Quy định mới về giá đất trong Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 71/2024/NĐ-CP

08/01/2025

TS. CHÂU HOÀNG THÂN

Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ.

Tóm tắt: Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo rất cụ thể tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, Luật Đất đai năm 2024 đã có nhiều thay đổi trong quy định về giá đất tại Chương XI - Tài chính về đất đai, giá đất. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích và đánh giá những tác động về điểm mới trong quy định về giá đất của Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định về giá đất; qua đó, đưa ra những đánh giá mang tính dự báo và những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình triển khai thi hành. 
Từ khoá: Áp dụng giá đất; định giá đất; giá đất.
Abstract:According to the particular direction viewpoints of Resolution No. 18-NQ/TW, the Law on Land of 2024 recognized numerous amendments to the provisions on land prices in Chapter XI - Finance on Land and Land Price. Within this article, the author focuses on analysis and assessments of the effects of these newly updated provisions in Law on Land of 2024 and Decree No. 71/2024/ND-CP, which focus on land prices; thereby, the author also provides predictive assessments and attention-required issues in the practical enforcement of the Law on Land.
Keywords: Application of land price; land pricing; land prices.
5_86.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Quy định về nguyên tắc, căn cứ định giá, phương pháp định giá và thời điểm xác định giá đất
Nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá và thời điểm xác định giá đất là những yếu tố cơ bản, quyết định trong quá trình định giá đất. Có thể nói, giá đất chỉ có thể được tính đúng, tính đủ khi có những nguyên tắc phù hợp, căn cứ chính xác, phương pháp khoa học và thời điểm cụ thể.
Thứ nhất, quy định về nguyên tắc định giá đất thể hiện đúng bản chất nguyên tắc định giá, thiết lập nền tảng lý luận quan trọng chi phối quá trình định giá đất. So với bốn nguyên tắc tại Điều 112 Luật Đất đai năm 2013 chỉ mang tính hướng dẫn nghiệp vụ định giá đất thì 05 nguyên tắc tại khoản 1 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 đã thể hiện đúng nội dung về các nguyên tắc – những quy định phù hợp công tác định giá đất và cần được tuân thủ xuyên suốt quá trình định giá đất. Việc quy định nguyên tắc “trung thực, khách quan, công khai, minh bạch và độc lập” là cơ sở quan trọng trong quy định và thực thi các phương pháp, quy trình định giá đất. Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2024 đã trả lời câu hỏi quan trọng và thiết thực mang tính quyết định đến kết quả định giá đất: “giá đất được xác định vì lợi ích của ai?” - đó là: phải “hài hoà lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và chủ đầu tư”. Những nguyên tắc cụ thể, xác đáng lần đầu tiên được quy định trong Luật Đất đai sẽ tạo nên nhiều chuyển biến tích cực trong quy định và thực tiễn định giá đất ở nước ta thời gian tới; với nội dung súc tích, đơn giản nhưng các nguyên tắc đã phản ánh những tồn tại, bất cập về thực trạng định giá đất ở nước ta thời gian qua.
Thứ hai, căn cứ định giá đất được quy định cụ thể nâng cao tính minh bạch và thuyết phục của kết quả định giá đất. Với 05 căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong định giá đất; những căn cứ cụ thể luận giải cho kết quả định giá đã được định lượng rõ ràng, thay cho nguyên tắc định tính như: “phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường” trong thời kỳ Luật Đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, thông tin đầu vào làm căn cứ định giá đất được quy định cụ thể 04 nguồn tại khoản 3 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024. Quy định về căn cứ định giá đất sẽ nâng cao sự thuyết phục đối với kết quả định giá đất bởi những cơ sở so sánh, đối chiếu rất rõ ràng, cụ thể, loại trừ tính chủ quan, duy ý chí trong định giá đất; bảo đảm tính chặt chẽ, khoa học của hồ sơ định giá đất. Điều 8 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP về giá đất đã quy định chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất theo nhóm đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp nhằm cụ thể hoá “các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá đất” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024.
