Áp dụng quy định pháp luật về phạt vi phạm và tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng

18/11/2024

LÊ QUỐC VIỆT

Công ty Luật TNHH ALB & Partners

LƯU KHÁNH HUYỀN

Công ty Luật TNHH Abi Light.

Tóm tắt: Phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán là một trong các chế tài mà bên bị vi phạm trong hợp đồng xây dựng có thể sử dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quy định pháp luật về phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán tại các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) cũng có sự khác nhau tương đối. Điều này dẫn đến nhiều quan điểm trái chiều trong nghiên cứu, thực hiện pháp luật liên quan đến hợp đồng xây dựng. Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp hợp đồng xây dựng, bên bị vi phạm thường yêu cầu mức phạt vi phạm và tiền lãi chậm thanh toán cao nhất có thể, ngược lại bên vi phạm hợp đồng thường đưa ra các quan điểm, quy định pháp luật theo hướng thấp nhất có thể để bảo vệ quyền lợi của mình. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung phân tích và đề xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến phạt vi phạm hợp đồng và yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng.
Từ khóa: Phạt vi phạm hợp đồng; tiền lãi; chậm thanh toán; hợp đồng xây dựng.
Abstract: Sanctions for breach of contract and requests for interest on late payment are two of the sanctions that the violated party of a construction contract may apply to secure their legitimate rights and interests. Legal provisions on sanctions for breach of contract and requests for interest on late payment in legal documents governing contracts, such as the Civil Code of 2015, the Law on Commerce of 2005, and the Law on Construction of 2014 (amended and supplemented in 2020), are also quite different. This leads to several contradictory views in references and practical enforcement of the laws related to construction contracts. Therefore, when a construction contract dispute occurs, the violated party often imposes the highest possible sanction and interest on late payment, whereas the violating party often gives the judgments and legal regulation references toward the lowest possible compensation to protect its rights. Within the scope of this article, the authors focus on analyzing and proposing recommendations to improve legal regulations related to penalties for breach of contract and interest on late payment in construction contracts.
Keywords: Sanctions for breach of contract; interest; late payment; construction contract.
 6_28.jpg
1.  Đặt vấn đề
Trong hợp đồng xây dựng (HĐXD), để bảo đảm các điều khoản trong hợp đồng được thực thi, các bên có thể cân nhắc thỏa thuận áp dụng các quy định về phạt vi phạm (PVP) và tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các thỏa thuận này thường không rõ ràng, gây nhiều khó khăn khi áp dụng. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết tranh chấp các Tòa án cũng áp dụng không thống nhất quy định pháp luật về PVP và tiền lãi do chậm thanh toán. HĐXD được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành là Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (LXD). Tuy nhiên, LXD chỉ quy định vấn đề PVP và tiền lãi do chậm thanh toán đối với công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và HĐXD giữa doanh nghiệp dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (dự án PPP) với các nhà thầu xây dựng thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, theo đó mức PVP hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm[1], mức tiền lãi do chậm thanh toán là theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán[2]. Đối với mức PVP tối đa và tiền lãi do chậm thanh toán đối với công trình không sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công thì LXD chưa quy định cụ thể, vì vậy dẫn đến nhiều quan điểm trong việc xác định nguồn luật điều chỉnh đối với vấn đề PVP và tiền lãi do chậm thanh toán đối với HĐXD. Xác định rõ nguyên tắc áp dụng thống nhất đối với quy định về PVP hợp đồng, tiền lãi do chậm thanh toán nói riêng và xác định nguồn luật điều chỉnh nói chung đối với HĐXD là yêu cầu cần thiết hiện nay.
