được đặt ra là trường hợp chủ thể có thẩm quyền (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh…) “gửi đề nghị” đến Hội đồng Bầu cử quốc gia khi “nhận thấy” có vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng nhưng Hội đồng Bầu cử quốc gia không “đồng tìnhthì giải quyết như thế nào? Trong trường hợp này, vấn đề hủy bỏ kết quả bầu cử” sẽ không được tiến hành bởi thẩm quyền chính thức vẫn thuộc về Hội đồng Bầu cử quốc gia. Tuy nhiên, cơ chế phản hồi như thế nào và thủ tục thực hiện ra sao thì vẫn cần có lời giải chính thức.
Một vấn đề nữa cần lưu ý là trong trường hợp Hội đồng Bầu cử quốc gia hủy bỏ kết quả bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết định ngày bầu cử lại ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử đó. Theo khoản 2 Điều 81 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành, trong trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Tuy nhiên, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) lại không quy định về trường hợp là nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử không đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại có được công nhận hay không? Trong trường hợp này, kết quả bầu cử lại sẽ được công nhận hay phải tổ chức bầu cử lại lần thứ hai? Các quy định trong pháp luật hiện hành chưa trả lời câu hỏi này.
5. Kiến nghị và kết luận
Thứ nhất, các vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau. Bên cạnh chủ thể đặc biệt thực hiện hành vi vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức với trách nhiệm kỷ luật bao quát thì những chủ thể khác (công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch) vẫn có thể thực hiện những hành vi bị nghiêm cấm. Do đó, bên cạnh những hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Chính phủ cần quy định những hành vi vi phạm cụ thể trong hoạt động bầu cử là vi phạm hành chính. Theo tác giả, những hành vi như “lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình”; “sử dụng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất tặng, cho cử tri nhằm lôi kéo, mua chuộc cử tri”; “hứa tặng, cho, ủng hộ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để lôi kéo, mua chuộc cử tri”… hoàn toàn có thể quy định là vi phạm hành chính và bị truy cứu trách nhiệm hành chính. Quy định hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử bị xử phạt vi phạm hành chính một mặt có thể lấp vào lỗ hổng thiếu chế tài pháp lý áp dụng đối với những hành vi bị nghiêm cấm, mặt khác, lại có thể đáp ứng được mục đích răn đe, trừng trị những hành vi vi phạm[12].
Thứ hai, tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tức là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Do đó, nhà làm luật có thể quy định “vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử” là những vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Dưới góc độ lý luận, hành vi “dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân” xâm phạm trực tiếp đến các quyền dân chủ hiến định của công dân. Hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 160 BLHS nên phải xác định đây là “vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử”. Dưới góc độ thực tiễn, người thực hiện hành vi nói trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bằng bản án phạt tù có thời hạn. Khi bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì người vi phạm sẽ bị cách ly khỏi xã hội. Do đó, người này không thể nào trở thành đại biểu hoạt động tại các cơ quan dân cử. Vì vậy, khi phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử - tức là các vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan có thẩm quyền quyết định xóa tên người đó trong danh sách những người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND.
Ngoài hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì những vi phạm khác (hành vi gian lận, khai man, khai sai sự thật về bản thân để ứng cử…) cũng có thể được xác định là “vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử”. Điều 74 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”. Khoản 2 Điều 11 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành lại quy định: “Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để giải thích Hiến pháp, luật của Quốc hội”. Do đó, tác giả kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội sớm ban hành nghị quyết để giải thích thế nào là “vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bầu cử” làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định xóa tên người vi phạm trong danh sách những người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND.
Thứ ba, trường hợp Hội đồng Bầu cử quốc gia phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng tại khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử và tự mình quyết định hủy bỏ kết quả bầu cử thì không có gì đáng bàn luận. Tuy nhiên, trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bầu cử ở tỉnh phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng tại khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử và đề nghị Hội đồng Bầu cử quốc gia hủy bỏ kết quả bầu cử thì pháp luật cần quy định cơ chế phối hợp, gửi phản hồi ý kiến cũng như thủ tục thực hiện. Có như vậy thì việc thực hiện các bước của thủ tục mới được diễn ra thông suốt, đạt hiệu quả cao.
Theo Điều 80 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), trường hợp đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri thì Ban bầu cử phải ghi rõ vào biên bản và báo cáo ngay cho Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử đại biểu ở cấp đó. Đối với bầu cử ĐBQH, Ủy ban bầu cử ở tỉnh đề nghị Hội đồng Bầu cử quốc gia xem xét, quyết định việc bầu cử lại ở đơn vị bầu cử có số cử tri đi bỏ phiếu chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri ghi trong danh sách cử tri.Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai. Thiết nghĩ, để tạo ra sự thống nhất trong việc giải quyết hậu quả pháp lý khi tổ chức bầu cử lại thì khoản 2 Điều 81 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành có thể được sửa đổi, bổ sung như sau: “Trong trường hợp bầu cử lại do hủy bỏ kết quả bầu cử ở khu vực bỏ phiếu, đơn vị bầu cử có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì ngày bầu cử lại được tiến hành chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai”.
Những hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử không chỉ làm mất niềm tin của cử tri mà còn có thể dẫn đến việc phải tổ chức bầu cử lại, gây tốn kém thời gian, kinh phí của Nhà nước. Do đó, việc xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm trong hoạt động bầu cử đóng vai trò vô cùng quan trọng. Điều 8 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”. Để hoạt động quản lý nhà nước nói chung và xử lý vi phạm trong hoạt động bầu cử nói riêng đạt hiệu quả cao thì việc hoàn thiện pháp luật trở thành yêu cầu có tính cấp thiết. Trong bối cảnh đó, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động bầu cử. Ngoài ra, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) cũng cần được tiếp tục sửa đổi theo hướng quy định cụ thể về việc giải quyết hậu quả khi xảy ra vi phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử. Có như vậy, các vi phạm trong hoạt động bầu cử mới được hạn chế đến mức thấp nhất, từ đó góp phần bảo đảm thành công của cuộc bầu cử./.

