Hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

17/10/2024

TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, tác giả kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm góp phần khắc phục những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về tư pháp người chưa thành niên.
Từ khóa: Luật Tư pháp người chưa thành niên;tư pháp người chưa thành niên; người chưa thành niên.
Abstract: Within the scope of this article, the author provides a number of recommendations to further clarify the necessity of developing and promulgating the Law on Juvenile Justice to contribute to overcoming the shortcomings and inadequacies of the current Vietnamese legal system.
Keywords:Law on Juvenile Justice; juvenile justice; the juvenile.
 
123_2.jpg
Ảnh minh họa: Nguồn internet

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định trẻ em được ưu tiên chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt thể hiện trong nhiều nghị quyết, văn kiện quan trọng; đặc biệt, Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 25/12/2023 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã đề ra giải pháp “phát triển hệ thống tư pháp thân thiện và bảo vệ trẻ em”. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”(khoản 1 Điều 37). Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam là thành viên yêu cầu: Các quốc gia thành viên phải tìm cách thúc đẩy việc thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho những trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật hình sự(khoản 3 Điều 40). Việt Nam đã có nhiều bộ luật, luật, văn bản dưới luật điều chỉnh về tư pháp đối với người chưa thành niên (NCTN). Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh về vấn đề này cũng còn nhiều hạn chế.

1. Những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về tư pháp người chưa thành niên
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về tư pháp NCTN còn tản mạn, nhiều tầng nấc, thiếu đồng bộ, bị cắt khúc, gây khó khăn khi áp dụng trong thực tiễn, cụ thể là:
- Pháp luật nội dung chủ yếu quy định mang tính nguyên tắc chung về hình phạt được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS) và các văn bản hướng dẫn thi hành; pháp luật về thủ tục tố tụng quy định bởi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) và các văn bản hướng dẫn thi hành; cơ chế thi hành án, thi hành biện pháp giám sát, giáo dục khi NCTN được miễn trách nhiệm hình sự lại được phân hóa thực hiện bởi 02 hệ thống văn bản với thứ bậc khác nhau[1].
- Cùng nội dung điều chỉnh về thủ tục tố tụng thân thiện đối với NCTN, ngoài việc điều chỉnh bởi BLTTHS, còn có 03 loại văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này được ban hành bởi các chủ thể khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng khác nhau[2], dẫn đến thiếu đồng bộ, cắt khúc.
- Tồn tại sự chồng lấn giữa các chế tài hành chính và hình sự về biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) với biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (BLHS).
Thứ hai, hệ thống hình phạt hiện hành còn một số sai sót, không thực hiện được trong thực tế; một số quy định chưa phù hợp với độ tuổi, đặc điểm, tính chất hành vi phạm tội của NCTN. Một số hình phạt không có sự phân hóa giữa NCTN và người trưởng thành[3]. Mức hình phạt tù tối đa áp dụng với NCTN vẫn còn rất nghiêm khắc. Điều kiện NCTN được tha tù trước hạn vẫn còn chặt chẽ[4]. Các biện pháp giám sát, giáo dục đã được quy định nhưng hầu như không được áp dụng, thiếu tính khả thi và còn nhiều bất cập. Các biện pháp xử lý chuyển hướng còn ít và mang tính hình thức, thiếu cơ chế phục hồi cho NCTN... Cụ thể:
- Các biện pháp giám sát, giáo dục hiện hành chưa phù hợp khi quy định: (1) áp dụng đồng thời biện pháp này cùng với việc miễn trách nhiệm hình sự, trong khi chưa có chế tài xử lý việc không chấp hành biện pháp giám sát, giáo dục dẫn đến thiếu sự tin tưởng từ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, nên biện pháp này ít hoặc không được áp dụng mà chủ yếu lựa chọn áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn cho hưởng án treo; (2) cho phép người đại diện hợp pháp của NCTN đồng ý áp dụng là một điều kiện độc lập để áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục, điều này không hoàn toàn phù hợp với Bình luận chung số 24 của Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc; (3) các biện pháp giám sát, giáo dục còn ít chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.
