Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích các chuẩn mực quốc tế đối với tư pháp người chưa thành niên, học tập kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia có hệ thống pháp luật về tư pháp người chưa thành niên tiêu biểu trên thế giới và trong khu vực là Đức, Singapore để chỉ ra sự cần thiết xây dựng điều luật quy định về căn cứ quyết định hình phạt, án treo đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như đề xuất về vị trí và một số nội dung các điều luật đó.
Từ khoá: Quyết định hình phạt; án treo; người dưới 18 tuổi phạm tội; người chưa thành niên phạm tội.
Abstract: Within this article, the author gives an analysis of the international standards for juvenile justice, and reviews the legislative experience of a number of countries with typical juvenile justice systems in the world and in the region, such as Germany, Singapore, to point out the need of the articles regulating the basis for deciding on penalties and for suspended sentences for juvenile offenders, as well as proposed positions and a number of relevant provisions of the law.
Keywords: Decision on penalty; suspended sentence; offenders under 18 years old; juvenile offenders.
Ảnh minh họa: Nguồn internet
1. Đặt vấn đề
Trong Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên (NCTN)
[1] (Dự thảo), các quy định về quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt và xóa án tích với NCTN phạm tội được quy định tại Mục 2 Chương VII, bao gồm 06 điều luật từ Điều 95 đến Điều 100, quy định về các nội dung: Quyết định hình phạt trong trường chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 95); tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 96); tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 97); giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 98); tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 99) và xóa án tích (Điều 100). So với Chương XII - Các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự hiện hành (BLHS), Dự thảo không bổ sung thêm hoặc xóa bỏ điều luật nào, mà sự thay đổi chủ yếu nằm ở việc giảm các mức tối đa của hình phạt và của thời hạn xóa án tích. Những thay đổi này là hoàn toàn phù hợp với chủ trương, quan điểm của Đảng ta về “
tăng cường tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội” được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, vừa bảo đảm phù hợp với thực tiễn và truyền thống pháp lý của Việt Nam, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em 1989…
Tuy nhiên, theo tác giả, Dự thảo hiện nay thiếu vắng hai quy định về căn cứ quyết định hình phạt và án treo treo đối với NCTN. Cụ thể, căn cứ quyết định hình phạt và án treo đối với NCTN phạm tội sẽ được áp dụng theo các điều luật chung là Điều 28 và 65 BLHS mà không có sự khoan hồng hay giảm nhẹ nào. Việc thiếu vắng hai quy định này một mặt không bảo đảm sự đồng bộ và toàn diện trong quy định về trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội
[2], mặt khác cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của chuẩn mực quốc tế về tư pháp NCTN như: yêu cầu về tính chuyên biệt trong xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được nêu tại Điều 40 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em: “
Các quốc gia thành viên phải thúc đẩy việc thiết lập một lĩnh vực tư pháp NCTN chuyên biệt, trong đó đặc biệt chú trọng việc ban hành các đạo luật quy định trình tự, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho NCTN vi phạm pháp luật”
[3]; yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất của NCTN… Vì vậy, Dự thảo nên bổ sung hai quy định này.
2. Bổ sung điều luật quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Sự cần thiết của việc bổ sung điều luật: Hiện nay, căn cứ chung để quyết định hình phạt đối với phạm tội được quy định tại Điều 50 BLHS như sau:
1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”.
Như vậy, căn cứ quyết định hình phạt bao gồm: 1) Quy định của BLHS; 2) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; 3) Nhân thân người phạm tội; 4) Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; 5) Tình hình tài sản, khả năng thi hành hình phạt của người phạm tội (đối với hình phạt tiền). Các căn cứ này được áp dụng chung cho cả người phạm tội là người đã thành niên và người phạm tội là NCTN. Với cách quy định này, có thể nhận thấy trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội, căn cứ cần được quan tâm hàng đầu là quy định của BLHS, yếu tố nhân thân người phạm tội chỉ là yếu tố được xếp thứ ba trên tổng số năm căn cứ.