2.  Quy định pháp luật về phạt vi phạm và tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
2.1. Căn cứ phát sinh quyền yêu cầu phạt vi phạm, tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
Để phát sinh quyền yêu cầu PVP hợp đồng của bên bị vi phạm, điều kiện cần là phải tồn tại thỏa thuận PVP giữa các bên và điều kiện đủ là có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên vi phạm. Bất cứ nghĩa vụ nào trong hợp đồng cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc PVP, nếu các bên có thỏa thuận. Một số nghĩa vụ thường là đối tượng bị vi phạm của bên giao thầu như: các nghĩa vụ về thanh toán, bàn giao mặt bằng xây dựng, bàn giao giấy phép xây dựng, quyết toán... Bên nhận thầu thì thường vi phạm về các nghĩa vụ như: tiến độ thi công, an toàn công trình, chất lượng công trình…
Đối với tiền lãi do chậm thanh toán, thỏa thuận về nghĩa vụ trả tiền lãi không là điều kiện bắt buộc để phát sinh quyền yêu cầu của bên bị chậm thanh toán, điều này có nghĩa trường hợp một bên trong hợp đồng chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì bên bị vi phạm nghĩa vụ thanh toán có quyền yêu cầu bên vi phạm thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán nghĩa vụ đến hạn cho dù các bên không có thỏa thuận về việc trả tiền lãi do chậm thanh toán. Dù vậy, các bên trong hợp đồng vẫn có thể thỏa thuận về việc trả tiền lãi do chậm thanh toán. Thông thường, trong HĐXD nghĩa vụ thanh toán và trả tiền lãi do chậm thanh toán thường xuất phát từ bên giao thầu.
2.2. Quy định về phạt vi phạm và tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng theo quy định pháp luật hiện hành
2.2.1. Quy định về phạt vi phạm hợp đồng
LXD quy định đối với công trình xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và HĐXD giữa doanh nghiệp dự án PPP với các nhà thầu xây dựng thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì các bên được thỏa thuận mức PVP tối đa không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm (khoản 2 Điều 146). Tuy nhiên, đối với công trình xây dựng không sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, LXD không quy định cụ thể mức PVP. Trường hợp này cần xem xét luật nào được áp dụng để điều chỉnh HĐXD. Theo khoản 1 Điều 138 LXD thì “HĐXD là hợp đồng dân sự”. Căn cứ quy định nêu trên có thể hiểu đối với các vấn đề trong HĐXD mà LXD không có quy định điều chỉnh thì áp dụng quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS). Đối với PVP, BLDS quy định các bên được phép tự do thỏa thuận mức PVP mà không giới hạn mức phạt tối đa[3]. Về vấn đề này, khi giải đáp thắc mắc về mức phạt trong một vụ việc cụ thể mà các bên trong HĐXD thỏa thuận áp dụng là 20% giá trị hợp đồng, Bộ Xây dựng cho rằng, “trường hợp dự án không sử dụng vốn nhà nước thì các bên áp dụng mức phạt theo HĐXD đã ký kết”[4]. Với cách giải thích này của Bộ Xây dựng, có thể hiểu rằng, trong trường hợp công trình không sử dụng vốn nhà nước, mức PVP tối đa 8% theo Luật Thương mại năm 2005 (LTM) không được áp dụng và các bên có quyền tự do thỏa thuận mức PVP theo BLDS[5].
2.2.2. Quy định vtiền lãi do chậm thanh toán
LXD không có quy định về tiền lãi trong trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định trường hợp bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán. Tuy nhiên, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP chỉ điều chỉnh đối với HĐXD thuộc các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và HĐXD giữa doanh nghiệp dự án PPP với các nhà thầu xây dựng thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đối với các dự án đầu tư xây dựng khác thì Nghị định số 37/2015/NĐ-CP chỉ có tính chất tham khảo để xác lập và quản lý HĐXD[6]. Điều này có nghĩa, những HĐXD không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP thì cần áp dụng các quy định về tiền lãi do chậm thanh toán tại BLDS. Căn cứ quy định tại Điều 357 BLDS, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất được áp dụng theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 là 20%/năm, trường hợp các bên không có thỏa thuận về mức lãi chậm thanh toán thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468, tức là 10%/năm[7]. Như vậy, có hai loại mức lãi chậm trả là mức lãi chậm trả theo “thỏa thuận” hoặc “theo quy định”[8].
