Tóm tắt: Trong những năm gần đây, biện pháp tước quốc tịch được sử dụng ngày càng phổ biến bởi các quốc gia và gây ra tác động không chỉ đối với cá nhân bị mất đi quốc tịch mà cả với quốc gia áp dụng. Xuất phát từ tầm quan trọng của quyền có quốc tịch, trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về tước quốc tịch và đồng thời đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tước quốc tịch.
Từ khoá: Quốc tịch; tước quốc tịch; không quốc tịch.
Abstract: In recent years, the practice of deprivation of nationality has been increasingly used by countries and has an impact not only on the individuals of nationality deprivation but also on the country of application. Starting from the importance of the right to nationality, within this article, the author focuses on clarifying some theoretical issues about deprivation of nationality and at the same time makes a number of recommendations for Vietnam to improve legal framework on deprivation of nationality.
Keywords: Nationality; deprivation of nationality; statelessness.
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Khái quát về tước quốc tịch
1.1. Khái niệm
Quyền có quốc tịch hiện nay được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế như là một quyền con người cơ bản
[1]. Việc chấm dứt quốc tịch có thể gây ra những tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Dưới góc độ pháp lý, quốc tịch của một người có thể bị mất đi vì một số lý do như khi người đó tự nguyện xin thôi quốc tịch hay bị Nhà nước tước quốc tịch. Ở trường hợp thứ hai, quốc tịch của cá nhân bị mất đi do sự cưỡng chế từ phía Nhà nước và không theo mong muốn của cá nhân đó.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
“tước quốc tịch”(deprivation of nationality). Sự khác nhau này không chỉ thể hiện trong công trình nghiên cứu của các học giả khác nhau mà ngay cả trong các văn kiện pháp lý của Liên hợp quốc (LHQ). Cụ thể, các nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền LHQ chỉ rõ thuật ngữ
“tước quốc tịch” sử dụng trong Tuyên ngôn phổ quát về Nhân quyền
[2] bao gồm cả trường hợp quốc tịch bị mất một cách tự động do áp dụng pháp luật
(ex lege) và hành vi tước quốc tịch trong các trường hợp cụ thể bởi cơ quan hành chính hoặc tư pháp có thẩm quyền
[3]. Mặt khác, Công ước về Giảm thiểu tình trạng không quốc tịch
[4] năm 1961 của LHQ (Công ước 1961) lại sử dụng một cách tiếp cận khác khi định nghĩa thuật ngữ này. Công ước phân biệt rõ hai thuật ngữ
“mất quốc tịch” - dùng để chỉ việc thu hồi quốc tịch một cách tự động
(ex lege)[5] và
“tước quốc tịch” - chỉ tình huống mà việc thu hồi quốc tịch của một người là do cơ quan nhà nước khởi xướng
[6]. Trên cơ sở quy định của các văn kiện trên, Cao uỷ LHQ về Người tị nạn (UNHCR) đã đưa ra một khái niệm cơ bản về
“tước quốc tịch”. Theo đó,
“tước quốc tịch” là tình trạng
“một nhà nước chủ động lấy đi quốc tịch của công dân nhà nước đó”[7]. Với cách định nghĩa này,
“tước quốc tịch” bao gồm tất cả các hình thức mất đi quốc tịch một cách không tự nguyện (
“denaturalization” hay
“denationalization”)
[8] được thực hiện bởi Nhà nước. Một số hình thức phổ biến của tước quốc tịch có thể kể đến như tự động tước quốc tịch của cá nhân hay một nhóm người trên cơ sở áp dụng pháp luật
[9]; các hành vi tước quốc tịch cá biệt thực hiện bởi cơ quan hành chính hoặc tư pháp
[10], hoặc kể cả các trường hợp mặc dù không có các hành vi chính thức từ Nhà nước nhưng hoạt động thực tế của các cơ quan liên quan cho thấy rõ ràng rằng họ đã ngừng công nhận một người (hoặc nhóm người) là công dân của Nhà nước đó (ví dụ như từ chối cấp giấy tờ chứng minh nhân thân mới mà không có sự giải thích thỏa đáng, tịch thu hay tiêu huỷ giấy tờ tùy thân của người đó)
[11]. Một cách định nghĩa khác của tác giả David W. Maxey, tước quốc tịch là
“hành vi của Nhà nước mà hiệu lực pháp lý của nó là làm mất quốc tịch của cá nhân có những hành động nhất định”[12].