- Thiếu quy định thời hạn về thực hiện nghĩa vụ đối với NCTN khi được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng (Điều 94 BLHS). Biện pháp này, về bản chất tên gọi là một trình tự, thủ tục thực hiện, trong khi đó điểm a khoản 3 lại xác định xin lỗi bị hại và bồi thường thiệt hại là một trong những nghĩa vụ của người chấp hành án cũng chưa phù hợp. Theo đó, cần xác định nghĩa vụ này là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng.
- Một số biện pháp tư pháp áp dụng cho người đã thành niên như bồi thường thiệt hại, buộc xin lỗi công khai (Điều 48 BLHS) có tính chất tương đồng với nghĩa vụ của NCTN khi được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng tại điểm a khoản 3 Điều 93 BLHS cũng chưa thật sự thống nhất.
- Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (Điều 96 BLHS) quy định chưa rõ ràng, thiếu căn cứ dẫn đến khó khăn khi áp dụng. Theo quy định tại Điều 90 BLHS: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”, thì NCTN có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp tại Điều 46 BLHS (trừ điểm c khoản 1) và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tại Điều 96 BLHS là chưa phù hợp, thiếu công bằng. Mặt khác, trước đây, BLHS năm 1999 quy định 02 biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và giáo dục tại trường giáo dưỡng. Tuy nhiên, BLHS hiện hành đã chuyển biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thành biện pháp giám sát, giáo dục. Do đó, về bản chất có thể hiểu, biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là một biện pháp giám sát, giáo dục. Đồng thời, thiếu chế tài áp dụng đối với người dưới 18 tuổi bỏ trốn khỏi trường giáo dưỡng, khi bắt được đã trên 18 tuổi thì xử lý như thế nào.
- Phạm vi miễn trách nhiệm hình sự khi áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với NCTN phạm tội còn hẹp đối với các trường hợp NCTN phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thực hiện tội rất nghiêm trọng do lỗi vô ý; người từ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng như chuẩn bị phạm tội giết người, cố ý gây thương tích, cướp giật...
- Khoản 3 Điều 93 BLHS về khiển trách quy định một trong những nghĩa vụ NCTN phải thực hiện là tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức. Về bản chất, nghĩa vụ này không phải là nhiệm vụ khi bị áp dụng biện pháp khiển trách mà là một biện pháp chuyển hướng mới phù hợp.
- Căn cứ quyết định hình phạt cảnh cáo của người đã thành niên tại Điều 34 BLHS cũng được áp dụng đối với NCTN là chưa phù hợp, thiếu công bằng, chưa có tính đặc thù. Điều 34 BLHS quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không được áp dụng hình phạt này. Trong khi đó, đối tượng này nếu phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 BLHS thì có thể được áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục “Hòa giải tại cộng đồng”. Như vậy, trường hợp này, nếu NCTN và bị hại không tự nguyện hòa giải được thì phải đưa vụ án ra xét xử, nhưng không được áp dụng hình phạt cảnh cáo là chưa phù hợp.
- Điều 99 BLHS quy định chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thu nhập hoặc có tài sản là chưa bảo đảm công bằng, bình đẳng đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội. Ví dụ, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265), đua xe trái phép (Điều 266) nếu có đủ điều kiện theo Điều 54 BLHS được áp dụng khoản 1 các điều này mà có tài sản thì không được áp dụng hình phạt tiền.