Cũng có quan điểm cho rằng, HĐXD về lý thuyết cũng có thể là hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của LTM. Về cơ bản, hợp đồng thương mại cũng là một loại hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, khác với những loại hợp đồng dân sự khác, hợp đồng thương mại có đặc trưng về chủ thể xác lập (được xác lập giữa các bên là thương nhân hoặc một trong các bên là thương nhân) và mục đích của hợp đồng (nhằm mục đích sinh lợi). Do đó, nếu một HĐXD cụ thể đáp ứng điều kiện về chủ thể xác lập và mục đích của hợp đồng thương mại, HĐXD đó có thể đồng thời là hợp đồng thương mại và chịu sự điều chỉnh của LTM[9].
2.2.3. Sự khác biệt trong quy định về phạt vi phạm và tiền lãi do chậm thanh toán giữa Luật Thương mại năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015
Về phạt vi phạm hợp đồng:
LTM quy định các bên trong hợp đồng được thỏa thuận mức PVP hợp đồng với tổng mức phạt (đối với một hoặc nhiều vi phạm) không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm[10]. Như vậy, BLDS cho phép các bên thỏa thuận mức PVP, ngược lại LTM khống chế mức PVP ở mức không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Đây là điểm khác biệt cơ bản trong quy định về PVP hợp đồng giữa BLDS và LTM. Do đó, việc xác định nguồn luật điều chỉnh đối với HĐXD cũng sẽ dẫn đến hệ quả khác nhau khi giải quyết tranh chấp có liên quan.
Về tiền lãi do chậm thanh toán:
LTM quy định đối với trường hợp các bên không có thỏa thuận về lãi thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu bên vi phạm hợp đồng trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả[11]. Tuy nhiên, quy định “lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và Tòa án nhân dân (TAND) các cấp đã áp dụng không thống nhất trong thời gian dài. Hiện nay, việc xác định “lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường” đã được hướng dẫn chi tiết tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Bên cạnh đó, Điều 306 LTM cũng cho phép các bên trong hợp đồng thỏa thuận mức lãi chậm thanh toán. Tuy nhiên, LTM không quy định mức lãi suất các bên được phép thỏa thuận tối đa là bao nhiêu. Đối với vấn đề này, hiện nay tồn tại hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Mức lãi suất tối đa các bên được phép thỏa thuận là mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường[12].
Quan điểm thứ hai: Các bên được thỏa thuận mức lãi suất không vượt quá mức lãi suất tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015 (20%/năm)[13].
Nhóm tác giả cho rằng, quan điểm thứ hai là thuyết phục hơn. Bởi vì, mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường quy định tại Điều 306 LTM được áp dụng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về mức tiền lãi do chậm thanh toán. Vì vậy, không lý gì các bên lại chỉ được phép thỏa thuận mức lãi không cao hơn mức lãi suất mà các bên không thỏa thuận vẫn đương nhiên được áp dụng. Đồng thời, trường hợp LTM với tư cách là luật riêng không điều chỉnh vấn đề này, cần áp dụng quy định tại luật chung là BLDS để xác định mức lãi chậm thanh toán được phép thỏa thuận.
3.  Thực tiễn thoả thuận và giải quyết tranh chấp về phạt vi phạm, tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
3.1. Thực tiễn thỏa thuận về phạt vi phạm, tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
Thực tiễn áp dụng cho thấy, các bên trong HĐXD thỏa thuận các điều khoản về PVP và tiền lãi do chậm thanh toán có sự khác nhau, dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vấn đề này có thể xuất phát từ những quy định chưa rõ ràng, chưa nhất quán trong quy định pháp luật, hoặc có thể xuất phát từ ý chí, mong muốn của các bên trong hợp đồng, cũng có thể xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về quy định pháp luật có liên quan của các chủ thể trong quá trình thương thảo HĐXD.