Tóm lại, theo nghĩa rộng, “tước quốc tịch” là việc một nhà nước chủ động từ chối công nhận một người là công dân của mình bằng nhiều cách thức khác nhau và việc từ chối này là trái với mong muốn của người đó. Với cách định nghĩa này, khái niệm “tước quốc tịch” gồm hai nội dung chính: (1) có sự từ chối công nhận quốc tịch của cá nhân từ phía Nhà nước và (2) sự từ chối này không phù hợp với mong muốn của cá nhân đó. Bản chất pháp lý của “tước quốc tịch” là hành vi đơn phương của Nhà nước nhằm phủ nhận tư cách công dân của cá nhân với Nhà nước đó, hay nói cách khác, đây là sự phủ nhận các quyền mà người đó được hưởng từ phía Nhà nước với tư cách là công dân.
Xuất phát từ tầm quan trọng của quyền có quốc tịch, việc tước quốc tịch gây ra những tác động tiêu cực đến cá nhân người bị tước quốc tịch. Ở khía cạnh này,
“tước quốc tịch” được xem là biện pháp trừng phạt người có hành vi vi phạm pháp luật, bởi lẽ
“không có biện pháp trừng phạt nào hiệu quả hơn…đối với hành vi chống đối xã hội là trục xuất những kẻ xấu xa và từ chối anh ta khỏi sự bảo vệ cần thiết để tồn tại”[13]. Thực tế, tước quốc tịch không phải là một nội dung mới mà đã được áp dụng từ rất lâu. Ở La Mã cổ đại, một người có thể bị mất tự do khi bị bán làm nô lệ, bị bắt trong chiến tranh hoặc bị trục xuất và
“với sự mất tự do, người đó cũng mất đi quyền công dân của mình”[14]. Hệ quả pháp lý của tước quốc tịch là Nhà nước chấm dứt sự bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tước quốc tịch.
Như vậy, dưới góc độ trách nhiệm pháp lý, biện pháp tước quốc tịch nói chung có thể xem là một hình thức trách nhiệm pháp lý áp dụng với các chủ thể có hành vi vi phạm. Cụ thể, việc áp dụng biện pháp này đã thỏa mãn các điều kiện của trách nhiệm pháp lý gồm: (1) Có cơ sở thực tế là hành vi vi phạm pháp luật: căn cứ phổ biến được ghi nhận trong pháp luật nhiều quốc gia là khi cá nhân đó có hành vi gây thiệt hại (hoặc đe doạ gây thiệt hại) nghiêm trọng tới lợi ích quốc gia hoặc gian dối trong quá trình xin công nhận quốc tịch; (2) Có chế tài: việc mất quốc tịch gây ra các hậu quả pháp lý bất lợi cho cá nhân đó như không còn được Nhà nước bảo hộ, không được công nhận các quyền cơ bản về chính trị, dân sự; (3) Có sự cưỡng chế của Nhà nước: biện pháp tước quốc tịch mang tính bắt buộc đối với cá nhân có hành vi vi phạm, không phụ thuộc vào ý chí của người đó; và (4) Có quyết định có hiệu lực pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: ở đa số quốc gia là cơ quan hành chính hoặc cơ quan tư pháp.
1.2. Căn cứ áp dụng
Theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và quyền tự quyết của mỗi quốc gia thì Nhà nước có thẩm quyền rất lớn trong việc quyết định cho một người nhập quốc tịch hay tước đi quốc tịch. Do vậy, tùy theo từng quốc gia mà các căn cứ để tước quốc tịch cũng được quy định khác nhau, một vài căn cứ phổ biến có thể kể đến như: (1) Khi cá nhân đó mất đi sự liên kết với Nhà nước mà họ đang mang quốc tịch; (2) Khi cá nhân có hành vi gây phương hại nghiêm trọng cho lợi ích của Nhà nước; và (3) Khi quốc tịch mà cá nhân đó có được là nhờ hành vi gian dối.
Với căn cứ đầu tiên – sự mất liên kết giữa một người và Nhà nước mà họ mang quốc tịch được thể hiện qua nhiều hành vi khác nhau. Các hành vi phổ biến gồm việc nhận dịch vụ hoặc tiền lương từ Nhà nước khác; tuyên thệ trung thành hay đưa ra tuyên bố chính thức về việc trung thành với Nhà nước khác; tham gia phục vụ trong lực lượng quân đội của Nhà nước khác; cư trú ở nước ngoài trong thời gian dài mà không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về ý định giữ quốc tịch. Sở dĩ các hành vi này được viện dẫn làm căn cứ tước quốc tịch của công dân vì nó phản ánh sự thiếu liên kết giữa Nhà nước và cá nhân mang quốc tịch của Nhà nước đó.