Tuy nhiên, trong các yếu tố đó lại bao gồm “thời hạn sử dụng đất” trùng lặp nội dung đã được quy định là một căn cứ độc lập tại điểm b khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024. Bên cạnh đó, căn cứ khoản 2 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 8 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP chúng ta cần nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau: (i) yếu tố “hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng đất”, dựa vào hiệu quả khai thác giá trị kinh tế của đất như kết hợp hoạt động sản xuất - kinh doanh dịch vụ đối với đất ở, đất nông nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng ảnh hưởng đến định giá đất chưa được quy định trong Luật và Nghị định; (ii) chế định sử dụng đất kết hợp đa mục đích đã được Luật Đất đai năm 2024 quy định tại Điều 218 nhưng các nội dung về định giá đất, căn cứ định giá chúng ta chưa quy định cụ thể về căn cứ định giá đối với trường hợp đất sử dụng kết hợp đa mục đích; (iii) Một trong những yếu tố rất quan trọng phản ánh tình hình thị trường tại thời điểm định giá đó là “chỉ số biến động giá đất thị trường”[1], chỉ số này không chỉ là một trong những căn cứ định giá đất mà còn góp phần thể hiện chức năng dự báo thị trường trong quản lý nhà nước về giá đất. Vì vậy, việc quy định chi tiết về chỉ số này rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu định giá đất theo nguyên tắc thị trường.
Thứ ba, phương pháp định giá đất được chính danh trong Luật với những điều kiện cụ thể áp dụng các phương pháp cùng với cơ chế linh hoạt để áp dụng các phương pháp mới. Việc không quy định tính bắt buộc trong áp dụng phương pháp định giá nên có sự tuỳ tiện áp dụng phương pháp khác nhau làm chênh lệch hàng chục lần giá trị[2]. Việc không quy định cụ thể nguyên tắc lựa chọn thứ tự ưu tiên áp dụng các phương pháp mà phụ thuộc rất lớn vào sự tuỳ nghi của chủ thể có thẩm quyền không chỉ ảnh hưởng tính chính xác của giá đất mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người thực thi công vụ. Luật Đất đai năm 2024 lần đầu tiên quy định cụ thể các phương pháp định giá đất và điều kiện áp dụng các phương pháp ngay trong Luật. Điều này bảo đảm minh bạch trong xác định giá đất và bảo vệ đội ngũ làm công tác định giá đất về sự rõ ràng khi lựa chọn phương pháp định giá đất; không chỉ định danh cụ thể mà Luật còn dự liệu trường hợp thực tiễn phát triển các phương pháp định giá đất mới thì Chính phủ được quy định các phương pháp khác sau khi được sự đồng ý của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.Sự chặt chẽ, khoa học của các điều kiện áp dụng phương pháp định giá đất là tiền đề quan trọng bảo đảm tính chính xác của giá đất, hạn chế thấp nhất những rủi ro về trách nhiệm trong quyết định giá đất - vấn đề mấu chốt làm chậm quá trình quyết định giá đất cụ thể trong thời gian qua.
Để phát huy hiệu quả nhất các quy định về phương pháp định giá đất trong Luật Đất đai năm 2024, cần làm rõ và lưu ý một số vấn đề sau trong triển khai thực hiện:
(i) cụ thể hoá quyền quyết định lựa chọn phương pháp định giá đất của Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể. Khoản 9 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 quy định tổ chức thực hiện định giá đất sẽ đề xuất để Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể quyết định lựa chọn phương pháp định giá đất được áp dụng khi xác định giá đất cụ thể. Tiếp nối, khoản 2 Điều 32 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định tổ chức thực hiện định giá đất có trách nhiệm phân tích, lựa chọn phương pháp định giá đất phù hợp đề xuất Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể quyết định. Tuy nhiên, quy định trên vẫn chưa thể hiện rõ thời điểm, thủ tục quyết định lựa chọn phương pháp định giá đất của Hội đồng. Thiết nghĩ nội dung này cần được Thông tư hướng dẫn cụ thể nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất trong quá trình định giá, nhất là khi Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể sẽ được tổ chức là Hội đồng hoạt động thường xuyên hoặc Hội đồng theo vụ việc theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP.