Mặc dù trong các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội được quy định tại Điều 91 BLHS có nêu rõ: “
việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”
[4]. Tuy nhiên, câu chữ của điều luật này cũng không thể hiện việc đưa yếu tố nhân thân là căn cứ quan trọng hàng đầu trong việc lựa chọn áp dụng các biện pháp xử lý hay quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội.
Trong khi đó, từ góc độ khoa học, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc NCTN thực hiện tội phạm là do sự phát triển chưa toàn diện về mặt thể chất cũng như nhận thức, do thiếu sự quan tâm từ phía gia đình, do bị ảnh hưởng của môi trường sống
[5]… đây đều là những nguyên nhân thuộc về yếu tố nhân thân người phạm tội. Do đó, trong việc xử lý NCTN phạm tội, đặc biệt là trong hoạt động quyết định hình phạt, cần chú trọng đến yếu tố này để bảo đảm hình phạt được áp dụng phù hợp, phát huy được hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.
Ở góc độ pháp luật quốc tế, các yếu tố thuộc về nhân thân NCTN phạm tội luôn được quan tâm hàng đầu khi xem xét các vấn đề liên quan đến NCTN. Quy tắc thứ 5 trong Quy tắc Bắc Kinh quy định: “
phải bảo đảm rằng bất cứ việc xét xử nào đối với NCTN phạm tội phải luôn xem xét hoàn cảnh của người phạm tội cũng như hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội”. Bên cạnh đó, quy tắc 17.1.a cũng khuyến nghị: “
Các biện pháp xử lý không những phải luôn phù hợp với hoàn cảnh và mức độ phạm tội, mà còn phải phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của NCTN cũng như những nhu cầu của xã hội”. Trực tiếp đề cập đến việc quyết định hình phạt đối với NCTN, quy tắc 16 yêu cầu “
trong tất cả các vụ án phải điều tra kĩ hoàn cảnh sống của NCTN hay những điều kiện dẫn đến phạm tội để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền xét xử đưa ra một phán quyết công minh”. Như vậy, khi quyết định hình phạt “
phải xem xét hoàn cảnh sống của họ, hoàn cảnh phạm tội làm các căn cứ quan trọng trong việc quyết định các biện pháp xử lý”
[6].
Ở góc độ pháp luật quốc gia, nhiều nước trên thế giới trong đó có Singapore và Đức có quy định riêng về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Theo luật pháp Singapore, ngoài quy định về nguyên tắc chung trong xử lý NCTN phạm tội, Luật về Tư pháp NCTN của Singapore vẫn có quy định riêng biệt về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN. Theo quy định, khi quyết định biện pháp xử lý NCTN phạm tội, Tòa án thanh thiếu niên sẽ yêu cầu một báo cáo về người phạm tội với mục đích đưa ra một quyết định phù hợp nhất dựa trên việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và đặc điểm của từng vụ án
[7]. Như vậy, có ba căn cứ được xem xét khi quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội ở Singapore là: 1) Nhân thân của NCTN thông qua cáo cáo về người phạm tội; 2) Tính chất nguy hiểm của tội phạm; 3) Đặc điểm của từng vụ án.
Tương tự như vậy, ở Đức, ngoài nguyên tắc xử lý chung đối với NCTN phạm tội, khoản 2 Điều 17 Luật Toà án hình sự NCTN quy định về nguyên tắc quyết định hình phạt đối với NCTN
[8]. Theo đó, thẩm phán sẽ áp dụng hình phạt đối với thanh thiếu niên nếu, do khuynh hướng có hại của NCTN trong quá trình thực hiện hành vi, các biện pháp giám sát hoặc biện pháp kỷ luật không đủ cho mục đích giám sát hoặc nếu hình phạt đó là cần thiết vì mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và mức độ lỗi của NCTN. Như vậy, căn cứ chính để quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trong Luật Hình sự Đức là sự đánh giá về nhân thân người phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm và lỗi của người phạm tội ở thời điểm họ thực hiện tội phạm.