Chẳng hạn, trong một hợp đồng thi công lắp đặt các hạng mục bể bơi cho dự án tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, các bên thỏa thuận trường hợp chủ đầu tư chậm thanh toán thì sẽ phải trả lãi cho những ngày chậm thanh toán theo lãi suất quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán đối với số tiền chậm thanh toán. Trong hợp đồng này, các bên thỏa thuận trả tiền lãi do chậm thanh toán theo “lãi suất quá hạn do Ngân hàng nhà nước công bố”, tuy nhiên, thực tế Ngân hàng Nhà nước không thực hiện việc công bố lãi suất quá hạn, mà chỉ quyết định mức lãi suất cho vay tối đa[14]. Với thỏa thuận như trên, khi xảy ra tranh chấp, rất khó để xác định mức lãi suất áp dụng để giải quyết.
Hay tại một hợp đồng thi công xây dựng hạng mục thi công hoàn thiện, sơn bả ngoài tại dự án xây dựng khách sạn các bên thỏa thuận mức PVP đối với nhà thầu do chậm tiến độ là 0,01% giá trị hợp đồng cho mỗi ngày chậm trễ, nhưng tổng số tiền phạt không vượt quá 7,1% tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp chủ đầu tư chậm thanh toán thì sẽ bị phạt chậm thanh toán bằng mức lãi suất tiền vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam đối với thời hạn 12 tháng tại thời điểm chậm thanh toán tính trên số tiền chậm thanh toán và số ngày chậm thanh toán. Trong hợp đồng nêu trên, các bên có thỏa thuận về PVP đối với chủ đầu tư trong trường hợp chậm thanh toán nhưng lại áp dụng một mức lãi suất, vậy thỏa thuận này là thỏa thuận PVP hay thỏa thuận về tiền lãi do chậm thanh toán. Mặt khác, việc xác định mức lãi suất tiền vay của các ngân hàng thương mại cũng không phải là việc dễ, bởi lẽ các ngân hàng thương mại thường ít khi công bố mức lãi suất tiền vay mà thường công bố mức lãi suất huy động tiền gửi. Điều này cũng là trở ngại cho các bên nếu có tranh chấp xảy ra.
3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng xây dựng tại Tòa án
Thực tế xét xử, các Toà án giải quyết chưa thống nhất đối với vấn đề PVP và tiền lãi do chậm thanh toán. Với những HĐXD mà LXD không điều chỉnh về PVP và tiền lãi do chậm thanh toán, có Toà án thì áp dụng các quy định trong BLDS, có Toà án lại áp dụng LTM để giải quyết tranh chấp.
Chẳng hạn, tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 30/2022/KDTM-PT ngày 08/09/2022 của TAND thành phố Đà Nẵng về tranh chấp HĐXD. Tòa án cho rằng, đối với vấn đề PVP, khoản 2 Điều 418 BLDS đã quy định mức PVP do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Như vậy, đối với công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước thì pháp luật xây dựng không giới hạn mức phạt tối đa mà thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Còn về vấn đề tiền lãi do chậm thanh toán, Bản án cũng đã nhận định LXD không quy định về lãi chậm thanh toán nên đã dẫn chiếu Điều 357 BLDS. Theo đó, trường hợp các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về lãi chậm thanh toán thì mức lãi suất được xác định theo BLDS là 10%/năm[15].
Khác với quan điểm trong vụ việc nêu trên, Tòa án có thẩm quyền trong một vụ việc khác lại có quan điểm trái ngược về xác định nguồn luật điều chỉnh đối với HĐXD khi LXD không quy định. Cụ thể, Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 694/2017/KDTM-PT ngày 27/7/2017 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng, Toà án đã áp dụng quy định tại Điều 306 LTM để giải quyết đối với yêu cầu đòi tiền lãi chậm thanh toán của nguyên đơn[16].