(ii) Một số nội dung cần được cụ thể hơn trong quy định về các phương pháp định giá đất. Những thuật ngữ được sử dụng nhưng chưa được định nghĩa rõ ràng, cụ thể như: “giá đất thị trường” được sử dụng 01 lần tại điểm d khoản 5 Điều 158 Luật Đất đai năm 2024 và 07 lần trong Nghị định số 71/2024/NĐ-CP; điểm b khoản 3 Điều 7 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định về xác định giá đất theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất quy định về trường hợp giá đất thu thập làm căn cứ định giá nếu “quá cao hoặc quá thấp” so với mặt bằng chung thì loại bỏ thông tin đó, nhưng bao nhiêu là quá cao, quá thấp thì cần được định lượng cụ thể; “thu nhập thực tế phổ biến trên thị trường” trong phương pháp thu nhập và “chi phí thực tế phổ biến” trong phương pháp thặng dư cũng cần được làm rõ. Ngoài ra, điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định khi thu thập thông tin về thu nhập để định giá đất nông nghiệp theo phương pháp thu nhập thì thông tin về chi phí, thu nhập từ việc sử dụng đất được thu thập tại cơ quan thống kê, cơ quan thuế, cơ quan nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nghị định cũng dự liệu trường hợp xử lý nếu chưa có số liệu tại các cơ quan trên thì thu thập thông tin về thu nhập thực tế phổ biến trên thị trường. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định thứ tự ưu tiên lựa chọn thông tin thu thập từ 03 cơ quan nêu trên khi cả 03 cơ quan đều có số liệu thì ưu tiên lựa chọn số liệu nào; trường hợp số liệu thu thập tại 03 cơ quan chênh lệch nhau thì sẽ lựa chọn số liệu nào làm căn cứ định giá đất theo phương pháp thu nhập.
Thứ tư, minh bạch, cụ thể và kịp thời về thời điểm xác định giá đất trong từng trường hợp cụ thể. Cùng với những quy định cụ thể về thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính, khoản 4 Điều 155 Luật Đất đai năm 2024 quy định cụ thể về thời điểm xác định giá đất được áp dụng, cụ thể: trường hợp áp dụng bảng giá đất thì phải ghi giá đất trong quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất. Trường hợp áp dụng giá đất cụ thể thì giá đất cụ thể phải được quyết định trong thời hạn 180 ngày kể từ thời điểm định giá đất tại khoản 3 Điều 158, Điều 155 Luật Đất đai năm 2024. Những điểm mới này hứa hẹn giải quyết thực trạng vướng mắc hàng loạt dự án bất động sản thời gian qua, cụ thể theo báo cáo của Bộ Xây dựng hơn 50% dự án đình trệ hoặc triển khai chậm do bất cập trong việc xác định giá đất, nhiều dự án chậm 2-3 năm, thậm chí hàng chục năm vẫn chưa xác định xong giá đất để triển khai dự án[3]. Nhằm phát huy hiệu quả nhất quy định về thời điểm xác định giá đất trong thực tiễn thiết nghĩ cần quy định cụ thể biện pháp chế tài khi chậm xác định giá đất, ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất.
Nhìn chung, những quy định về căn cứ, nguyên tắc, phương pháp và thời điểm xác định giá đất của Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 71/2024/NĐ-CP thể hiện tính minh bạch, cụ thể, loại trừ tốt nhất những yếu tố chủ quan, định tính trong quá trình định giá đất. Quy định chi tiết về điều kiện áp dụng phương pháp định giá đất sẽ thiết lập trật tự, công bằng và an toàn cho các chủ thể xác định giá đất. Những điểm mới trong các nội dung trên là nền tảng chi phối toàn bộ quá trình xác định giá đất, sẽ tạo ra những thay đổi tích cực, nâng cao hiệu quả, tính chính xác trong xác định giá đất; sự minh bạch, công bằng, thuyết phục, chuyên nghiệp trong định giá đất. 