Có thể thấy, điểm chung của pháp luật Singapore và Đức là ngoài quy định về nguyên tắc xử lý chung thì vẫn có quy định riêng về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội. Về mặt nội dung, căn cứ về nhân thân NCTN phạm tội luôn là căn cứ đầu tiên cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các em.
Cuối cùng, nhìn vào chính các nội dung của Dự thảo, Chương VII - Các biện pháp xử lý chuyển hướng cũng có một điều luật riêng quy định về nguyên tắc xử lý chuyển hướng là Điều 30 và tại khoản 1 điều này quy định về các căn cứ cho việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng NCTN phạm tội, trong khi đó chương quy định về hình phạt lại không có quy định tương tự.
Những phân tích trên đã chỉ ra rằng, việc xây dựng một điều luật về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội trong Dự thảo là có cơ sở và cần thiết.
Về vị trí của điều luật: Đây là điều luật làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt riêng biệt đối với NCTN phạm tội, vì vậy, theo tác giả, điều luật bổ sung về căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội phải là điều luật đầu tiên trong mục quy định về quyết định hình phạt, trước điều luật quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.
Về nội dung của điều luật: Dựa vào các phân tích trên, tác giả kiến nghị quy định các căn cứ quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội bao gồm: 1) Độ tuổi, khả năng nhận thức và hoàn cảnh phạm tội của NCTN; 2) Quy định của BLHS; 3) Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; 4) Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong đó, căn cứ thuộc về nhân thân của NCTN là căn cứ đầu tiên cần được xem xét trong quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội.
3. Bổ sung điều luật quy định về án treo đối với người chưa thành niên phạm tội
Sự cần thiết của việc bổ sung điều luật: Dự thảo không có quy định riêng về án treo áp dụng đối với NCTN phạm tội, do đó, các quy định áp dụng đối với người phạm tội là NCTN và người đã thành niên đều thực hiện theo Điều 65 BLHS. Thực tế này dẫn đến một số điểm hạn chế như sau:
Một là: Thời gian thử thách của án treo đối với NCTN theo quy định hiện nay tương đối dài. Theo Điều 65 BLHS, thời gian thử thách của án treo được áp dụng chung đối với NCTN phạm tội và người đã thành niên phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm. Trong khi đó, Dự thảo Luật Tư pháp NCTN lại không có quy định riêng về án treo áp dụng với NCTN phạm tội, hay nói cách khác là không có sự giảm nhẹ nào trong quy định về thời gian thử thách đối với NCTN phạm tội. Đặt trong tương quan so sánh với thời hạn để NCTN giáo dục, cải tạo ở các biện pháp xử lý chuyển hướng cho thấy, thời gian thử thách của án treo cao gấp 2,5 lần thời hạn cao nhất của các biện pháp xử lý chuyển hướng (các biện pháp cấm tiếp xúc; cấm đến một địa điểm; giáo dục tại xã, phường, thị trấn và giáo dục tại trường giáo dưỡng theo các điều 38, 39, 40, 41 của Dự thảo có thời hạn tối đa là 02 năm). Điều đó cho thấy, yêu cầu về tính chuyên biệt trong xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được trực tiếp đặt ra tại Điều 40 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên chưa được đáp ứng tốt. Bên cạnh đó, thời gian thử thách tương đối dài đồng nghĩa với việc trong thời gian này, NCTN bị hạn chế các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ theo Điều 87 và Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019, ảnh hưởng phần nào đến các hoạt động học tập, lao động… của NCTN bị kết án.