Đối với hành vi gây phương hại nghiêm trọng tới lợi ích của Nhà nước, có thể thấy trong trường hợp này việc tước quốc tịch được sử dụng như một biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia. Nhìn chung các chuẩn mực và thông lệ quốc tế hiện nay đều yêu cầu các quốc gia tránh sử dụng tước quốc tịch vì lý do này. Nếu các quốc gia sử dụng biện pháp tước bỏ quốc tịch vì mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, các biện pháp đó phải được giải thích và thực hiện trong phạm vi hẹp, chỉ sau khi có kết luận hợp pháp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về thủ tục tố tụng, xét xử công bằng và với điều kiện người đó đã có hành vi thực sự phương hại đến lợi ích sống còn của Nhà nước, đồng thời việc tước bỏ quốc tịch đó không được làm cho các cá nhân trở nên không quốc tịch và không được phân biệt đối xử giữa các cá nhân theo nguyện vọng quốc tịch của họ
[15].
Căn cứ cuối cùng – cá nhân có hành vi gian dối khi nhập quốc tịch. Trong trường hợp này, biện pháp tước quốc tịch được áp dụng với lý do là nếu không có những hành vi gian lận này thì cá nhân đó ngay từ đầu sẽ không đủ điều kiện để được công nhận quốc tịch. Ở một số quốc gia, khi hành vi gian dối được viện dẫn làm căn cứ tước quốc tịch của cá nhân, việc áp dụng này thường đi kèm điều kiện về thời gian. Cụ thể, việc nhập quốc tịch của cá nhân vi phạm sẽ không thể hủy bỏ nếu quốc gia không tiến hành các thủ tục liên quan trong một khoảng thời gian nhất định kể từ khi cá nhân đó có quốc tịch. Như vậy, có thể thấy cách quy định này có nhiều nét tương đồng với pháp luật Việt Nam và giới hạn thời gian này được xác định khác nhau ở các quốc gia
[16].
1.3. Yêu cầu đối với việc áp dụng
- Việc tước quốc tịch phải được tiến hành trên cơ sở pháp luật
Việc tước quốc tịch phải dựa trên một cơ sở pháp lý vững chắc được ghi nhận trong pháp luật, đây là tiền đề quan trọng để bảo đảm tính có thể đoán trước của biện pháp quốc tịch
[17]. Để bảo đảm yêu cầu này, một nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế là việc tước quốc tịch không thể được tiến hành trên cơ sở áp dụng tương tự pháp luật (
analogia iuris hay
analogia legis) hoặc hồi tố
[18]. Một điểm cần lưu ý là yêu cầu này không chỉ yêu cầu việc tước quốc tịch phải được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc gia mà còn phải tuân thủ các quy định, mục đích và mục tiêu được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế về nhân quyền và phù hợp với từng tình huống cụ thể
[19].
- Việc tước quốc tịch không được vi phạm các chuẩn mực thủ tục
Bên cạnh yêu cầu về tính hợp pháp, việc tước quốc tịch còn phải tuân thủ các chuẩn mực về thủ tục, được ghi nhận và phát triển trong pháp luật quốc tế về nhân quyền. Các chuẩn mực này là biện pháp ngăn ngừa sự lạm dụng của Nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật
[20]. Một số chuẩn mực quan trọng nhất gồm: việc tước quốc tịch phải vì mục tiêu hợp pháp phù hợp với pháp luật quốc tế; việc tước quốc tịch phải là biện pháp ít gây xâm hại nhất để đạt được mục đích mà Nhà nước đề ra và phải tương ứng với lợi ích mà Nhà nước đang bảo vệ
[21]. Ngoài ra, tất cả quyết định tước quốc tịch phải được ban hành kèm lý do bằng văn bản và là đối tượng của giám sát tư pháp bởi Toà án hoặc một cơ quan độc lập
[22].
- Việc tước quốc tịch không được dựa trên sự phân biệt theo các tiêu chí bị cấm theo pháp luật quốc tế
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất mà Luật quốc tế đặt ra đối với các quốc gia khi muốn tước quốc tịch của cá nhân đó là không được mang tính phân biệt đối xử, bất kể là theo pháp luật hay trên thực tế
[23]. Nguyên tắc này được ghi nhận trong rất nhiều các văn kiện của LHQ. Điều 9 Công ước 1961 quy định:
“không cho phép tước quốc tịch vì lý do chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc chính trị, bất kể việc tước quốc tịch có dẫn đến tình trạng không quốc tịch hay không”. Điều 5(d)(iii) Công ước quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 cũng nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối với quyền có quốc tịch và
“các nước thành viên nên ghi nhận rằng việc tước quốc tịch công dân trên cơ sở chủng tộc, màu da, nguồn gốc, tôn giáo là hành vi vi phạm nghĩa vụ của nước thành viên trong việc bảo đảm sự thụ hưởng quyền có quốc tịch một cách không phân biệt đối xử”[24].Công ước về Quyền của người khuyết tật
[25] năm 2006 cũng quy định việc cấm tước quốc tịch với lý do cá nhân bị các khiếm khuyết về thể chất
[26]. Ngoài ra, Điều 2 và 8 Công ước về Quyền trẻ em
[27] và Điều 9 Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
[28] nghiêm cấm việc mất quốc tịch mang tính phái sinh, có nghĩa là quốc tịch của mỗi người là độc lập và không thể bị phụ thuộc vào người khác.