 


[1] Hoàng Thị Kim Quế, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015, tr. 397.
[2] Lê Minh Tâm (chủ biên), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, năm 2006, tr. 504.
[3] Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2013, tr. 549.
[4] Nguyễn Hữu Phúc, “Vai trò của trách nhiệm kỷ luật hành chính trong quản lý cán bộ, công chức”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8, năm 2009, tr. 12.
[5] Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, năm 2010, tr. 528.
[6] Lê Thị Sơn, “Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Luật học, số 5, năm 1997, tr. 18.
[7] Nguyễn Cảnh Hợp, “Trách nhiệm hành chính: Từ lý luận đến thực tiễn lập pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3, năm 2020, tr. 3.
[8] Nguyễn Hoàng Việt, “Từ phạm pháp vi cảnh đến hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 12, năm 2022, tr. 8.
[9] Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 172/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 251/2025/NĐ-CP) về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức quy định: “Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu hành vi vi phạm đến mức bị xử lý hình sự”. Tương tự, Nghị định số 112/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 71/2023/NĐ-CP và Nghị định số 172/2025/NĐ-CP) về xử lý kỷ luật viên chức cũng quy định: “Không áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật đảng thay cho hình thức kỷ luật hành chính; xử lý kỷ luật hành chính không thay cho truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu hành vi vi phạm đến mức bị xử lý hình sự”.
[10] Trần Hoài Nam - Nguyễn Đức Vinh, “Vận động bầu cử: những nội dung pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện”, Tạp chí điện tử Nghiên cứu lập pháp, https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/212113/Van-dong-bau-cu--nhung-noi-dung-phap-ly-can-tiep-tuc-hoan-thien.html, truy cập ngày 06/03/2026.
[11] Lon Fuller, The Morality of Law, Publisher. Yale University Press, 1969, pp. 23; Colleen Murphy, “Lon Fuller and the moral value of the rule of law”, Law and Philosophy, No. 24, 2005, pp. 262.
[12] Edwin W. Tucker, “The Morality of Law, by Lon L. Fuller”, Indiana Law Journal, Volume 40, Issue 2, 1965, pp. 274.

Thống kê truy cập

40084167

Tổng truy cập