Như vậy, cùng là vấn đề áp dụng luật nào để giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐXD khi pháp luật xây dựng không có quy định nhưng các Toà án lại có quan điểm khác nhau. Ở trường hợp thứ nhất, TAND thành phố Đà Nẵng đã áp dụng BLDS để giải quyết vấn đề về PVP và tiền lãi do chậm thanh toán. Tuy nhiên, ở trường hợp thứ hai, TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh lại có quan điểm hoàn toàn trái ngược. Theo đó, Toà án đã áp dụng LTM, cụ thể là Điều 306 để giải quyết vấn đề tiền lãi do chậm thanh toán. Việc tồn tại cách áp dụng pháp luật khác nhau đối với cùng một vấn đề (HĐXD) sẽ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, thiếu thống nhất trong hệ thống TAND các cấp khi giải quyết tranh chấp và gây khó khăn cho các chủ thể có liên quan trong quá trình tham gia tố tụng.
Nhóm tác giả đồng ý với quan điểm của Toà án ở trường hợp thứ nhất, đó là đối với tranh chấp HĐXD mà ở đây đang bàn về vấn đề PVP và tiền lãi do chậm thanh toán, trường hợp pháp luật xây dựng không quy định thì áp dụng BLDS để giải quyết. Bởi như đã phân tích ở những phần trước, HĐXD là hợp đồng dân sự. Theo nguyên tắc về áp dụng pháp luật thì luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng trước luật chung. Đối với lĩnh vực xây dựng, LXD với phạm vi điều chỉnh quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng được xác định là luật chuyên ngành. Còn BLDS là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó bao gồm hợp đồng dân sự nói chung và HĐXD là hợp đồng dân sự nói riêng.
4.  Áp dụng thống nhất luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng nói chung và phạt vi phạm, tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng nói riêng
Từ những bất cập của quy định pháp luật, cho đến thỏa thuận không phù hợp của các bên trong hợp đồng và thực tiễn áp dụng luật điều chỉnh không thống nhất trong xét xử của TAND. Nhóm tác giả cho rằng, cần quy định thống nhất, rõ ràng nguyên tắc áp dụng pháp luật để điều chỉnh đối với vấn đề PVP, lãi do chậm thanh toán, cụ thể như sau:
4.1. Đề xuất xác định nguồn luật điều chỉnh đối với vấn đề phạt vi phạm, tiền lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng xây dựng
Việc xác định nguồn luật điều chỉnh về PVP, tiền lãi do chậm thanh toán trong HĐXD có ý nghĩa rất lớn đối với các bên và Tòa án trong quá trình xét xử. Bởi lẽ, thực tiễn cho thấy, vẫn tồn tại các cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau đối với các chế tài của loại hợp đồng này. Vì vậy, nhóm tác giả cho rằng, cần xác định nguyên tắc áp dụng nguồn luật điều chỉnh đối với PVP, tiền lãi do chậm thanh toán trong HĐXD căn cứ vào các tiêu chí sau: (i) nguồn vốn sử dụng để đầu tư dự án; (ii) chủ thể tham gia hợp đồng; (iii) mục đích của các bên trong hợp đồng. Cụ thể:
(a)  Đối với HĐXD có sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và HĐXD giữa doanh nghiệp dự án PPP với các nhà thầu xây dựng thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì áp dụng các quy định tại LXD, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
(b)  Đối với HĐXD được các bên trong hợp đồng giao kết nhằm mục đích sinh lợi và được xác lập giữa các bên là thương nhân thì áp dụng LTM.
(c)  Đối với HĐXD không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong hợp đồng với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên không nhằm mục đích sinh lợi chọn áp dụng LTM thì áp dụng LTM.
(d)  Đối với các HĐXD không thuộc ba trường hợp nêu trên thì áp dụng BLDS để điều chỉnh.