2. Quy định về bảng giá đất
Những quy định về bảng giá đất với nhiều thay đổi trong phương thức xây dựng và trường hợp áp dụng với mục tiêu xây dựng bảng giá đất phù hợp giá đất thị trường, giải quyết hài hòa nhất lợi ích kinh tế của các bên liên quan trong mối quan hệ tài chính đất đai. Những điểm mới trong quy định về giá đất sẽ tạo nhiều tác động thay đổi mạnh mẽ đến bảng giá đất trong thời kỳ Luật Đất đai năm 2024, với những nội dung nổi bật như:
Thứ nhất, bảng giá đất được xây dựng đến từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn. Quy định xây dựng bảng giá đất đến từng vị trí không là điểm mới, điều này đã được quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP; tuy nhiên, thực tiễn trong suốt thời kỳ Luật Đất đai năm 2013 vẫn không địa phương nào xây dựng được bảng giá đất đến từng thửa đất. Điểm nổi bật trong phương thức xây dựng bảng giá đất theo vùng giá trị, thửa đất chuẩn của Luật Đất đai năm 2024 với mục tiêu hiện thực hoá việc xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất, cụ thể khoản 2 Điều 159 quy định: “Đối với khu vực có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất thì xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn”[4]. Những nội dung cụ thể về xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn được quy định từ Điều 24 đến Điều 29 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP, thể hiện quyết tâm và căn cứ cụ thể trong đổi mới việc xây dựng bảng giá đất so với các thời kỳ trước đây.
Tuy nhiên, thuật ngữ “khu vực” trong quy định trên sẽ được hiểu thế nào? Thuật ngữ này sẽ không đồng nhất với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; điều này có thể trong một tỉnh, thành sẽ có những nơi bảng giá đất được xây dựng theo vị trí, có những nơi bảng giá đất xây dựng đến từng thửa đất, liệu khi đó có bảo đảm tính thống nhất trong quản lý, sự công bằng giữa những người sử dụng đất hay không? Những quy định về thiết lập vùng giá trị tại Điều 26 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP đặt ra những vấn đề cần tiếp tục được hướng dẫn như: phạm vi, quy mô vùng giá trị; những tiêu chí cụ thể để xác định vùng giá trị; cơ sở để phân loại vùng giá trị của một loại đất; mức độ chênh lệch giữa các vùng giá trị; trường hợp cần đánh giá lại, cập nhật, điều chỉnh vùng giá trị... Bảng giá đất được xây dựng đến từng thửa đất chỉ có thể được thiết lập và sử dụng hiệu quả khi giải quyết tốt 03 trụ cột sau: một là, thiết lập chuẩn xác vùng giá trị; hai là; lựa chọn và định giá chính xác thửa đất chuẩn; ba là, bảo đảm chất lượng của bảng tỉ lệ so sánh với thửa đất chuẩn khi định giá.
Thứ hai, bảng giá đất được áp dụng hằng năm và mở rộng việc áp dụng bảng giá đất vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách từ đất đai vừa hài hoà lợi ích các bên liên quan. Khoản 3 Điều 159 Luật Đất đai năm 2024 quy định:hằng năm, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất để công bố và áp dụng từ ngày 01/01 của năm tiếp theo và bảng giá đất lần đầu sẽ được công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026. Những quy định trên tạo nên sự khác biệt, đặc trưng của bảng giá đất trong thời kỳ Luật Đất đai năm 2024 so với trước đây.  
Về trường hợp áp dụng bảng giá đất, khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai năm 2024 quy định việc áp dụng bảng giá phổ biến hơn so với thời kỳ Luật Đất đai năm 2013, cụ thể bổ sung 06 trường hợp tại điểm b, d, h, i, k và l khoản 1 Điều 159. Điểm nổi bật trong áp dụng bảng giá đất là dùng làm căn cứ tính thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; đồng thời, Điều 247 Luật Đất đai năm 2024 sửa đổi khoản 1 Điều 14 Luật Thuế thu nhập cá nhân về đơn giá tính thuế trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thu nhập chịu thuế theo giá đất trong bảng giá. Sự thay đổi này nhằm giải quyết thực trạng kê khai gian dối giá giao dịch thực tế trên các hợp đồng chuyển nhượng[5], ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng dữ liệu giá đất và công tác định giá đất. Việc áp dụng phổ biến bảng giá đất trong thời gian tới còn được quy định tại khoản 3 Điều 111 Luật Đất đai năm 2024 đó là giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư là giá đất được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Những điểm mới trong quy định về trường hợp áp dụng bảng giá đất cùng với phương pháp xây dựng bảng giá đất theo vùng giá trị, thửa đất chuẩn sẽ tạo nên nhiều thay đổi tích cực nhằm xác định bảng giá đất phù hợp giá đất thị trường.