- Hình phạt áp dụng đối với NCTN vẫn còn quá nghiêm khắc, chưa phù hợp với xu hướng quốc tế hiện nay (Indonesia hình phạt cao nhất đối với NCTN là 10 năm; Đức là 10 năm; Coroatia 10 năm...), việc áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với NCTN trong mọi tội phạm mà chưa có sự phân hóa theo từng loại tội phạm là chưa bảo đảm tính nhân văn, phù hợp với đặc điểm, lứa tuổi, nhận thức của NCTN. Đặc biệt, thiếu quy định mang tính nguyên tắc ưu tiên áp dụng các hình phạt không mang tính chất giam giữ dẫn đến thực tiễn xét xử tại các Tòa án thời gian qua chưa thật sự chú ý áp dụng các hình phạt này.
- Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 103 BLHS, tổng hợp hình phạt tù đối với NCTN khi họ phạm tội trước lúc 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng với tội phạm sau khi 18 tuổi, nhưng khi tổng hợp hình phạt tù cũng không quá mức hình phạt cao nhất là 18 năm tù đối với người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là thiếu công bằng với trường hợp người đã trên 18 tuổi khác hoặc trường hợp NCTN thực hiện tội phạm trước khi 16 tuổi tại điểm b khoản 2 Điều 103 BLHS.
- Căn cứ cho NCTN được hưởng án treo, hoãn chấp hành án phạt tù như người đã trưởng thành tại Điều 65 và Điều 67 BLHS là chưa phù hợp, thiếu những quy định có tính chất đặc thù cho họ.
- Căn cứ tha tù trước hạn có điều kiện đối với NCTN còn nặng nề. Quy định không cho phép tha tù trước thời hạn đối với NCTN khi họ phạm tội 02 lần trở lên, nếu các tội đó thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc là đồng phạm có vai trò không đáng kể... là cứng nhắc. Đồng thời, quy định thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với NCTN được chia thành 3 đợt trong một năm chưa phù hợp, không bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCTN.
Thứ ba, thủ tục tố tụng hình sự chưa thực sự thân thiện, phù hợp với tâm lý lứa tuổi, khả năng nhận thức và sự phát triển của NCTN; một số quy định chưa bảo đảm được lợi ích tốt nhất cho NCTN; thiếu thiết chế bảo vệ NCTN là bị hại, người làm chứng...:
- Hiện nay, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN được quy định tại Chương XXVIII BLTTHS. Tuy nhiên, đa phần các quy định này thể hiện trình tự, thủ tục dành cho NCTN là người bị buộc tội và trên cơ sở điều chỉnh một phần nhỏ trong hệ thống thủ tục tố tụng chung nên chưa hiệu quả, thiếu các quy định thân thiện, đặc biệt đối với NCTN là bị hại, người làm chứng trong vụ án hình sự. Mặt khác, các quy định về thủ tục tố tụng thân thiện được quy định trong nhiều loại văn bản với nhiều thứ bậc khác nhau[5].
- Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục quy định tại các Điều 426, 427, 428 và 429 BLTTHS còn thiếu cụ thể, chưa rõ ràng, chưa chặt chẽ, khi nào thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quyền áp dụng, có bắt buộc phải có kết luận điều tra, bản cáo trạng hay chỉ cần có quyết định khởi tố bị can; các quyết định có bị khiếu nại, kháng nghị hay không; thiếu quy định về hiệu lực của các quyết định này. Việc tổ chức thi hành biện pháp giám sát, giáo dục NCTN được thực hiện bởi văn bản dưới luật chưa phù hợp[6].
- Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án có NCTN bị buộc tội cơ bản áp dụng thủ tục chung như đối với người đã thành niên, thiếu tính thân thiện. Mặc dù nội dung này đã được hướng dẫn tại Thông tư số 43/2021/TT-BCA ngày 22/4/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an, tuy nhiên cần pháp điển nội dung này thành Luật.
- Thiếu các quy định thân thiện khi thực hiện một số hoạt động điều tra, truy tố như nhận dạng, nhận biết giọng nói, đối chất, khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể đối với NCTN. Chưa quy định về yêu cầu đặc thù với người bào chữa cho NCTN cũng phải bảo đảm am hiểu tâm, sinh lý hoặc có kinh nghiệm giải quyết vụ án đối với NCTN.