- Việc tước quốc tịch phải hạn chế tới mức tối đa dẫn đến tình trạng không quốc tịch
Tình trạng không quốc tịch là hệ quả không mong muốn không những đối với cá nhân mà cả đối với các nhà nước (trên phương diện bảo đảm quyền con người). Việc tước quốc tịch có thể dẫn đến tình trạng không quốc tịch khi người bị tước quốc tịch không có hoặc không được ngay lập tức công nhận một quốc tịch khác
[29]. Điều 8(1) Công ước 1961 quy định nguyên tắc chung:
“quốc gia thành viên không được tước quốc tịch của một người nếu việc tước quốc tịch đó khiến cho người đó trở thành không quốc tịch”. Tuy nhiên, đoạn sau của điều khoản này cũng cho phép một số ngoại lệ cho phép các nước thành viên tước quốc tịch công dân dù có thể dẫn đến tình trạng không quốc tịch. Mặc dù vậy, các ngoại lệ này cũng phải được giải thích theo nghĩa hẹp với những điều kiện đi kèm.Ngoài ra, Công ước 1961 cũng quy định tất cả các quyết định tước quốc tịch được cho phép theo Công ước phải được ban hành theo trình tự luật định. Bên cạnh đó, Công ước cũng yêu cầu các nước thành viên bảo đảm quyền của người bị tước quốc tịch đối với phiên điều trần bình đẳng bởi Tòa án hoặc một cơ quan độc lập
[30].
- Việc tước quốc tịch không nên được áp dụng như một cách thức hợp pháp hoá cho việc trục xuất cá nhân đó
Theo đánh giá của UNHCR, việc tước quốc tịch của cá nhân trên cơ sở phân biệt đối xử thường được áp dụng cùng với việc trục xuất cá nhân đó
[31]. Trên thực tế, có nhiều trường hợp các quốc gia tìm đến biện pháp tước quốc tịch để
“né tránh” nguyên tắc Nhà nước không thể trục xuất công dân của mình
[32]. Theo quan điểm của Uỷ ban Pháp luật quốc tế, việc tước quốc tịch của cá nhân trong các trường hợp như vậy, bất kể người đó có một hay nhiều quốc tịch, đều là sự lạm dụng của các quốc gia và do vậy, mang tính tùy tiện
[33]. Như vậy, kể cả khi quyết định tước quốc tịch được ban hành theo đúng quy định của pháp luật theo các ngoại lệ cho phép trong pháp luật quốc tế, nếu mục đích duy nhất của việc tước quốc tịch này là để khiến cho cá nhân đó không còn mang quốc tịch của Nhà nước và trục xuất người đó ra khỏi lãnh thổ của quốc gia đó thì việc tước quốc tịch này vẫn bị xem là tùy tiện và vi phạm Điều 8 Công ước 1961
[34].
1.4.Ý nghĩa
Thứ nhất, việc áp dụng các biện pháp này là một hình thức thể hiện chủ quyền của mỗi quốc gia. Như đã phân tích, thẩm quyền tước quốc tịch của công dân xuất hiện gần như đồng thời với thẩm quyền cho nhập quốc tịch. Việc công nhận một người mang quốc tịch của một Nhà nước đồng nghĩa với việc Nhà nước đó chính thức thừa nhận sự bảo hộ của mình với cá nhân đó, đồng thời xác lập sợi dây liên kết pháp lý giữa cá nhân với Nhà nước mà họ mang quốc tịch. Như vậy, về nguyên tắc thì thẩm quyền cho nhập, tước hay huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch hoàn toàn thuộc về quyền tự quyết của mỗi quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp này trong các trường hợp cụ thể cũng là một hình thức thể hiện chủ quyền của quốc gia đó
Thứ hai, tước quốc tịch có thể xem là các biện pháp nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia. Xuất phát từ các căn cứ để áp dụng hai biện pháp này gồm một số hành vi của cá nhân như: có hành vi gây phương hại đến uy tín, lợi ích của Nhà nước hoặc gian dối trong quá trình cung cấp thông tin, hồ sơ để nhập quốc tịch. Ở góc độ này, việc áp dụng các biện pháp tước quốc tịch hay huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch có thể được xem như những cách thức mà quốc gia có thể sử dụng để ngăn ngừa các tác động xấu mà hành vi của cá nhân có thể gây ra cho quốc gia đó. Trong thực tế, hiện nay các quốc gia thường viện dẫn các biện pháp này nhằm chống lại cá nhân có hành vi khủng bố hay chống phá Nhà nước.