Hai là: Hậu quả pháp lý trong trường hợp NCTN vi phạm điều kiện thử thách của án treo là tương đối nghiêm khắc và không có sự khác biệt so với người đã thành niên bị kết án. Theo khoản 5 Điều 65 BLHS, trong thời gian thử thách, nếu NCTN được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp NCTN thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Kinh nghiệm của quốc gia có quy định tương tự như quy định về án treo của Việt Nam là Đức cho thấy, có thể có biện pháp xử lý khác nếu NCTN phạm tội vi phạm điều kiện thử thách của án treo. Theo các quy định tại Chương 5 Luật Toà án hình sự NCTN của Đức, thời gian thử thách của án treo là 01 đến 02 năm, nếu người dưới 18 tuổi phạm tội vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì Toà án có thể đưa ra phương án xử lý là gia hạn thời gian thử thách lên 04 năm
[9]. Tham khảo kinh nghiệm này, tác giả cho rằng, quy định về án treo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng nên quy định hậu quả pháp lý là gia hạn thời gian thử thách trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên nhằm “
thể hiện nội dung nhân đạo của chính sách hình sự, tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo tốt”
[10].
Với các phân tích trên, tác giả cho rằng, Dự thảo cần nghiên cứu bổ sung điều luật quy định về án treo áp dụng đối với NCTN phạm tội.
Về vị trí của điều luật: Trong BLHS Việt Nam, án treo được quy định tại Điều 65 trong Chương 9 - Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Về mặt bản chất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Vì vậy, theo chúng tôi, điều luật bổ sung về án treo đối với NCTN phạm tội trong Dự thảo sẽ nằm ở mục 2 Chương VII và được đặt trước điều luật về tha tù trước thời hạn có điều kiện (tức là Điều 99 Dự thảo).
Về nội dung của điều luật: các nội dung của điều luật thể hiện được các nội dung giảm nhẹ như sau:
1)Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 06 tháng đến 03 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định.
2) Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định gia hạn thời gian thử thách lên tối đa là 05 năm hoặc buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Có thể khẳng định, các quy định của Dự thảo Luật Tư pháp NCTN đã thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng trong xử lý NCTN phạm tội; đáp ứng tốt yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế về tư pháp NCTN nói riêng và về quyền trẻ em nói chung. Tuy nhiên, một số nội dung của Dự thảo Luật vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng tốt hơn nữa các yêu cầu đặt ra đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay./.
[1] Dự thảo được sử dụng trong bài viết này được đăng tải tại trang web chính thức của Toà án nhân dân tối cao: https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/htvb/chi-tiet-vbdt?dDocName=TAND326014, truy cập ngày 10/7/2024.
[2] Đào Phương Thanh,
Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số 6/2023, tr. 240.
[3] Trường Đại học Luật Hà Nội,
Giáo trình Tư pháp đối với người chưa thành niên, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2020, tr. 35.
[4] Khoản 1 Điều 91 BLHS.
[5] Xem thêm: Đào Phương Thanh,
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, 2024, tr. 120 - 128; B.R. Hergenhahn,
An Introduction to the History of Psychology, Lưu Văn Hy dịch, Nxb. Thống kê, 2003, tr. 497; Trương Thị Khánh Hà,
Giáo trình Tâm lý học phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013, tr. 176.
[6] Trịnh Tiến Việt,
Đảm bảo quyền con người trong việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: những vấn đề lý luận, thực trạng và giải pháp, trong cuốn Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên, Nxb. Công an nhân dân, 2022, tr. 251.
[7] Đào Lệ Thu,
Tư pháp người chưa thành niên - từ mô hình đến thực tiễn Luật Tư pháp người chưa thành niên một số nước và những đề xuất đối với Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Tăng cường tư pháp cho người chưa thành niên”, Ban Nội chính Trung ương và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Hà Nội, 2016, tr. 40.
[9] University of Fribourg,
Protecting the Rights of Children in Conflict with the Law -
Research on Alternatives to the Deprivation of Liberty in Eight Countries, Switzerland, 2008.
[10] Trường Đại học Luật Hà Nội,
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 380.