4.2. Đề xuất phương án xác định tiền lãi trong hợp đồng xây dựng
Thứ nhất, đối với HĐXD thuộc các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và HĐXD giữa doanh nghiệp dự án PPP với các nhà thầu xây dựng thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, quy định về trường hợp tiền lãi do chậm thanh toán tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được tính theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố “tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán” cho thấy vẫn còn tồn tại vướng mắc. Bởi lẽ, cần làm rõ “các thời kỳ chậm thanh toán” được xác định là khoảng thời gian cụ thể nào, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức lãi suất chậm thanh toán cho mỗi giai đoạn. Bên cạnh đó, việc xác định mức lãi suất các thời kỳ chậm thanh toán sẽ gây nhiều khó khăn, phiền hà cho các bên trong hợp đồng và Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp. Mặt khác, quy định về “lãi suất quá hạn” cũng chưa thực sự rõ nghĩa, mức lãi suất quá hạn ở đây là mức lãi suất quá hạn của khoản vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Mức lãi suất áp dụng đối với cá nhân vay hay tổ chức vay. Thực tế mức lãi suất áp dụng cho khoản tiền vay giữa tổ chức, cá nhân và lãi suất của khoản vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cũng có sự khác nhau tại cùng một ngân hàng thương mại.
Vì vậy, nhóm tác giả kiến nghị cần sửa đổi khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP như sau: “Trường hợp bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất nợ quá hạn đối với khoản vay trung hạn của tổ chứcdo ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán”.
Thứ hai, mức tiền lãi do chậm thanh toán các bên được phép thỏa thuận theo quy định tại Điều 306 LTM chưa quy định mức lãi suất tối đa các bên có thể thỏa thuận. Điều này trên thực tế đã dẫn đến nhiều cách hiểu chưa thống nhất từ cơ quan giải quyết tranh chấp cho đến các học giả nghiên cứu. Do đó, nhóm tác giả kiến nghị trong thời gian tới Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn hoặc ban hành án lệ để làm khuôn thước cho việc giải quyết tranh chấp đối với mức lãi suất các bên thỏa thuận theo hướng không vượt quá mức lãi suất do chậm thanh toán theo quy định tại BLDS. Về giải pháp lâu dài, căn cơ, LTM cần có quy định minh thị đối với mức lãi suất tối đa các bên được thỏa thuận trong trường hợp một bên chậm thực hiện nghĩa vụ, theo đó mức lãi suất tối đa các bên được thỏa thuận không được vượt quá một mức lãi suất cụ thể và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội tại thời điểm quy định và phù hợp với các bộ luật, luật có liên quan khác■

[1] Khoản 2 Điều 146 LXD.
[2] Khoản 2 Điều 43 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP.
[3] Khoản 2 Điều 418 BLDS.
[4] Công văn số 48/BXD-KTXD ngày 03/9/2019 của Bộ Xây dựng về việc giải đáp vướng mắc của Công ty CP Xây dựng và kết cấu thép Đại Tín.
[5] Trương Nhật Quang, Lê Trần Quỳnh Thy, Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17, tháng 9/2020, tr. 17.
[6] Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 50/2021/NĐ-CP.
[7] Khoản 2 Điều 468 BLDS.
[8] Đỗ Văn Đại, Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2019, tr. 306.
[9] Trương Nhật Quang, Phạm Hoài Huấn, PVP trong hợp đồng xây dựng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24, tháng 12/2019, tr. 37.
[10] Điều 301 LTM.
[11] Điều 306 LTM.
[12] Lương Khải Ân, Pháp luật về lãi, lãi suất, PVP trong quan hệ dân sự, thương mại và tín dụng ngân hàng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2022, tr. 225 – 227.
[13] Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 192/2019/KDTM-PT ngày 20/03/2019 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 4 – 5.
[14] Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
[15] Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 30/2022/KDTM-PT ngày 08/09/2022 của TAND thành phố Đà Nẵng, tr. 25 – 27.
[16] Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 694/2017/KDTM-PT ngày 27/7/2017 của TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh, tr. 7.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 12(491), tháng 6/2024)


Thống kê truy cập

38694325

Tổng truy cập