Thứ ba, vai trò quyết định của HĐND cấp tỉnh trong xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất. Khoản 3 Điều 159 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “UBND cấp tỉnh xây dựng, trình HĐND cùng cấp quyết định bảng giá đất... Hằng năm, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm trình HĐND cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất...”. So với Luật Đất đai năm 2013, quy định trên có sự thay đổi về thuật ngữ: cụ thể, khoản 1 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “UBND cấp tỉnh xây dựng và trình HĐND cùng cấp thông qua bảng giá đất trước khi ban hành”. Triển khai cụ thể quyền quyết định của HĐND cấp tỉnh, Điều 14 và Điều 16 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP quy định, trong trình tự thủ tục xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất thì chủ thể cuối cùng được trao quyền quyết định bảng giá đất là HĐND cấp tỉnh; đồng thời với quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP thì UBND cấp tỉnh sẽ không ban hành bảng giá đất như các thời kỳ Luật Đất đai trước đây. Những thay đổi trên nhằm nâng cao vai trò của HĐND cấp tỉnh khi quyết định mức giá đất trong bảng giá đất; điều này cũng đặt ra những thách thức nhất định về chuyên môn định giá đất của các Ban thuộc HĐND cấp tỉnh, với vai trò tham mưu trực tiếp để trình HĐND cấp tỉnh quyết định.
3. Quy định về giá đất cụ thể
Giá đất cụ thể được duy trì và phát huy hiệu quả từ nền tảng những quy định của thời kỳ Luật Đất đai năm 2013, những điểm mới của Luật Đất đai năm 2024 nhằm bảo đảm giá đất cụ thể được quyết định nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Tác động của những điểm mới trong quy định về giá đất cụ thể như sau:
 Một là, phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể. Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể chỉ thuộc về UBND cấp tỉnh. Thực tiễn triển khai đã tồn tại nhiều hạn chế, nhất là thời gian xác định giá đất cụ thể bị kéo dài, tồn đọng hồ sơ nên Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 về việc ủy quyền quyết định giá đất cụ thể cho phép UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định giá đất cụ thể trong một số trường hợp. Với mục tiêu xác định giá đất nhanh chóng, hiệu quả, kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng đất đai và cá thể hoá trách nhiệm người đứng đầu, khoản 2 Điều 160 Luật Đất đai năm 2024 đã quy định thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể thuộc về Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Sự thay đổi này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình xác định giá đất cụ thể nhưng rất cần cơ chế giám sát chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả quá trình quyết định giá đất cụ thể bởi quyền quyết định giá đất được trao cho cá nhân.