- Việc tham gia tố tụng của người đại diện còn thiếu quy định về trường hợp không được đại diện cho NCTN. Quy định quyền và nghĩa vụ của người đại diện, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường, cơ quan, tổ chức khác khi tham tố tụng trong cùng một điều luật (Điều 420 BLTTHS) không rõ ràng, khó khăn trong việc áp dụng.
- Quy định liên quan đến việc giữ bí mật thông tin của NCTN vẫn còn tùy nghi, việc tổ chức xét xử để bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án “có thể” xét xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai. Tuy nhiên, việc tuyên án công khai toàn bộ bản án vẫn chưa bảo đảm quyền bí mật cá nhân của bị cáo.
- Thời hạn tạm giam đối với NCTN phạm tội tuy đã được giảm đáng kể nhưng thời hạn này vẫn còn rất dài. Trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, NCTN có thể bị tạm giam đến 12 tháng, thậm chí dài hơn trong những trường hợp ngoại lệ theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thời hạn này quá dài, so với khuyến nghị của Ủy ban Quyền trẻ em của Liên hợp quốc[7].
Thứ tư, một số cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được nội luật hóa đầy đủ; một số quy định chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế, cụ thể là:
- Chưa nội luật hóa một số quy định tại Điều 40 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em năm 1989: chưa bảo đảm quyền trợ giúp pháp lý miễn phí cho người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; sự riêng tư của NCTN vẫn chưa được bảo đảm trong tất cả các giai đoạn tố tụng; chưa hình thành các cơ quan, tổ chức riêng cho NCTN bị coi là người bị buộc tội (các cơ quan này mới chỉ hình thành một phần tại Tòa án, cụ thể là Tòa gia đình và NCTN); chưa có nhiều biện pháp khác nhau về chăm sóc, hướng dẫn, giám sát, bảo trợ, các chương trình giáo dục, dạy nghề và những biện pháp thay thế khác.
- Chưa thể chế hóa một số quy định theo hướng dẫn của Quy tắc Bắc Kinh: BLTTHS yêu cầu tuyên án công khai các vụ án có NCTN là người phạm tội chưa bảo đảm sự riêng tư của NCTN theo hướng dẫn của Quy tắc Bắc Kinh[8]; mục 15 Quy tắc Bắc Kinh yêu cầu NCTN có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí nhưng nội dung này vẫn chưa được nội luật hóa (theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì đối tượng NCTN được trợ giúp miễn phí chỉ là người dưới 16 tuổi); chưa quy định báo cáo điều tra xã hội về hoàn cảnh sống, điều kiện dẫn đến phạm tội là một cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định hình phạt.
Thứ năm, cơ chế bảo đảm sự tham gia của người có hiểu biết về tâm lý, xã hội trong quá trình tố tụng còn mờ nhạt, chưa ghi nhận điều kiện, nhiệm vụ và quyền hạn của người làm công tác xã hội trong tố tụng, thi hành án theo quy định tại Điều 72 Luật Trẻ em năm 2016. Đặc biệt, việc xem xét, áp dụng các biện pháp giam giữ chủ yếu do đánh giá của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, chưa có cơ chế đánh giá dựa trên báo cáo lý lịch xã hội về NCTN.
Pháp luật còn sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau về NCTN, thiếu đồng bộ. Bộ luật Dân sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng, chống mua bán người, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính quy định “NCTN” là người chưa đủ 18 tuổi; BLHS, BLTTHS, Luật Thi hành án hình sự, Luật Đặc xá sử dụng thuật ngữ “Người dưới 18 tuổi”; Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia sử dụng thuật ngữ “Người chưa đủ 18 tuổi”; Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật lại quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”...