Thứ ba, dưới góc độ Luật hiến pháp, tước quốc tịch có thể được xem là một hình thức của trách nhiệm hiến pháp. Việc áp dụng các biện pháp này thỏa mãn các yếu tố của trách nhiệm pháp lý như được áp dụng với chủ thể có hành vi vi phạm, mang tính cưỡng chế, gây ra hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị áp dụng và được thể hiện dưới hình thức là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Pháp luật Việt Nam về tước quốc tịch
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định việc mất đi quốc tịch một cách không tự nguyện của cá nhân gồm hai hình thức là
“tước quốc tịch” và
“huỷ quyết định cho nhập quốc tịch”. Trên thực tế, trong pháp luật quốc tế nói chung không có sự phân biệt chi tiết giữa
“tước quốc tịch” và
“hủy quyết định cho nhập quốc tịch”. Cả hai biện pháp này có thể được hiểu theo nghĩa rộng là
“tước quốc tịch” (huỷ bỏ quốc tịch của cá nhân một cách không tự nguyện). Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Quốc tịch Việt Nam) cũng quy định các căn cứ mất quốc tịch Việt Nam gồm: được thôi quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam và hai trường hợp khác liên quan tới việc xác định quốc tịch con theo cha mẹ
[35]. Như vậy, về cơ bản các quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam có sự tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế khi ghi nhận quốc tịch cá nhân có thể mất đi trên cơ sở tự nguyện (được thôi quốc tịch) hoặc bắt buộc (bị tước quốc tịch). Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng quy định căn cứ và thủ tục riêng cho hai biện pháp
“tước quốc tịch” và
“hủy quyết định cho nhập quốc tịch” tại Mục 3 và Mục 4 Chương III Luật Quốc tịch Việt Nam.
2.1. Căn cứ áp dụng
- Tước quốc tịch Việt Nam
Căn cứ tước quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam
. Theo đó, biện pháp tước quốc tịch có thể được áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền xác định có
“hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của chủ thể thuộc phạm vi áp dụng. Đây có thể được xem là
“dấu hiệu”đầu tiên và cũng là quan trọng nhất để cơ quan chức năng cân nhắc, xem xét áp dụng biện pháp tước quốc tịch đối với người thực hiện hành vi. Tuy nhiên, biện pháp pháp lý này chỉ có thể áp dụng đối với một số đối tượng nhất định. Theo Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam, biện pháp tước quốc tịch có thể được áp dụng với: (1) Công dân Việt Nam (không thuộc trường hợp được nhập quốc tịch) cư trú ở nước ngoài
[36]; và (2) Những người được nhập quốc tịch Việt Nam, bất kể người đó cư trú trong lãnh thổ Việt Nam hay ở nước ngoài
[37].
Đối với nhóm đối tượng đầu tiên được quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam, biện pháp tước quốc tịch chỉ có thể áp dụng khi thỏa mãn cả hai điều kiện sau: (i) Người thực hiện hành vi là công dân Việt Nam; và (ii) Người đó đang cư trú ở nước ngoài vào thời điểm xem xét. Đối với điều kiện đầu tiên, theo Hiến pháp năm 2013 thì
“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”[38].Như vậy, biện pháp tước quốc tịch đặt ra đối với cá nhân có quốc tịch Việt Nam được xác định theo các căn cứ quy định tại Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam. Ở điều kiện thứ hai, công dân Việt Nam đó phải đang
“cư trú” ở nước ngoài. Khoản 2 Điều 2 Luật Cư trú năm 2020 định nghĩa
“cư trú” là
“việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã hoặc đơn vị hành chính cấp huyện ở nơi không có đơn vị hành chính cấp xã”.Như vậy, tước quốc tịch có thể áp dụng với công dân Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở ngoài lãnh thổ Việt Nam tại thời điểm xem xét.
Với nhóm đối tượng thứ hai quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch áp dụng với cá nhân đã nhập quốc tịch Việt Nam, bất kể người đó đang sinh sống ở Việt Nam hay nước ngoài vào thời điểm xem xét. Theo khoản 1 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, đối tượng có thể được nhập quốc tịch Việt Nam gồm công dân nước ngoài và người không có quốc tịch nếu thỏa mãn các điều kiện luật định. Như vậy, ở trường hợp này, việc tước quốc tịch chỉ đặt ra với cá nhân có quốc tịch Việt Nam thông qua việc được nhập quốc tịch, và không đặt ra đối với cá nhân có quốc tịch Việt Nam một cách “tự nhiên” (ví dụ như quốc tịch xác định theo quốc tịch của cha mẹ, xác định theo nơi sinh ra trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi mà không biết cha mẹ là ai…). Có thể thấy, biện pháp tước quốc tịch không áp dụng đối với đối tượng là công dân Việt Nam không thuộc trường hợp được nhập quốc tịch đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam.
- Huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam
Việc huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch được quy định tại Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam. Theo quy định này thì việc huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam được đặt ra khi cơ quan chức năng phát hiện người nộp hồ sơ có hành vi “cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ” khi xin nhập quốc tịch và Quyết định cho nhập quốc tịch được cấp chưa quá 5 năm. Như vậy, khác với biện pháp tước quốc tịch, căn cứ để huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam không phải là hành vi chống phá Nhà nước, mà là hành vi vi phạm quy định về thủ tục nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam, cụ thể là hành vi khai báo thông tin sai sự thật hoặc giả mạo giấy tờ. Trong thực tế, nội dung khai báo của người yêu cầu nhập quốc tịch và các giấy tờ liên quan (ví dụ như bản sao Giấy khai sinh, Hộ chiếu, giấy tờ chứng minh trình độ tiếng Việt, giấy tờ chứng minh bảo đảm cuộc sống ở Việt Nam…) là những căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định có cho người đó nhập quốc tịch Việt Nam hay không. Khi các thông tin này được xác định là không đúng sự thật hoặc giấy tờ xác định là giả mạo, các căn cứ để cho cá nhân đó nhập quốc tịch Việt Nam cũng không còn và vì thế Quyết định cho nhập quốc tịch phải bị huỷ.
Về đối tượng áp dụng của biện pháp này, khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam quy định rõ là “người đã nhập quốc tịch Việt Nam”, bất kể người đó đang ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam vào thời điểm xem xét. Tham chiếu đến Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam, người có thể được nhập quốc tịch Việt Nam gồm “công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam” nếu thỏa mãn các điều kiện luật định. Như vậy, biện pháp huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch đặt ra đối với cá nhân là công dân nước ngoài, người không có quốc tịch đã được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật nhưng có hành vi cố ý khai báo không đúng sự thật hoặc giả mạo giấy tờ khi xin nhập quốc tịch Việt Nam với điều kiện thời gian được nhập quốc tịch không quá 5 năm.
2.2. Trình tự thủ tục áp dụng
Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 và Luật Quốc tịch Việt Nam quy định thẩm quyền quyết định tước quốc tịch Việt Nam và huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thuộc về Chủ tịch nước
[39]. Trình tự, thủ tục tiến hành hai biện pháp này được quy định lần lượt tại Điều 32 và Điều 34 Luật Quốc tịch Việt Nam. Chủ thể có thẩm quyền nộp hồ sơ kiến nghị việc tước quốc tịch hoặc hủy bỏ Quyết định công nhận quốc tịch Việt Nam của công dân gồm: (1) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp người thực hiện hành vi đang cư trú tại Việt Nam) hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (trong trường hợp người thực hiện hành vi đang cư trú tại nước ngoài); và (2) Tòa án.
Cụ thể, đối với trường hợp công dân có các hành vi được nêu tại khoản 1 Điều 31 hoặc khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam, bị tố cáo đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (hoặc cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài) thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm xác minh và lập hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch hoặc hủy Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam của cá nhân đó và gửi đến Bộ Tư pháp. Trong trường hợp cá nhân đã bị xét xử về hành vi quy định tại khoản 1 Điều 31 hoặc khoản 1 Điều 33 Luật Quốc tịch Việt Nam thì Tòa án đã xét xử có trách nhiệm xác minh và lập hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch hoặc hủy Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam của cá nhân đó.
Hồ sơ kiến nghị được hướng dẫn bởi Nghị định số 16/2020/NĐ-CP
[40] và được các chủ thể kiến nghị gửi đến Bộ Tư pháp. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kiến nghị, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành khác có liên quan thẩm tra hồ sơ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định việc tước quốc tịch Việt Nam của cá nhân bị kiến nghị.
2.3. Nhận xét
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, hai biện pháp tước quốc tịch và huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:
Một là, biện pháp tước quốc tịch có thể được áp dụng khi cá nhân có các hành vi gây phương hại nghiêm trọng tới lợi ích, uy tín của Nhà nước. Đối với việc huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch, căn cứ cho việc áp dụng là cá nhân có hành vi khai báo, cung cấp thông tin gian dối trong quá trình nộp hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam.
Hai là, biện pháp tước quốc tịch được áp dụng với công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài và những người được nhập quốc tịch Việt Nam có các hành vi bị xem xét. Trong khi đó, việc huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch chỉ áp dụng với người đã nhập quốc tịch Việt Namcó các hành vi bị xem xétvới điều kiện là Quyết định cho nhập quốc tịch được cấp chưa quá 5 năm.
3. Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tước quốc tịch
Thứ nhất, đối tượng áp dụng biện pháp tước quốc tịch theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 16/2020/NĐ-CP vẫn còn khá hẹp, chưa bao quát được hết các tình huống có thể xảy ra. Hiện nay, việc tước quốc tịch chỉ đặt ra với cá nhân là công dân Việt Nam cư trú tại nước ngoài tại thời điểm xem xét hoặc cá nhân được cho nhập quốc tịch Việt Nam có các hành vi được nêu tại khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam. Như vậy, có thể hiểu biện pháp này không thể áp dụng với công dân Việt Nam không thuộc trường hợp được nhập quốc tịch Việt Nam đang cư trú ở Việt Nam tại thời điểm thực hiện hành vi bị xem xét. Quy định hiện hành đã phần nào làm giảm đi hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tước quốc tịch với mục đích nhằm hạn chế các tác động tiêu cực mà cá nhân có thể gây ra cho Nhà nước Việt Nam, đồng thời thể hiện “thái độ” của Nhà nước ta đối với người thực hiện các hành vi “gây phương hại nghiêm trọng đến nền độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy tín của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Thứ hai, quy định về đối tượng của biện pháp tước quốc tịch và huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam chưa thể hiện sự tương thích với các yêu cầu chung của pháp luật quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực hạn chế tình trạng không quốc tịch. Các quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam và Nghị định số 16/2020/NĐ-CP về tước quốc tịch và huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch chưa thể hiện một cách cụ thể về những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng không quốc tịch (ví dụ như hạn chế áp dụng các biện pháp này với cá nhân chỉ có quốc tịch Việt Nam). Việt Nam đang trong quá trình tham vấn ý kiến về khả năng gia nhập Công ước 1961. Vì vậy, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về tước quốc tịch, huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch theo hướng hạn chế tình trạng không quốc tịch là rất cần thiết.
Thứ ba, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền khiếu nại của cá nhân bị tước quốc tịch đối với quyết định tước quốc tịch hay quyết định huỷ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. Đây là một “khoảng trống” rất lớn, đặc biệt là ở góc độ bảo vệ quyền lợi của người bị tước quốc tịch vì việc áp dụng các biện pháp này gây ra sự xáo trộn rất lớn trong đời sống của người bị tước quốc tịch. Ngoài ra, việc thiếu những quy định về vấn đề này cũng gây ra sự không tương thích giữa pháp luật Việt Nam và quy định trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người.
Dựa trên những nội dung đã phân tích về tước quốc tịch và huỷ bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch, cũng như tham chiếu đến các quy định của pháp luật quốc tế về hai biện pháp này, tác giả đưa ra một vài khuyến nghị như sau:
Một là, xuất phát từ sự quan trọng của quốc tịch đối với cá nhân, pháp luật Việt Nam cần quy định cụ thể các biện pháp nhằm hạn chế tới mức tối đa khả năng quốc tịch của công dân bị tước bỏ một cách tùy tiện. Cụ thể, pháp luật cần quy định rõ yêu cầu về tính tương xứng của biện pháp áp dụng. Theo đó, việc tước quốc tịch chỉ có thể được coi là tương xứng trong những trường hợp giới hạn và theo nghĩa hẹp nhất có thể. Ngoài ra, các quyết định về việc tước quốc tịch phải đưa ra lý do bằng văn bản và phải chịu sự giám sát của cơ quan tư pháp, đồng thời Việt Nam cũng nên bảo đảm có sẵn sự trợ giúp pháp lý miễn phí cho người bị tước quốc tịch.
Hai là, cần bổ sung các quy định về việc tước quốc tịch Việt Nam của công dân (không thuộc các trường hợp cho nhập quốc tịch) đang cư trú ở Việt Nam và có các hành vi gây phương hại tới lợi ích của Nhà nước Việt Nam. Việc bổ sung quy định về trường hợp này sẽ giúp các cơ quan chức năng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn khi xử lý các cá nhân có hành vi gây tổn hại đến uy tín, lợi ích của Nhà nước đồng thời thể hiện rõ hơn bản chất pháp lý của biện pháp tước quốc tịch như là một cách thức xử lý đối với các hành vi xâm phạm tới lợi ích quốc gia.
Ba là, để bảo đảm sự tương thích với pháp luật quốc tế về quyền con người, pháp luật Việt Nam cũng cần quy định cụ thể hơn về các yêu cầu đối với việc tước quốc tịch hoặc huỷ bỏ quyết định cho nhập quốc tịch để hạn chế tình trạng không quốc tịch. Cụ thể, hai biện pháp này nên được áp dụng giới hạn đối với cá nhân có nhiều hơn một quốc tịch. Đây cũng là nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới■
[1] Điều 15 Tuyên ngôn phổ quát về Nhân quyền (UDHR), Điều 24 (3) Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Điều 5(d)(iii) Công ước về xoá bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc.
[2] Universal Declaration of Human Rights – UDHR.
[3] R. de Groot, “Survey on Rules on Loss of Nationality in International Treaties and Case Law”,
CEPS Paper in Liberty and Security in Europe, No. 57/August 2013, p. 1.