Hai là, Luật Đất đai năm 2024 quy định chi tiết những nội dung chính yếu, cần thiết trong thẩm định phương án giá đất cụ thể. Thành phần Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 161 Luật Đất đai năm 2024, do UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện quyết định thành lập.Tuy nhiên, tác giả cho rằng, việc thành lập Hội đồng thẩm định chỉ đơn thuần là sự chọn lựa các thành viên tham gia và nhất là khi thẩm quyền quyết định giá đất cụ thể đã được quy định cho Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh nhưng lại quy định việc thành lập Hội đồng thuộc thẩm quyền UBND sẽ kéo dài thời gian thực hiện và không thật sự cần thiết.Bên cạnh việc quy định về nội dung thẩm định và nguyên tắc làm việc, Luật còn quy định việc tham gia cuộc họp thẩm định của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thể hiện vai trò giám sát, phản biện nhằm bảo đảm nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư trong quyết định giá đất cụ thể.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 160 Luật Đất đai năm 2024 quy định đối với khu vực đã có bảng giá đất đến từng thửa trên cơ sở vùng giá trị, thửa đất chuẩn thì giá đất cụ thể được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm định giá. Mặc dù, bảng giá đất xây dựng đến từng thửa đất sẽ phản ánh đầy đủ đặc điểm của thửa đất và giá đất thị trường nhưng việc xác định giá đất cụ thể cũng chính là giá trong bảng giá đất đối với trường hợp trên chưa thật sự phù hợp với đặc điểm của giá đất cụ thể - mang tính cá biệt với 03 yếu tố đặc thù là: trường hợp áp dụng, chủ thể áp dụng và thời điểm định giá; trong khi đó, bảng giá đất áp dụng hằng năm. Ngoài ra, điều này ảnh hưởng đến tính công bằng trong áp dụng giá đất, bởi khi thực hiện dự án có thể trong phạm vi dự án có khu vực đã có bảng giá đất đến từng thửa nhưng có thể có khu vực chưa có bảng giá đất đến từng thửa đất, vậy khi đó sẽ có sự khác biệt nhất định khi quyết định giá đất cụ thể. 
Tóm lại, về tổng thể, quy định về giá đất trong Luật Đất đai năm 2024 và Nghị định số 71/2024/NĐ-CP cho thấy nhiều thay đổi tích cực với mục tiêu xác định giá đất nhanh chóng, chính xác, theo nguyên tắc thị trường. Với những quy định cụ thể về nguyên tắc, phương pháp và điều kiện áp dụng phương pháp định giá đất, thời điểm xác định giá đất sẽ góp phần tháo gỡ nhiều khó khăn, thúc đẩy nhanh quá trình triển khai thực hiện các dự án đầu tư có sử dụng đất; đồng thời bảo đảm sự thống nhất, công bằng và chặt chẽ trong xác định và áp dụng giá đất./.

 


[1] “Chỉ số biến động giá đất thị trường” đã được quy định từ thời kỳ Luật Đất đai năm 2013, tại điểm d khoản 3 Điều 21 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP nhưng thực tiễn hơn 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2013 vẫn chưa được ban hành trong thực tiễn. Điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định số 71/2024/NĐ-CP chỉ đề cập một khía cạnh liên quan đến biến động của thị trường khi thực hiện định giá đất theo phương pháp thặng dư thông qua quy định về “trường hợp xác định mức biến động của giá chuyển nhượng...”.
[2] Phát biểu của ông Hồ Đức Phớc: “… tùy tiện áp dụng các phương pháp định giá khác nhau dẫn đến kết quả khác nhau hàng chục lần giá trị”, Tạp chí Tài chính điện tử (2018), “Nhiều lỗ hổng khiến tham nhũng, lãng phí đất đai lớn”, http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/nhieu-lo-hong-khien-tham-nhung-lang-phi-dat-dai-lon-300532.html, truy cập ngày 14/4/2024.  
[3] Báo Hà Nội mới (2023), “Gỡ vướng từ việc xác định giá đất: khơi thông thị trường bất động sản”, https://hanoimoi.vn/go-vuong-tu-viec-xac-dinh-gia-dat-khoi-thong-thi-truong-bat-dong-san-653112.html, truy cập ngày 24/4/2024.
[4] Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định việc xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất được áp dụng đối với địa phương đã có bản đồ địa chính và có điều kiện về nhân lực, kinh phí; quy định không dùng thuật ngữ “khu vực” như khoản 2 Điều 159 Luật Đất đai năm 2024.
[5] Báo Quân đội nhân dân (2022), “Giá giao dịch khác xa giá... trên hợp đồng”, https://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/dieu-tra/bai-1-gia-giao-dich-khac-xa-gia-tren-hop-dong-690678, truy cập ngày 25/4/2024. 

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 21(500), tháng 11/2024)


Thống kê truy cập

38377110

Tổng truy cập