Thiếu các quy định về chi phí hỗ trợ cho người bị hại trong hoạt động tố tụng:Hành vi phạm tội có thể tác động nghiêm trọng và lâu dài đối với NCTN, đặc biệt là bạo lực tình dục, bạo lực gia đình. Nhiều trường hợp, NCTN và gia đình phải chịu các chi phí liên quan đến việc điều trị y tế khẩn cấp, chi phí liên quan đến quá trình tư pháp hình sự, chi phí cho dịch vụ tư vấn, phục hồi nhân phẩm nhưng không có khả năng chi trả ngay lập tức, trong khi đó vấn đề bồi thường cho họ chỉ được xem xét, giải quyết khi phán quyết của Tòa án có hiệu lực, dẫn đến nhiều khó khăn, áp lực cho bị hại[9].
2. Góp ý một số nội dung của Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên
Thứ nhất, về quy trình xử lý chuyển hướng, tác giả cơ bản tán thành vớiquy định: NCTN được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thay thế quy trình tố tụng hình sự; trường hợp vi phạm nghĩa vụ, thì NCTN có thể bị thay đổi biện pháp xử lý chuyển hướng nghiêm khắc hơn là giáo dục tại trường giáo dưỡng mà không bị tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử (trừ trường hợp phạm tội mới) nhằm bảo đảm chính sách hình sự nhất quán trong xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, cải thiện nhận thức và hành vi, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội mà không phải nhằm mục đích trừng phạt[10].
Thứ hai, về mở rộng các trường hợp áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tác giả tán thành với đề xuất cần mở rộng các trường hợp được áp dụng xử lý chuyển hướng để phù hợp với việc chuyển biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thành biện pháp xử lý chuyển hướng, tạo cơ sở để thực thi tốt nguyên tắc của BLHS đó là “chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn với NCTN phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục và các biện pháp ngăn chặn khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”[11].
Thứ ba, về thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tác giả cơ bản tán thành với quy định cả ba cơ quan (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) đều có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại mỗi giai đoạn tố tụng; riêng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng phải do Tòa án quyết định nhằm đáp ứng nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời, giúp NCTN có đủ điều kiện luật định sẽ sớm được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Thứ tư, về kiểm sát hoạt động xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tác giả tán thành cần quy định Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng góp phần khắc phục bất cập của pháp luật hiện hành thiếu cơ chế giám sát việc áp dụng, nhất là giám sát việc thi hành các biện pháp xử lý chuyển hướng.
Thứ năm, về hình phạt, tổng hợp hình phạt và các chế định khác liên quan đến hình phạt[12], tác giả cơ bảntán thành về cần giảm mức hình phạt đối với NCTN[13] để bảo đảm thể chế hóa chính sách nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong xử lý đối với NCTN phạm tội.
Thứ sáu, về rút ngắn thời hạn tố tụng, tác giả tán thành việc cần rút ngắn thời hạn tố tụng đối với vụ án có NCTN bị buộc tội theo hướng, thời hạn điều tra, thời hạn quyết định việc truy tố, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm không quá một phần hai thời hạn tương ứng được quy định tại BLTTHS, trừ trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, khắc phục bất cập trong thực tiễn thời gian qua, khi thời hạn tạm giam đối với NCTN đã hết, nhưng thời hạn tiến hành tố tụng vẫn còn dài và chưa kết thúc điều tra, truy tố, xét xử, thì phải trả tự do cho NCTN, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Thứ bảy, tuy nhiên, để hoàn thiện thêm Dự thảo Luật, bảo đảm thống nhất với quy định tại Điều 9 BLHS hiện hành[14], tạo thuận lợi cho Tòa án khi quyết định hình phạt, cũng như bảo đảm công bằng trong việc xử lý NCTN phạm tội, cần quy định đồng bộ về mức hình phạt đối với NCTN, không loại trừ 05 tội[15] như Điều 111 của Dự thảo Luật[16]. Ngoài ra, để Dự thảo Luật nhân đạo, nhân văn hơn, công bằng, khả thi hơn, hoàn thiện và đồng bộ hơn, cần: (1) quy định cả mức hình phạt thấp nhất có thể áp dụng đối với NCTN phạm tội; (2) cân nhắc tăng mức hình phạt chung trong trường hợp NCTN phạm nhiều tội hoặc có nhiều bản án cao hơn mức hình phạt cao nhất so với trường hợp NCTN chỉ phạm một tội; (3) rà soát thêm BLHS để sửa đổi một số quy định về hình phạt và các chế định liên quan đến hình phạt, chấp hành hình phạt như: khái niệm hình phạt, mục đích áp dụng hình phạt, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng[17]./.