[4] Convention on the Reduction of Statelessness 1961.
[5] Điều 5-7 Công ước về Giảm thiểu tình trạng không quốc tịch năm 1961.
[6] Điều 8 Công ước về Giảm thiểu tình trạng không quốc tịch năm 1961.
[8] Arbitrary deprivation of nationality: report of the Secretary-General.A/HRC/10/34, 26 January 2009, para.49.
[9] Ví dụ như Luật Quốc tịch Slovakia quy định chế tài cho việc nhập quốc tịch của nhà nước khác là tước đi quốc tịch Slovakia.
[10] Human Rights and Arbitrary Deprivation of Nationality, Report of the Secretary-General. A/HRC/13/34, 14 December 2009, Para. 23.
[11] UNHCR, 'Tunis Conclusions', Para 11.
[12] Maxey, D. W. (1962),
Loss of nationality: Individual choice or government fiat? Albany Law Review, 26(2), p.152.
[13] Pollock & Maitland, ‘History of English law’, 450 (2d ed. 1898).
[14] Salmond,
Citizenship and Allegiance, 17 L.Q. REV. 270, 276 (1901); Phillipson, The International Law And Custom of Ancient Greece and Rome 211-13 (1911).
[15] ISI Principles (2020), Principle 4.
[16] Ví dụ như ở Bỉ và Đức, khoảng thời gian này là 5 năm; Bulgaria, Latvia, Hungary là 10 năm; Hà Lan là 12 năm; Tây Ban nha là15 năm; ở Pháp, giới hạn thời gian có thể áp dụng biện pháp tước quốc tịch là 2 năm sau khi hành vi gian dối bị phát hiện.
[17] Tamas Molnar (2014),
The Prohibition of Arbitrary Deprivation of Nationality under International Law and EU Law: New Perspectives, Hungarian Yearbook of International Law and European Law, 2014, p.67-92.
[18] Laura Van Waas (2008), ‘National Matters: Statelessness under International Law’, School of Human Rights Research Series, Volume 29, p.113.
[19] UN Human Rights Committee,
CCPR General Comment No. 16: Art. 17 (Right to Privacy), The Right to
Respect of Privacy, Family, Home and Correspondence, and Protection of Honour and Reputation, 8 April 1988, Para. 4; UN Human Rights Committee, CCPR General Comment No. 27: Article 12 (Freedom of Movement), 2 November 1999, CCPR/C/21/Rev.1/Add., Para. 21.
[20] Tamas Molnar (2014),
The Prohibition of Arbitrary Deprivation of Nationality under International Law and EU Law: New Perspectives, Hungarian Yearbook of International Law and European Law, 2014, p.77.
[21] Arbitrarydeprivationofnationality:Reportofthe Secretary-General.
A/HRC/10/34, 26 January 2009, Para.49;
Human Rights and Arbitrary Deprivation of Nationality, Report of the Secretary-General. A/HRC/13/34, 14 December 2009, Para. 25.
[22] Điều 8(4) Công ước 1961.
[23] UNHCR, “Tunis Conclusions”, para. 18.
[24] UN Committee on the Elimination of Racial Discrimination,
CERD GeneralRecommendation XXX on DiscriminationAgainstNon-Citizens, 1 October 2002, Para. 14.
[25] Convention on the Rights of Person with Disabilities.
[26] Điều 18 (1) (a) CPRD.
[27] Convention on the Rights of the Child.
[28] Convention on the Elimination of Discrimination against Women.
[29] ArbitraryDeprivationofNationality:Reportofthe Secretary-General.
A/HRC/10/34, 26 January 2009, Para.51.
[30] Điều 8(4) Công ước 1961.
[31] Arbitrary Deprivation of Nationality: Report of the Secretary-General. A/HRC/10/34, 26 January 2009, para. 53.
[32] Expulsion of aliens, Memorandum by the Secretariat, International Law Commission, 58
th session, A/CN.4/565, 10 July 2006, para. 906.
[33] Report of the International Law Commission, Sixty-sixth session (5 May–6 June and 7 July–8 August 2014),
General Assembly Official Records, Sixty-ninth session, Supplement No. 10, A/69/10, Chapter IV, p. 33.
[34] Tamas Molnar (2014),
The Prohibition of Arbitrary Deprivation of Nationality under International Law and EU Law: New Perspectives, Hungarian Yearbook of International Law and European Law, 2014, p.85.
[35] Điều 26 Luật Quốc tịch Việt Nam.
[36] Khoản 1 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam.
[37] Khoản 2 Điều 31 Luật Quốc tịch Việt Nam.
[38] Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013.
[39] Khoản 4 Điều 88 Hiến pháp năm 2013; khoản 1 Điều 38 Luật Quốc tịch Việt Nam.
[40] Điều 22 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.