 

[1] (1) Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chính phủ về thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự; (2) Luật Thi hành án hình sự.
[2] (1) Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi; (2) Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và NCTN; (3) Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng công an nhân dân.
[3] Ví dụ: hình phạt cảnh cáo.
[4] Ví dụ: không cho phép được tha tù đối với NCTN khi họ phạm tội 02 lần trở lên, nếu các tội đó của các em thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc là đồng phạm không đáng kể.
[5] (1) Thông tư liên tịch số 01/2022/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BLĐTBXH ngày 18/02/2022; (2) Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018; (3) Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; (4) Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
[6] Nghị định số 37/2018/NĐ-CP ngày 10/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự.
[7] Theo Bình luận chung số 10, thời hạn tạm giam đối với NCTN phạm tội không nên quá 06 tháng.
[8] Quy tắc Bắc Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không tiết lộ danh tính của NCTN vi phạm pháp luật nhằm ngăn ngừa sự miệt thị và cản trở quá trình phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng của NCTN.
[9] Tòa án nhân dân tối cao (2024), Báo cáo số 32/BC-TANDTC ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về tư pháp NCTN, tr.20-30.
[10] Theo Báo cáo số 32/BC-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật về tư pháp NCTN, trong 06 năm (từ năm 2018 đến năm 2023), cả nước chỉ có 35trường hợp NCTN được áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục (trung bình mỗi năm có khoảng 06 trường hợp).
[11] Theo quy định hiện hành, NCTN phạm tội nghiêm trọng có thể bị tạm giam tới 08 tháng, phạm tội rất nghiêm trọng có thể bị tạm giam tới 11 tháng.
[12]Nếu Quốc hội tán thành trong Luật Tư pháp NCTN có quy định mức hình phạt và tổng hợp hình phạt.
[13]Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội thì không quá 15 năm tù; đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội thì không quá 09 năm tù (giảm 03 năm so với quy định tương ứng của BLHS).
[14] Điều 9. Phân loại tội phạm
1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy him cho xã hội rất ln mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
[15] (1) Tội giết người; (2) Tội hiếp dâm; (3) Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; (4) Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; (5) Tội sản xuất trái phép chất ma túy.
[16]Vì các tội này gây bức xúc cho xã hội hay xảy ra nhiều hay đều có hình phạt cao nhất là tử hình hoặc tù chung thân hay cần xử lý nghiêm khắc hơn để răn đe, phòng ngừa hay còn vì lý do gì khác? Nếu vì những lý do này thì theo chúng tôi là:
- Còn thiếu 03 tội cũng có hình phạt cao nhất là tử hình được quy định trong BLHS hiện hành tại các điều: Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy;   Điều 299. Tội khủng bố.
- Còn thiếu 10 tội cũng có hình phạt cao nhất là tù chung thân được quy định trong BLHS hiện hành tại các điều: Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi; Điều 168. Tội cướp tài sản; Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Điều 171. Tội cướp giật tài sản; Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy; Điều 265. Tội tổ chức đua xe trái phép; Điều 303. Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.
[17] Điều 30. Khái niệm hình phạt
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.
Điều 31. Mục đích của hình phạt
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Việc sửa đổi các quy định của BLHS hiện hành như trên nhằm bảo đảm đồng bộ với các quy định mới trong Luật Tư pháp NCTN, sau khi được Quốc hội thông qua.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 17 (496), kỳ 1, tháng 9/2024)


Thống kê truy cập

40075402

Tổng truy cập